7.3. LA MÃ THỜI CỘNG HÒA (510-27 TR.CN)
7.3.3. La Mã trở thành một đế quốc ở khu vực Địa Trung Hải
Qúa trình bành trướng của La Mã diễn ra trong 2 thời kỳ: thời kỳ La Mã thống nhất bán đảo I-ta-li-a và thời kỳ vươn ra khống chế làm chủ khu vực Địa Trung Hải.
a. La Mã thống nhất bán đảo I-ta-li-a
Việc chinh phục bán đảo I-ta-li-a diễn ra trong một thời kỳ dài kể từ khi thành La Mã đƣợc thành lập vào khoảng năm 753 cho đến năm 264 TCN.
Vào khoảng năm 510 TCN người La Mã đã nỗi dậy khởi nghĩa lật đổ sự cai trị của các vua Ê-tơ-ru-x-cơ, tiếp đến họ mở nhiều cuộc tiến công vào lãnh thổ Ê-tơ-ru-x-cơ. Trận kịch chiến cuối cùng diễn ra ở thành Vê-i – thành phố nằm bên hữu ngạn sông Ti-bơ-rơ – quân La Mã đã liên tục vây hãm và tấn công thành trong suốt 10 năm (từ năm 406 đến 396 TCN). Cuối cùng thành Vê-i của người Ê-tơ-ru-x-cơ bị san phẳng, tất cả dân cư đều bị biến thành nô lệ.
Sau khi chiếm được những vùng đất của người Ê-tơ-ru-x-cơ ở phía bắc, La Mã bắt tay vào việc mở rộng lãnh thổ của họ xuống vùng đồng bằng La-ti- um. Sự chống đối của cộng đồng người La-tinh ở đây không đáng kể vì bản thân người La-tinh đồng tộc cũng mong muốn được hoà nhập với khối công dân La Mã.
Để vươn xuống vùng lãnh thổ miền trung I-ta-li-a, người La Mã đã phát động 3 chiến dịch lớn nhằm thôn tính vùng đất của người Sa-mit-e. Người Sa- mit-e tuy đã tìm cách liên minh với người Ê-tơ-ru-x-cơ và người Go-loa để chống lại người La Mã nhưng không thành công.
Tiếp đó La Mã mở rộng lãnh thổ của mình xuống phía nam, nhòm ngó các thành bang của Hy Lạp ở miền cực nam và trên đảo Xi-xin. Họ tiến hành những cuộc hành quân lớn, trong trận kịch chiến đẫm máu cuối cùng đã xảy ra ở Bê-nê-vent năm 275 TCN liên quân Ta-ren-t, E-pia thất bại hoàn toàn. Thành bang Ta-rent lọt vào tay người La Mã và các thành bang khác của người Hy Lạp ở nam I-ta-li-a cũng lần lượt bị họ chiếm đóng. Người La Mã đã làm chủ phần đất rộng lớn cuối cùng của bán đảo I-ta-li-a. Năm 275 TCN đƣợc coi là năm cuối cùng đánh dấu sự hoàn thành chinh phục toàn bộ I-ta-li-a của La Mã.
Thái độ của người La Mã đối với kẻ thù của họ là rất khôn ngoan. Người La Mã cho phép họ tổ chức quản lý nền hành chính địa phương, bảo hộ họ để chống lại các tộc người khác. Ngoài ra còn hưởng một số đặt quyền cũa công dân La Mã nhằm lôi kéo họ trung thành với dân tộc I-ta-li-a.
b. La Mã giành quyền bá chủ khu vực Địa Trung Hải
Nhờ chiếm đƣợc nhiều hải cảng quan trọng ở miền nam, học hỏi đƣợc kỷ thuật đóng thuyền của người Hy Lạp, lần đầu tiên La Mã đã xây dựng được lực lƣợng hải quân hùng hậu. Họ đã đóng đƣợc 120 chiến thuyền có trọng tải lớn và không ngừng bành trướng thế lực của mình.
Trong quá trình đó người La Mã đã gặp nhiều thế lực chống trả: ở phía tây Địa Trung Hải là thế lực của Các-ta-giơ, phía đông là những thế lực hùng mạnh của người Ma-kê-đô-nia, Xi-ri. Do vậy đã có nhiều cuộc chiến tranh lớn xảy ra giữa các thế lực đã và đang muốn làm bá chủ khu vực Địa Trung Hải: chiến tranh Pu-nic, chiến tranh giữa La Mã - Makêđônia và chiến tranh La Mã – X-iri.
+ Chiến tranh Pu-nic (264-146 TCN ).
Hình 24 : Chiến tranh Pu-nic
Nguồn : https://richardsonworldhistory.wikispaces.com/News+Story+- +The+Punic+Wars
Thành bang Các-ta-giơ (mũi đất Tu-nít thuộc bắc Phi) do người Phê-ni-xi thành lập, là một quốc gia thương nghiệp có nhiều thuộc địa ở Bắc Phi, ở Tây
Ban Nha, ở đảo Cor-se, đảo Sar-dai-g-ne… và một nửa đảo Xi-xin. Nhƣ vậy Các-ta-giơ sẽ không chỉ chống lại sự bành trướng của La Mã ở phía tây Địa
Trung Hải mà còn chống lại tham vọng làm bá chủ thế giới của La Mã.
Nguyên nhân trực tiếp làm bùng nổ chiến tranh Các-ta-giơ và La Mã (kéo dài 120 năm) là những biến động xảy ra trên đảo Xi-xin nơi mà cả La Mã và Các-ta-giơ đều đang mưu toan biến thành vùng lãnh thổ của riêng mình.
- Cuộc chiến tranh Pu-nic lần thứ nhất (264-241 TCN ): Năm 264 TCN đão Xi-xin nổ ra một cuộc tranh chấp có tính địa phương. Một phe cầu viện Rô Ma. Lập tức quân đội Rô Ma đổ quân và Cac-ta-giơ can thiệp. Trong cuộc chiến tranh này La Mã đã dùng một hạm đội đánh bại Các-ta-giơ buộc Các-ta-giơ xin
- Cuộc chiến tranh Pu-nic lần thứ hai (218-201 TCN) Sau khi bị thất bại, Các-ta-giơ tích cực luyện tập binh sĩ và đƣa một lực lƣợng quân đội hùng hậu sang Tây Ban Nha vốn là thuộc địa của mình để luyện tập. Tại đây họ tuyển mộ thêm binh lính bản địa để bảo sung cho quân đội và họ đã khai thác mỏ bạc dồi dào để tăng sức mạnh cho nền kinh tế.
Đội quân tinh nhuệ của Các-ta-giơ đóng ở Tây Ban Nha do tướng Ha-ni- bal chỉ huy đi lên phía bắc Tây Ban Nha vượt qua khu vực của người Gô-loa rồi tiến vào dãy núi An-pơ. Đường đi khó khăn, Ha-ni-bal phải mất rất nhiều sức lực mới đi đến vùng bắc I-ta-li-a uy hiếp La Mã. Năm 216 TCN đã xãy ra trận chiến quyết liệt ở Can-nes, nằm ở đông nam I-ta-li-a. Đây là một trận đánh điển hình. Quân La Mã đông gấp đôi quân Các-ta-giơ nhưng tướng Ha-ni-bal đã khéo léo bao vây và tiêu diệt hầu hết quân La Mã. Trong lịch quân sự thế giới, trận Can-nes là một kiểu mẫu quân sự chƣa từng thấy về mặt nghệ thuật quân sự . Ha-ni-bal giành đƣợc thắng lợi rực rỡ nhƣng ƣu thế chiến tranh vẫn thuộc về La Mã.
Để đối phó quân La Mã đƣa quân sang Tây Ban Nha, rồi tiến ra bắc phi đến tận Các-ta-giơ. Trước uy thế của quân La Mã, Các-ta-giơ đã nhanh chóng điều động quân đội của Ha-ni-bal từ I-ta-li-a về để chống cự nhƣng thế lực của La Mã đã vô cùng lớn mạnh, quân của Ha-ni-bal bị đánh bại ngay ở chân thành Cac-ta-giơ, La Mã chiến thắng hoàn toàn.
- Cuộc chiến tranh Pu-nic lần thứ ba: Năm 201 TCN viện cớ Các-ta-giơ vi phạm hiệp ƣớc, La Mã gởi hậu thƣ buộc Các-ta-giơ phải phá huỷ thành phố của họ, rời sâu vào nội địa ít nhất 15km cách bờ biển , từ bỏ nghề hàng hải, phải giao nộp toàn bộ chiến thuyền và đƣa 300 quí tộc Các-ta-gô sang La Mã để làm con tin. Những yêu cầu quá đáng của La đã buộc Các-ta-gô phải cầm vũ khí để tự vệ dù sức và lực có kém xa La Mã. Suốt hai năm kiên trì chống trả cuối cùng vào năm 146 TCN người Cactagô thất bại. La Mã tiến hành cuộc thảm sát tàn khốc trong suốt sáu ngày đêm. Thành Các-ta-gô, thành bang Cáctagô có lịch sử lâu đời và trù phú đã bị thiêu huỷ, bị La Mã xoá tên và trở thành một bộ phận thế giới La Mã. Thực chất của cuộc chiến thứ ba là La Mã phát động chiến tranh để tiêu diệt hoàn toàn sự cạnh tranh thương mại của Các-ta-giơ trên biển Địa Trung Hải.
+ Chiến tranh La Mã – Ma-kê-đô-nia (từ năm 214 đến năm 168 TCN) và chiến tranh La Mã- Xi-ri (từ năm 192 đến năm 198 TCN): giành quyền bá chủcủa La Mã ở đông Địa Trung Hải.
Hình 25: Chiến tranh La Mã_Ma-ke-đô-nia
Nguồn :http://en.wikipedia.org/wiki/File:Macedonia_and_the_Aegean _World_c.200.png
Chiến tranh La Mã – Ma-kê-đô-nia thật sự bắt đầu kể từ khi người Ai cập yêu cầu La Mã giúp đỡ để giành lại những đất đai ở hải ngoại của Ai cập bị Ma- kê-đô-nia xâm chiếm.
Trong suốt những năm từ 171 đến 168 TCN La Mã đã liên tục tổ chức những cuộc hành quân tấn công quyết liệt với dã tâm biến Ma-kê-đô-nia thành một tỉnh của đế chế La Mã. Năm 168 TCN người Ma-kê-đô-nia đại bại tại trận Pít-na (nam Ma-kê-đô-nia). Sau đó La Mã đã chia Ma-kê-đô-nia thành 4 vùng tự trị, không đƣợc liên hệ với nhau và cùng lệ thuộc vào La Mã. Cho tới năm 147 TCN Ma-kê-đô-nia mất cả quyền tự trị trở thành một tỉnh La Mã.
Thắng lợi của La Mã trước Ma-kê-đô-nia đã tạo điều kiện thuận lợi cho La Mã sát nhập Hy Lạp vào lãnh thổ của mình vào năm 146 TCN, Tiểu Á (133 TCN) Xi-ri (84 TCN), Ai Cập (30 TCN) kết thúc quá trình bành trướng của La Mã ở đông Địa Trung Hải biến Địa Trung Hải thành cái biển của riêng La Mã và các nước chung quanh Địa Trung Hải trở thành lệ thuộc hoặt là đồng minh của La Mã.
Hình 26: Chiến tranh La Mã – Xi ri
Nguồn:http://en.wikipedia.org/wiki/File:Asia_Minor_188_BCE.jpg 3.4. Sự phát triển kinh tế và chế độ chiếm nô của La Mã thời cộng hoà
a. Sự phát triển kinh tế
Thắng lợi của La Mã trong các cuộc chiến tranh đã đem lại cho La Mã những nguồn lợi khổng lồ: Quyền bá chủ trên vùng biển Địa Trung Hải, quyền đặt biệt ƣu đãi của các thuyền buôn La Mã trong các hải cảng; Vàng bạc, châu báu bất động sản như hầm mỏ, công trường khai thác, bến cảng, đồn điền và trang viên ở khu vực Địa Trung Hải đều bị nhà nước La Mã tịch thu; Tiền bồi thường chiến phí mà La Mã bắt các nước bại trận đã nộp là con số vô cùng lớn:
Các-ta-giơ phải nộp 3200 ta-lăng bạc (lần thứ 1), 10.000 ta-lăng vàng (lần 2), Ma-kê-đô-nia phải bồi thường 1.000 ta-lăng vàng và Xi-ri 15.000 talăng vàng;
Bắt một số lƣợng tù binh khổng lồ_ Đánh thắng Ta-ren-t, La Mã bán 30.000 nô lệ (lần thứ 1: 25.000 nô lệ, lần thứ 2: 20.000 nô lệ và lần thứ 3: 50.000 nô lệ), riêng chiến thắng ở Xac-đen, La Mã đã bắt đƣợc 80.000 tù binh ….
Những điều trên đã gây nên những biến động hết sức lớn lao và sâu sắc trong đời sống xã hội La Mã, tạo nên những tiền đề hết sức thuận lợi cho sự phát triển kinh tế của La Mã trong thời kỳ cộng hoà.
- Kinh tế nông nghiệp – La-ti-phun-đia
Mở rộng biên giới đã giúp cho nhà nước chiếm lĩnh nhiều vùng đất đai rộng lớn, tạo điều kiện cho việc tập trung cao độ ruộng đất vào tay giai cấp chủ nô trên cơ sở đó các điền trang lớn hay đại trại – La-ti-phun-đia xuất hiện.
La-ti-phun-đia là sở hữu đất trồng của chủ nô sử dụng sức lao động tập thể của nô lệ với phương thức sản xuất độc canh, do vậy muốn thiết lập La-ti-phun- đia phải có 2 điều kiện: tƣ hữu ruộng đất lớn và có đông đảo nô lệ.
Các La-ti-phun-đia lấy nông nghiệp làm hoạt động kinh tế chủ chốt. Tuy nhiên do điều kiện tự nhiên ở từng vùng việc kinh doanh nông nghiệp ở các La- ti-phun-đia cũng có sắc thái riêng _ trồng những loại cây có hiệu quả kinh tế cao nhất và cũng dễ đôn đốc giám sát nhất.
Tuyệt đại bộ phận các Latiphunđia đều trồng nho, ôliu, ép dầu và sản xuất rƣợu nho. Các La-ti-phun-đia ở phía nam I-ta-lia nơi có những đồng cỏ trù phú lại chủ yếu kinh doanh nghề chăn nuôi, còn ở đảo Xi-xin và Bắc Phi các La-ti- phun-đia lại chuyên trồng ngũ cốc.
Kinh tế La-ti-phun-đia mang 2 tính chất rõ rệt: kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá. Các La-ti-phun-đia không chủ yếu để sản xuất lương thực mà sản xuất những cây trồng phục vụ hoạt động kinh tế hàng hoá cho nên nông nghiệp La Mã vận hành trong quĩ đạo của nền kinh tế hàng hoá. Mặt khác công cụ sản xuất hầu nhƣ không có sự cải tiến vẫn phụ thuộc vào thiên nhiên và trồng trọt, chăn nuôi, công thương nghiệp vẫn cung ứng đủ cho nhu cầu tự cung tự cấp
Với phương châm sử dụng tới mức tối đa sức lao động của nô lệ và chi phí tới mức tối thiểu cho người lao động năng suất và hiệu quả kinh tế trong các La- ti-phun-đia vẫn không ngừng tăng lên tạo bước tiến mạnh mẽ cho sự phát triển toàn diện của nền kinh tế La Mã trong suốt thời cộng hoà.
La-ti-phun-đia là hình thái sản xuất cơ bản của nền kinh tế La Mã. Vận mệnh của nhà nước La Mã gắn liền với vận mệnh những đại trại La-ti-phun-đia:
khi các La-ti-phun-đia phát triển cực thịnh thì cũng là lúc nhà nước La Mã, văn minh La Mã phát triển đến đỉnh cao của nó, ngƣợc lại khi các La-ti-phun-đia suy yếu và tan rã đế quốc La Mã cũng đi vào giai đoạn khủng hoảng suy vong.
Do tƣ hữu ruộng đất đƣợc tập trung cao độ và nguồn nô lệ vô cùng dồi dào ở La Mã là hai điều kiện cần thiết để hình thành mô hình kinh tế La-ti-phun-đia. Do vậy, có thể nói trong lịch sử cổ đại kinh tế La-ti-phun-đia trở thành đặc trƣng của hoạt động kinh tế nông nghiệp của người La Mã.
- Thủ công nghiệp và thương mại
Kinh tế nông nghiệp chiếm vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của người La Mã, nhưng kinh tế thủ công nghiệp và thương mại của La Mã cũng rất phát triển và có tác dụng rất lớn thúc đẩy kinh tế nông nghiệp nói riêng và kinh tế La Mã nói chung.
Các xưởng thủ công ngày càng có xu hướng chuyên môn hoá. Ca-pu nổi tiếng trong trong sản xuất các thùng đựng dầu ôliu, rƣợu nho. Ê-tơ-ru-ria lại có những xưởng thủ công nổi tiếng trong nghề sản xuất các đồ dùng bằng đồng,
bằng sắt, còn các xưởng thủ công ở Mã Lai lại chuyên sản xuất áo choàng và giầy dép,...
Giới quý tộc chủ nô La Mã bao gồm cả thương nhân, kị sĩ đã tung tiền ra thiết lập nhiều xưởng sản xuất vũ khí đáp ứng nhu cầu khổng lồ của những cuộc chiến kéo dài hàng thế kỷ. Họ cũng lập xưởng thủ công làm các đồ dùng đồ trang sức mĩ nghệ bằng kim loại quý, thuộc da và sản xuất các đồ dùng bằng da, đáp ứng nhu cầu xa xỉ của tầng lớp chủ nô giàu có. Những xưởng thủ công chế biến dầu ôliu ép và làm rƣợu nho mọc lên ở khắp nơi, ngay cả trong các La-ti- phun-đia, ngoài ra còn có những xưởng thủ công đóng thuyền (thuyền chiến và thuyền buôn), những mỏ khai thác bạc (Tây Ban Nha đã sử dụng tới 40.000 nô lệ). Nhìn chung, thủ công nghiệp có nhiều tiến bộ đáng kể.
Tuy nhiên, hoạt động thủ công nghiệp La Mã thời kỳ này cũng còn nhiều hạn chế và mang tính 2 mặt rõ rệt. Một mặt có tính chất địa phương của nền kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc, sản xuất phục vụ chủ yếu cho nhu cầu của giai cấp chủ nô trong các điều trang và các thành phố, mặt khác những sản phẩm thủ công nghiệp cũng đƣợc tung vào quỹ đạo của nền kinh tế hàng hoá.
So với thủ công nghiệp, hoạt động thương mại ở La Mã lại có bộ mặt phồn thịnh hơn rất nhiều, bao gồm cả những hoạt động buôn bán của nhà nước và của tƣ nhân.
Hoạt động thương mại trở nên sầm uất không những lôi kéo tư thương, những người thuộc tầng lớp thượng lưu, những nông dân tự do khá giả có chút vốn liếng nhất định cũng tham gia. Thương mại nhất là ngoại thương đã diễn ra trên địa bàn khá rộng. Hàng xa xỉ từ Hy Lạp phương đông đổ về La Mã cung cấp cho quý tộc, chủ nô. Lúa mì từ phía tây, từ Bắc Phi vào, ngƣợc lại rƣợu vang La Mã có mặt hầu khắp Địa Trung Hải. Những trung tâm thương mại lớn hình thành đặc biệt ở phía đông , trong đó Đê-lốt là trung tâm buôn bán quan trọng nhất. Đê-lốt thật sự trở thành hải cảng quốc tế, có mặt các thương nhân của hầu hết các miền ven Địa Trung Hải. Họ bán hàng xa xỉ phẩm thủ công mĩ nghệ.
Việc buôn bán nô lệ cũng trở thành nghề phát đạt vì nhiều lợi nhuận. Đi sau những đội quân chinh chiến là những lái buôn nô lệ giàu có mua cả hoặc phần lớn tù binh. Đánh Ta-ren-tum, La Mã bán 30.000 tù binh nô lệ, sau 3 chiến dịch trong chiến tranh pu-nic, LaMã bán tổng cộng 95.000 tù binh nô lệ. Đặc biệt sau trận đánh chiếm Xac-đen, 80.000 tù binh bị biến thành nô lệ – Những chợ buôn bán nô lệ mọc lên ở mổi thành phố, chợ nô lệ lớn nhất ở vùng biển Địa Trung Hải là chợ nô lệ ở Đê-lốt (biển Ê-giê), A-e-vi-le (I-ta-li-a). Hầu nhƣ nô lệ tòan vùng phía đông Địa Trung Hải đƣợc trở đến Đê-lốp, A-e-vi-le ….. lại được đưa về các chợ địa phương. Nô lệ được bán như tất cả các hàng hóa khác…