Phạm vi nghiên cứu của bộ môn Phương pháp luận sử học Phạm vi nghiên cứu của phương pháp luận sử học mácxít rất rộng bao gồm nhiều vấn đề như: Đặc trưng của quá trình phản ánh hiện thực
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1 Phạm vi nghiên cứu của bộ môn Phương pháp luận sử học ……….1
2 Mục tiêu và những cơ sở biên soạn tài liệu Phương pháp luận sử học… 1
3 Bố cục và nội dung tài liệu Phương pháp luận sử học……… 1
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN SỬ HỌC 1.1 SƠ LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHƯƠNG PHÁP LUẬN SỬ HỌC……… 3
1.1.1 Vài nét về phương pháp luận của các khoa học nói chung……… 3
1.1.2 Sơ lược sự hình thành và phát triển của lí luận sử học trong lịch sử… 4
1.2 KHÁI NIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP PHƯƠNG PHÁP LUẬN SỬ HỌC MÁCXÍT……… 7
1.2.1 Khái niệm Phương pháp luận sử học mácxít……… 7
1.2.2 Sự cần thiết, phương pháp học tập và nghiên cứu Phương pháp luận sử học mácxít……….9
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ HIỆN THỰC LỊCH SỬ VÀ NHẬN THỨC
LỊCH SỬ XÃ HỘI 2.1 HIỆN THỰC LỊCH SỬ VÀ NHẬN THỨC HIỆN THỰC LỊCH SỬ……….12
2.1.1 Khái niệm Lịch sử ……….12
2.1.2 Hiện thực lịch sử và khả năng nhận thức của con người về hiện thực lịch sử……… 13
2.2 NHỮNG ĐIỂM CHUNG VÀ NHỮNG ĐIỂM KHÁC NHAU GIỮA ĐỐI TƯỢNG NHẬN THỨC
CỦA KHOA HỌC LỊCH SỬ VỚI CÁC KHOA HỌC KHÁC - LỊCH SỬ CỦA CHỦ THỂ HÓA………15
2.2.1 Những điểm chung và những điểm khác nhau giữa đối tượng nhận thức của khoa học lịch sử với các khoa học khác……… 15
2.2.2 Lịch sử của chủ thể hóa……… 17
CHƯƠNG 3 SỬ HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC 3.1 SỰ RA ĐỜI VÀ NHỮNG YÊU CẦU CỦA KHOA HỌC LỊCH SỬ……… …….20
3.1.1 Khái quát sự ra đời của khoa học lịch sử……… 20
3.1.2 Những yêu cầu của khoa học lịch sử……… 21
3.2 ĐỐI TƯỢNG, CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA KHOA HỌC LỊCH SỬ……….22
3.2.1 Đối tượng của khoa học lịch sử……… 22
3.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của khoa học lịch sử………26
Trang 4CHƯƠNG 4
MỘT SỐ QUAN ĐIỂM PHƯƠNG PHÁP LUẬN MÁCXÍT – LÊNINNÍT
VỀ NHẬN THỨC LỊCH SỬ 4.1 TÍNH KHOA HỌC VÀ TÍNH ĐẢNG TRONG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ………31
4.1.1 Khái niệm tính khoa học và tính đảng trong nghiên cứu sử học……….31
4.1.2 Nội dung của tính khoa học và tính đảng Cộng sản trong sử học mácxít………32
4.1.3 Sự thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học trong sử học mácxít….35 4.2 TÍNH KHÁCH QUAN VÀ TÍNH CHỦ QUAN TRONG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ……… ………… 37
4.2.1 Chủ nghĩa khách quan và chủ nghĩa chủ quan trong sử học tư sản… 37
4.2.2 Quan điểm mácxít về bản chất tính khách quan của lịch sử………… 42
4.3 TỪ HIỂU BIẾT SỰ KIỆN ĐẾN NHẬN THỨC QUY LUẬT LỊCH SỬ……… …… 44
4.3.1 Sự kiện lịch sử: tính hiện thực và nội dung của nó………44
4.3.2 Quan điểm của mácxít về phân loại sự kiện lịch sử……… 47
4.3.3 Vấn đề nhận thức quy luật lịch sử……… 49
4.4 PHƯƠNG PHÁP LỊCH SỬ VÀ PHƯƠNG PHÁP LÔGIC……… ……… 50
4.4.1 Nội dung và mối quan hệ giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic……….50
4.4.2 Những sai lầm của việc vận dụng không đúng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic trong công tác sử học……… 52
4.5 XỬ LÝ ĐÚNG ĐẮN MỐI QUAN HỆ GIỮA TÀI LIỆU, SỰ KIỆN VÀ KHÁI QUÁT LÝ LUẬN……… … 54
4.5.1 Vài nét về quan niệm của sử gia tư sản và sử gia mácxít về mối quan hệ giữa tài liệu, sự kiện và khái quát lý luận……….54
4.5.2 Trong nghiên cứu lịch sử, tài liệu sự kiện phải đạt 3 yêu cầu: tương đối đầy đủ - điển hình, chính xác và cùng một loại……….54
4.5.3 Đánh giá sự kiện……….55
4.5.4 Khái quát lý luận sự kiện về hiện thực lịch sử……… 56
4.6 XỬ LÝ QUAN HỆ GIỮA QUAN ĐIỂM LỊCH SỬ VÀ QUAN ĐIỂM GIAI CẤP TRONG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ………….57
4.5.1 Đánh giá nhân vật lịch sử……… 57
4.5.2 Sử dụng phương pháp so sánh……… 58
4.7 PHÂN KỲ LỊCH SỬ……… ……… 59
4.7.1 Ý nghĩa của việc phân kỳ lịch sử đối với công tác giảng dạy lịch sử…59 4.7.2 Những nguyên tắc lớn của việc phân kỳ lịch sử xã hội……….59
4.7.3 Tiêu chí phân kỳ lịch sử……….61
CHƯƠNG 5 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ 5.1 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… ………66
5.1.1 Những quan niệm về phương pháp nghiên cứu lịch sử……… 66
Trang 55.1.2 Sự cần thiết của phương pháp trong nghiên cứu lịch sử……… 67
5.1.3 Sự đổi mới và tính đa dạng, phong phú
của phương pháp nghiên cứu lịch sử……… 67
5.1.4 Một số nguyên tắc cơ bản khi vận dụng các phương pháp trong nghiên cứu lịch sử……… 70
5.2 TIẾN TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ……… …………71
5.1.1 Quan niệm về nghiên cứu khoa học……… 71
5.2.2 Tiến trình nghiên cứu khoa học……… 72
PHỤ LỤC NHỮNG VẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN SỬ HỌC TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 1 Phương pháp luận Hồ Chí Minh……… 82
2 Nội dung phương pháp luận Hồ Chí Minh về sử học……… 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….… 95
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Phạm vi nghiên cứu của bộ môn Phương pháp luận sử học
Phạm vi nghiên cứu của phương pháp luận sử học mácxít rất rộng bao gồm nhiều vấn đề như: Đặc trưng của quá trình phản ánh hiện thực trong lịch sử; Bản chất của khái niệm lịch sử, đặc trưng của việc hình thành các khái niệm; Các phạm trù triết học, kinh tế học và các khoa học khác có liên quan được sử dụng trong việc nghiên cứu lịch sử; Phép biện chứng của cái chung, cái riêng trong nhận thức lịch sử; Mối liên hệ giữa quá khứ và hiện tại, mối tương quan giữa cuộc cách mạng xã hội hiện nay và quá trình lịch sử v.v…
Trước phạm vi rộng lớn của phương pháp luận sử học như vậy, theo thiết kế của chương trình đào tạo, tài liệu chỉ tìm hiểu những vấn đề cơ bản nhất đó là các vấn đề về đối tượng, chức năng, nhiệm vụ, tính đảng của khoa học lịch sử, những quan điểm, cơ sở lý luận mácxít về phương pháp nghiên cứu lịch sử và vấn đề phân kỳ lịch sử
2 Mục tiêu và những cơ sở khi biên soạn tài liệu Phương pháp luận sử học
Mục tiêu của tài liệu Phương pháp luận sử học đảm bảo cho sinh viên đại học sư phạm ngành lịch sử đạt được trình độ cần thiết về lý luận sử học mácxít nhằm bảo vệ những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong giảng dạy lịch sử ở bậc trung học phổ thông Vì vậy khi biên soạn tài liệu Phương pháp luận sử học, tác giả dựa trên những cơ sở quan trọng sau: Đảm bảo tính chính xác khoa học và quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và giáo dục lịch sử
Tăng cường tính thực hành trong học tập, kiểm tra đánh giá và nghiên cứu khoa học
Phát huy tính tích cực của sinh viên trong học tập để nắm vững nội dung phương pháp luận sử học mácxít kết hợp với vận dụng vào dạy học ở bậc trung học phổ thông
Trong khi biên soạn, chúng tôi kế thừa thành tựu nghiên cứu trong nhiều chuyên khảo, giáo trình đại học sư phạm trong nước Trước hết là giáo trình
“Phương pháp luận Sử học” và giáo trình “Nhập môn Sử học” do giáo sư Phan Ngọc Liên (chủ biên) được NXB Đại học Sư phạm ấn hành năm 2003 và năm
2006
3 Bố cục và nội dung tài liệu Phương pháp luận sử học
Ngoài phần mở đầu, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung tài liệu Phương pháp luận sử học kết cấu 5 chương:
Chương 1 Khái luận về phương pháp luận sử học, bàn về lịch sử phát triển,
khái niệm, ý nghĩa và phương pháp học tập phương pháp luận sử học
Chương 2 Phương pháp luận về hiện thực lịch sử và nhận thức lịch sử xã
hội, bàn những nội dung: Hiện thực lịch sử tồn tại khách quan, là đối tượng nhận
thức của con người Tuy nhiên, do đặc điểm của đối tượng sử học mà việc nhận thức lịch sử có những nét riêng
Trang 7Chương 3 Sử học là một khoa học, cho thấy rằng, sự ra đời của khoa học
lịch sử trải qua một thời gian rất lâu dài Với tư cách là một khoa học, lịch sử có
đối tượng, nhiệm vụ và chức năng nghiên cứu
Chương 4 Một số quan điểm phương pháp luận Mácxít – Lêninnít về nhận
thức lịch sử, bàn đến những quan điểm cơ bản nhất của phương pháp luận sử học
mác xít
Chương 5 Một số vấn đề phương pháp nghiên cứu lịch sử, hướng dẫn cho
người học cách làm bài tập, báo cáo, khóa luận tốt nghiệp cử nhân lịch sử
Trước mỗi chương có phần tóm tắt nội dung cơ bản Trong mỗi chương chia thành nhiều mục lớn Cuối mỗi mục lớn có hệ thống câu hỏi hướng dẫn học tập Cuối mỗi chương có hệ thống câu hỏi học tập và hướng dẫn đọc tài liệu tham khảo
Chúng tôi mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của quý đồng nghiệp để tài liệu được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Trang 8CHƯƠNG 1 KHÁI LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN SỬ HỌC
“Phương pháp” là con đường nghiên cứu, con đường nhận thức lý luận, học thuyết, là hình thức tìm hiểu thấu đáo cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn của hiện thực khách quan, xuất phát từ những quy luật vận động của khách thể được nghiên cứu
Trong nghiên cứu khoa học nói chung phải luôn thực hiện trên cơ sở phương pháp Tuy nhiên phương pháp chưa quyết định đến kết quả nghiên cứu, kết quả nghiên cứu phụ thuộc phần lớn vào phương pháp luận
Vấn đề phương pháp luận nói chung, phương pháp luận sử học nói riêng đã
có từ thời cổ đại, trải qua quá trình phát triển của lịch sử, đến giữa thế kỷ XIX, khi chủ nghĩa Mác ra đời thì phương pháp luận mới có cơ sở lý luận để hoàn thiện và phát triển
Phương pháp luận là sự vận dụng các quan điểm triết học, lập trường tư tưởng của một giai cấp vào nhận thức và cải tạo thế giới
Giữa phương pháp luận và triết học không đồng nhất, vì triết học là cở sở lý luận chung cho mọi khoa học và triết học còn có chức năng thế giới quan Phương pháp luận mặc dù lấy triết học làm cơ sở, nhưng nó còn những vấn đề khác nữa như về nhận thức, về lôgic học, về nội dung của từng môn học cụ thể mà triết học không bàn đến
Giữa phương pháp luận sử học mácxít và duy vật lịch sử không đồng nhất bởi vì duy vật lịch sử là cơ sở lý luận của nhiều khoa học Phương pháp luận sử học mácxít không chỉ dựa trên cở sở lý luận duy vật lịch sử mà còn dựa trên toàn
bộ tri thức triết học và những tri thức có liên quan
Hiện nay phương pháp luận của chúng ta là sự vận dụng triết học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào nhận thức, cải tạo thế giới (học tập, giảng dạy
và nghiên cứu khoa học)
1.1 SƠ LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHƯƠNG PHÁP LUẬN SỬ HỌC
1.1.1 Vài nét về phương pháp luận của các khoa học nói chung
Vấn đề phương pháp luận nói chung đã có từ thời cổ đại Nó ra đời gắn liền với sự ra đời của bản thân các khoa học Bởi vì khoa học ra đời khi xã hội đã phân chia và có đối kháng giai cấp Trong xã hội đó, người nghiên cứu khoa học đương nhiên phải đứng về một giai cấp nào đó Khi nghiên cứu, nhà nghiên cứu bị chi phối bởi hệ tư tưởng, quyền lợi của giai cấp của họ Cụ thể: khi nghiên cứu khoa học, nhà nghiên phải trả lời những câu hỏi mang tính truyền thống của phương pháp luận:
Nghiên cứu cái gì (đối tượng)
Nghiên cứu để làm gì (chức năng)
Nghiên cứu như thế nào (phương pháp)
Trang 9Phương pháp luận của mỗi khoa học phải trải qua thời gian lâu dài mới hình thành nên hệ thống lý luận
1.1.2 Sơ lược sự hình thành, phát triển của lí luận sử học trong lịch sử
Những yếu tố của nhận thức lịch sử đã có từ lâu, từ lúc con người mới xuất hiện Sự nhận thức lịch sử phát triển theo trình độ nhận thức của con người, đặc biệt từ khi lịch sử trở thành một khoa học thì lý luận sử học cũng dần hình thành
và phát triển
Thời nguyên thủy:
Nhận thức lịch sử ở phương Đông và phương Tây đều mang tính chất thần
bí, tôn giáo, đó là những câu chuyện thần thoại, cổ tích, các truyền thuyết, lý luận
sử học chưa được thể hiện rõ ràng
Thời cổ đại:
Xã hội đã phân chia và có đối kháng giai cấp, chữ viết ra đời, lịch sử được ghi chép lại những sự việc đã xảy ra trong quá khứ Lúc bấy giờ sử học phản ánh những quan điểm, tư tưởng của bọn chủ nô phục vụ quyền lợi của giai cấp cầm quyền đối với nô lệ và các tầng lớp nhân dân khác Cụ thể:
- Ở phương Đông: Lý luận sử học được trình bày thông qua các loại hình văn học, các tư tưởng tôn giáo:
+ Ở Ấn Độ, lịch sử được thể hiện trong các bộ kinh Vêđa, kinh Upanisad, đặc biệt là hai bộ sử thi Ramayana và Mahabharata
+ Sử học cổ đại Trung Quốc dùng quan niệm thiện, ác để xem xét, đánh giá lịch sử, chưa có quan điểm lý luận sử học mang tính hệ thống Tư Mã Thiên dù đã đưa ra quan niệm nghiên cứu lịch sử là “nghiên cứu quan hệ giữa trời và người, để hiểu biết sự biến đổi xưa nay” vẫn chưa có hệ thống lý luận nghiên cứu lịch sử
- Ở phương Tây:
Nhà sử học Hêrôđốt (Ph Hérodote, khoảng 484 – 425 TCN) với tác phẩm
“Cuộc chiến tranh Hy Lạp – Ba Tư”, Ông đưa ra quan điểm viết sử theo chủ đề (chiến tranh, tiểu sử) và cố gắng đi sâu giải thích bản chất, nguyên nhân sự kiện Tuy nhiên, quan niệm về lịch sử của các sử gia thời cổ đại phương Tây còn hạn chế như: xem nhận thức lịch sử chủ yếu là việc thu nhận sự kiện quá khứ, làm cho mọi người nhớ lại thời đã qua, xem lịch sử là một loại hình nghệ thuật, như thơ ca, nhạc, nhảy múa Tin vào số mệnh, vào sự can thiệp, ảnh hưởng của các lực lượng siêu nhiên đến đời sống xã hội loài người
Thời trung đại:
Lý luận sử học có bước tiến mới làm cơ sở cho sự phát triển nghiên cứu lịch
sử
- Ở phương Đông:
+ Sử học Trung Quốc có bước tiến lớn trong tác phẩm “Sử Thông” của Lưu Tri Ký (661 – 721) thời Đường đã nêu lên hệ thống lý luận và phương pháp sử học Ông xác định: Mục đích nghiên cứu lịch sử không chỉ khuyên răn điều thiện, ngăn ngừa điều ác mà còn biết sử dụng lịch sử vào những việc cấp bách của đời sống con người Ông phản đối việc giải thích sự hưng vong của các triều đại, đất nước, sự thành bại của con người dựa vào mệnh và vận Ông phân kỳ lịch sử
Trang 10thành các giai đoạn: “thượng cổ”, “trung cổ” và “cận cổ”, đề ra tư cách của người làm sử phải có “tài”, “học”, và “tri thức”
- Ở phương Tây:
Thời trung đại bị đắm chìm trong “Đêm trường trung cổ”, sử học trở thành
nô lệ của thần học, mọi việc diễn ra trong xã hội đều do ý chúa Các biên niên sử thời kỳ này thể hiện quan điểm “lịch sử diễn ra dưới trần gian đều do kế hoạch và
ý định của chúa vạch ra”
Từ quan niệm về lịch sử như trên, phương pháp nghiên cứu, học tập lịch sử cũng được thể hiện chủ yếu ở thể loại kể chuyện cổ tích nhằm gây hứng thú cho người đọc, người nghe Vipênarô (Vipenaro) trong quyển “Sách dạy cách viết sử” khuyên người viết và người học lịch sử “cần tránh và loại ra khỏi câu chuyện của mình những điều gây nên sự bực bội và kinh hãi”
Thời cận đại:
Cùng với sự phát triển của bản thân lịch sử xã hội trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, sự nhận thức về lịch sử dần dần có cơ sở lý luận một cách có hệ thống Nhiều vấn đề lý luận lịch sử được đề ra và giải quyết như tính chất, đặc điểm của đối tượng sử học, vấn đề nhận thức quy luật của quá trình lịch sử
- Ở phương Tây:
Nhà triết học Italia Giôvanni Battista Vicô (Giovanni Battista Vico, 1668 – 1744), trong tác phẩm “Về nguyên lý khoa học mới có tính chất chung của các dân tộc”, Ông cho rằng, quá trình phát triển cụ thể của lịch sử các dân tộc tuy có những điểm khác nhau, nhưng đều trải qua các thời đại: từ “thuở ấu thơ” là thời của các thần thống trị qua “thời đại anh hùng” của thời thanh niên do đại quý tộc thống trị và đến “thời đại người thường” của thời tráng niên, tức thời kỳ quân chủ lập hiến hoặc nền chính trị dân chủ cộng hòa Tuy sự phân kỳ này không có cơ sở khoa học, nhưng đã nêu được quy luật của sự phát triển xã hội và đề cập một cách
có hệ thống các vấn đề lý luận về con đường nhận thức và phương pháp nghiên cứu sử học
Thế kỉ XVII – XVIII, các nhà Khai sáng châu Âu đã chống lại quan niệm thần học về “thiên mệnh”, sự “mầu nhiệm” trong lịch sử và xem lịch sử xã hội là lịch sử của con người phát triển theo quy luật tự nhiên Hecđơ (Johann Gottfried Herder, 1744 - 1803), nhà khai sáng Đức viết: “ Lịch sử là khoa học về những gì
đã xảy ra trong thực tế, chứ không phải là những gì có thể xảy ra theo những đường nét huyền bí của số mệnh”
Trên cơ sở tư tưởng về quy luật tự nhiên của lịch sử, các nhà sử học phái Khai sáng đã xem “lịch sử phát triển như sự đi lên từ thấp đến cao, không hề nghiêng ngã” (Côngđocxê- Congdoocxe), “Lịch sử là lịch sử toàn diện, chứ không phải chỉ có lịch sử chính trị” (Vônte - Voltaire; tên thật: François Marie Arouet;
1694 - 1778), “hoàn cảnh địa lý và xã hội có ảnh hưởng đến con người” (Mông texkiơ - Charles Louis Montesquieu; 1689 - 1755) v.v… Những quan điểm này đánh dấu bước phát triển tiến bộ trong lịch sử sử học
Triết lý lịch sử của phái duy tâm cổ điển Đức (nửa sau thế kỷ XVIII) là bước tiến của tư duy lý luận sử học Phái này xem động lực của sự phát triển xã hội là nhân tố bên trong, hợp quy luật Tuy nhiên, họ lại cho rằng, động lực đó không
Trang 11phải ở bản thân lịch sử mà do sự tác động từ bên ngoài của “tinh thần tuyệt đối”,
“ý niệm thế giới” Hê Ghen (Georg Wilhelm Friedrich Hegel; 1770 – 1831), là đại biểu của phái duy tâm cổ điển Đức
Thế kỷ XVIII, nhà sử học Trung Quốc Chương Ngọc Thành trong tác phẩm
“Văn sử thông nghĩa” đã khẳng định học tập lịch sử phải nắm cho được ý nghĩa của sự thực lịch sử (sử nghĩa) Trong một tác phẩm sử học phải có 3 phần khăng khít với nhau:
Quần chúng nhân dân là nhân tố quyết định sự phát triển của lịch sử
Đấu tranh giai cấp là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội
Lịch sử xã hội loài người là sự phát triển nối tiếp nhau của các phương thức sản xuất
Với những quan điểm trên, chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác đã cho chúng ta kim chỉ nam để tìm ra những quy luật trong tình trạng rối rắm và hỗn độn vẻ bề ngoài của xã hội Nhờ vậy sử học mác xít vượt lên, mở ra con đường nhận thức lịch sử một cách đúng đắn cho nhân loại (Quan điểm chủ yếu của chủ nghĩa duy vật lịch sử được thể hiện rõ trong 5 chương tiếp sau của tài liệu phương pháp luận sử học này)
Tóm lại, phương pháp luận ra đời cùng với sự xuất hiện của khoa học Nó gắn liền với sự hình thành và phát triển của sử học Phương pháp luận sử học cũng như bản thân nền sử học nói chung gắn liền với một giai cấp, với thời đại sản sinh
ra nó, chịu sự chi phối của những quan điểm tư tưởng, lập trường, quyền lợi của giai cấp, thời đại Lịch sử hình thành và phát triển của lý luận sử học qua các thời
kỳ lịch sử, nổi lên những quan điểm, những cuộc đấu tranh tư tưởng, học thuật về
Trang 12nhiều vấn đề cơ bản của phương pháp luận Sử học mácxít xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, đã có những phương pháp luận tiến bộ, góp phần vào sự phát triển nhận thức lịch sử của nhân loại Trong thế giới ngày nay, cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước, đứng vững trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, sử học Việt Nam đang đổi mới để phát triển mạnh hơn
Câu hỏi ôn tập
1 Dựa vào đâu để nói rằng, phương pháp luận ra đời từ thời cổ đại?
2 Chỉ ra những điểm cơ bản của sự phát triển lý luận sử học qua từng thời kỳ của lịch sử nhân loại (cổ đại, trung đại, cận đại ở cả phương Tây và phương Đông)
3 Vì sao nói chủ nghĩa Mác ra đời (giữa thế kỷ XIX) đã khai sinh ra một nền sử học thực sự chân chính?
1.2 KHÁI NIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP PHƯƠNG PHÁP LUẬN SỬ HỌC MÁCXÍT
1.2.1 Khái niệm “Phương pháp luận sử học mácxít”
a Khái niệm “Phương pháp”
Theo định nghĩa của Bách khoa toàn thư triết học Liên Xô thì: “Phương pháp” có gốc từ chữ Hy Lạp là “Methodos”, nghĩa là con đường nghiên cứu, con đường nhận thức lý luận, học thuyết, là hình thức tìm hiểu thấu đáo cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn của hiện thực khách quan, xuất phát từ những quy luật vận động của khách thể được nghiên cứu Phương pháp là một hệ thống các nguyên tắc điều khiển hoạt động cải tạo hiện thực hay hoạt động nhận thức lý luận của con người
Từ khái niệm trên, phương pháp có những điểm cần lưu ý:
- Phương pháp có nguồn gốc từ trong hoạt động thực tiễn, là sản phẩm của
sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể
- Phương pháp đúng là sự phản ánh chính xác các quy luật khách quan của thế giới, xác định được các đặc điểm, quy luật của đối tượng nghiên cứu
- Qua thực tiễn, phương pháp được kiểm nghiệm đúng hay sai Những phương pháp sai bị loại bỏ, còn phương pháp đúng được bảo vệ và phát triển
- Phương pháp có hai bộ phận: phương pháp nhận thức và phương pháp hành động
- Không có phương pháp trừu tượng chung chung, mà phải gắn liền với đối tượng cụ thể
- Phương pháp bao giờ cũng gắn với tính hiệu quả “Thiếu phương pháp thì người tài cũng không thể đạt đến kết quả Có phương pháp thì người tầm thường cũng làm được việc phi thường Phương pháp như ngọn đèn soi sáng cho người đi trong đêm tối”
Trang 13Như vậy, trong nghiên cứu khoa học nói chung phải luôn được thực hiện trên cơ sở phương pháp Tuy nhiên phương pháp chưa quyết định đến kết quả nghiên cứu, kết quả nghiên cứu phụ thuộc phần lớn vào phương pháp luận
b Khái niệm “Phương pháp luận”
Khái niệm phương pháp luận có từ thời cổ đại Lúc bấy giờ, các nhà sử học
đã đặt ra những yêu cầu khi viết sử, phải đảm bảo tính chân thực và đưa ra những quan điểm thuộc về phương pháp luận như: Nghiên cứu lịch sử để làm gì Trên cơ
sở nguồn sử liệu nào Nhiệm vụ của sử học là gì
Ở thời cổ đại và trung đại, các nhà sử học đã cố gắng nhận thức và giải quyết các vấn đề trên, đã thúc đẩy cho sử học phát triển ngày càng cao Tuy nhiên, mãi đến thế kỷ XVII – XVIII, các nhà lý luận về phương pháp mới xuất hiện, và muộn hơn, đến cuối thế kỷ XIX, khái niệm “Phương pháp luận” mới dần ổn định
về nội hàm
Khái niệm “Phương pháp luận” dịch từ thuật ngữ “Methodology” của ngôn ngữ nhiều nước châu Âu Thuật ngữ Methodology được ghép bằng hai từ của Hy Lạp là Methodos và Logos Methodos = phương pháp và logos = lý luận Methodos + Logos = phương pháp luận Như vậy, Phương pháp luận = lý luận về phương pháp hay khoa học tổng hợp về phương pháp
Khái niệm:
K.G Pêtơralep (K.G Petoralep - Liên Xô cũ) định nghĩa: “Phương pháp luận là một hệ thống những dạng bản chất của thế giới quan và lý luận (hay một loạt lý luận) quy định các nguyên tắc nghiên cứu khoa học lịch sử”
Các tác giả “Bách khoa toàn thư triết học Liên Xô” định nghĩa: “Phương pháp luận là một học thuyết triết học về các phương pháp luận nhận thức và cải tạo hiện thực, là sự vận dụng những nguyên lý của thế giới quan vào quá trình nhận thức, vào sự sáng tạo tinh thần nói chung và vào thực tiễn”
Từ những định nghĩa trên về phương pháp luận, có thể hiểu: Phương pháp
luận là sự vận dụng các quan điểm triết học, lập trường tư tưởng của một giai cấp vào nhận thức và cải tạo thế giới
Quá trình hình thành phương pháp luận khoa học được hoàn chỉnh với việc hình thành chủ nghĩa duy vật biện chứng Bởi vì, triết học mácxít là phương pháp luận phổ biến, đúng đắn của các khoa học Phương pháp luận duy vật biện chứng của triết học mácxít là kim chỉ nam cho quá trình nhận thức sáng tạo, sinh động và cho việc cải tạo thế giới một cách phù hợp với các quy luật của nó
c Sự khác nhau và mối quan hệ giữa triết học và phương pháp luận
Giữa phương pháp luận và triết học không đồng nhất, vì triết học là cở sở lý luận chung cho mọi khoa học và triết học còn có chức năng thế giới quan Phương pháp luận là một lĩnh vực khoa học độc lập, mặc dù nó lấy triết học làm cơ sở nhưng nó còn những vấn đề khác nữa như về nhận thức, về lôgic học, về nội dung của từng môn học cụ thể mà triết học không bàn đến
Phương pháp luận được chia thành 4 loại:
Phương pháp luận chung cho mọi khoa học
Phương pháp luận chung cho khoa học xã hội
Trang 14Phương pháp luận chung cho khoa học tự nhiên
Phương pháp luận của từng khoa học
Phương pháp luận mácxít: là sự vận dụng những quan điểm triết học Mác –
Lênin vào nhận thức, nghiên cứu khoa học Đối với chúng ta, đây là phương pháp luận chung cho mọi khoa học
Phương pháp luận sử học: là sự vận dụng những quan điểm triết học vào
nhận thức, nghiên cứu lịch sử
Phương pháp luận sử học mácxít: là sự vận dụng những quan điểm triết học
Mác – Lênin vào học tập, giảng dạy và nghiên cứu lịch sử
Giữa phương pháp luận sử học mácxít và duy vật lịch sử không đồng nhất Bởi vì duy vật lịch sử là cơ sở lý luận của phương pháp luận của nhiều khoa học Phương pháp luận sử học mácxít không chỉ dựa trên cở sở lý luận duy vật lịch sử
mà còn dựa trên toàn bộ tri thức triết học và những tri thức có liên quan
Hiện nay phương pháp luận của chúng ta là sự vận dụng triết học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào nhận thức, cải tạo thế giới (học tập, giảng dạy
và nghiên cứu khoa học)
1.2.2 Sự cần thiết, phương pháp học tập và nghiên cứu Phương pháp luận sử học mácxít
a Sự cần thiết phải học tập Phương pháp luận sử học mácxít
Trong khoa học lịch sử, phương pháp luận sử học có vai trò hướng dẫn nghiên cứu lịch sử (nội dung khoa học và phương pháp nghiên cứu) cũng như trong dạy học lịch sử Không nắm được phương pháp luận sử học, các nhà nghiên cứu sẽ mất phương hướng hoạt động, không có khả năng giải quyết những vấn đề lịch sử đặt ra
Trong thực tiễn, các sử gia tư sản không ngừng xuyên tạc sự kiện lịch sử và
mở rộng các chiến dịch trực tiếp hoặc gián tiếp chống những cơ sở lý luận, nhận thức lịch sử của sử học mácxít Do đó, để bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, cơ sở của phương pháp luận sử học mácxít, chúng ta cần đi sâu nghiên cứu và vận dụng sáng tạo những nguyên lý của triết học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về lịch sử
b Phương pháp học tập, nghiên cứu Phương pháp luận sử học mácxít
Muốn học tập phương pháp luận sử học mácxít phải nắm vững kiến thức triết học Mác – Lênin, quan điểm đường lối của Đảng ta và tư tưởng Hồ Chí Minh
có liên quan đến nội dung của nó Đây là điều kiện tiên quyết để học tập tốt phương pháp luận sử học Như đã trình bày ở trên, do không được đồng nhất triết học và phương pháp luận nên chúng ta không thể dừng lại ở việc học thuộc lòng một số vấn đề về nguyên lý, nguyên tắc của triết học Mác – Lênin mà phải vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào nội dung học tập Bao giờ người học về phương pháp luận sử học cũng phải đặt vấn đề “Cơ sở lý luận – tư tưởng của vấn đề này là gì?”
“Những vấn đề triết học Mác – Lênin, quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh được vận dụng như thế nào để hiểu biết vấn đề phương pháp luận?” “Nội dung cụ thể của vấn đề phương pháp luận sử học đang học là gì?”
Ngoài cơ sở triết học, quan điểm của Đảng ta, cần hiểu rõ những kiến thức lịch sử cụ thể chính xác Bởi vì không nắm vững sự kiện lịch sử cần biết thì chỉ
Trang 15nắm các vấn đề phương pháp luận một cách chung chung, công thức về duy vật lịch sử Sự nhận thức lý thuyết bao giờ cũng gắn với thực tiễn Việc học tập và vận dụng các kiến thức phương pháp luận sử học để giải quyết trong nhận thức những vấn đề lịch sử là yêu cầu của việc học gắn với hành, lý luận đi đôi với thực tiễn
Để việc nhận thức các vấn đề phương pháp luận một cách sâu sắc có kết quả, cần phải đọc tài liệu tham khảo cần thiết, nắm vững nội dung cơ bản, suy nghĩ tiến hành các cuộc trao đổi riêng, tổ chức xêmina, vận dụng vào việc giải quyết các vấn đề lịch sử cụ thể bằng thuyết trình hay tập viết v.v…
Câu hỏi ôn tập
1 Thế nào là phương pháp, phương pháp luận? Hãy giải thích những khái niệm đó?
2 Chỉ ra sự khác nhau và mối liên hệ giữa: phương pháp luận và triết học; giữa phương pháp luận sử học mácxít và duy vật lịch sử
3 Hãy giải thích những khái niệm: phương pháp luận mácxít; phương pháp luận sử học; phương pháp luận sử học mácxít và phương pháp luận của chúng ta hiện nay
4 Nêu phạm vi nghiên cứu của phương pháp luận sử học mácxít
5 Vì sao phải học phương pháp luận sử học mácxít? Để học tốt phương pháp luận sử học mácxít, chúng ta phải làm gi?
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1
Anh (chị) hãy trình bày những điểm cơ bản về phương pháp luận của các khoa học nói chung
Anh (chị) nêu những nét chính về sự hình thành và phát triển của lí luận sử học trong lịch sử
Anh (chị) trình bày nội hàm các khái niệm “phương pháp”, “phương pháp luận” theo quan niệm mácxít và tư sản
Anh (chị) xác định phương pháp học tập như thế nào cho có hiệu quả? Dẫn chứng cụ thể một vấn đề nhận thức về bộ môn lịch sử
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bách khoa toàn thư Liên Xô, tập 3 Tiếng Nga, trang 420
Phan Ngọc Liên (chủ biên) 2003 Phương pháp luận sử học Hà Nội: NXB Đại học Sư phạm Tham khảo chương I “Khái luận về phương pháp luận sử học”
Trang 16Phan Ngọc Liên – Trần Vĩnh Tường 1995 Giáo trình Lịch sử sử học thế giới Huế: NXB Đại học Huế - Trung tâm đào tạo từ xa Tham khảo chương I:
“Sử học thời Cổ đại”; chương II “ Sử học trong thời kỳ phong kiến”; chương III
“Sử học thời Cận đại” từ trang 6 đến trang 33
Trang 17CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ HIỆN THỰC LỊCH SỬ VÀ NHẬN
THỨC LỊCH SỬ XÃ HỘI
Khái niệm “ Lịch sử” theo sử gia mácxít bao hàm:
Thứ nhất, lịch sử chính là quá trình hiện thực khách quan của xã hội loài
người đã từng tồn tại trong quá khứ, tức là lịch sử của hiện thực khách quan Thứ hai, lịch sử chính là sự nhận thức của con người qua các nguồn sử liệu
Thứ ba, chỉ môn khoa học lịch sử theo quan điểm mácxít, chính là môn khoa học nghiên cứu các hiện tượng lịch sử đã xảy ra trong xã hội loài người và phát
hiện ra quy luật phát sinh phát triển của nó
Hiện thực lịch sử là cái đã qua, đã từng tồn tại, có thể “hiện không có” nhưng lại “hiện có” Nó hiện có trong các di vật, di tích lịch sử, trong đời sống văn hóa vật chất, tinh thần, trong phong tục tập quán của mỗi địa phương, dân tộc,… Hiện thực lịch sử là đối tượng nhận thức của khoa học lịch sử Các nhà sử học hoàn toàn có khả năng nhận thức được hiện thực lịch sử và tiếp cận đến chân
lý khách quan
Đối tượng nhận thức của khoa học lịch sử vừa có điểm chung với đối tượng các khoa học khác như tồn tại khách quan, chịu sự chi phối bởi những quy luật chung nhất của thế giới vật chất, nhưng đối tượng của khoa học lịch sử lại có những điểm khác biệt: sự vận động của xã hội loài người là do hoạt động có ý thức của con người quyết định; sự vận động của xã hội loài người không lặp lại trong thời gian, không gian; hiện thực quá khứ xã hội loài người không thể tái
tạo, không thể thí nghiệm
Lịch sử khách thể chính là hiện thực lịch sử tồn tại khách quan đã từng xảy
ra trong quá khứ một lần duy nhất không lặp lại Lịch sử của chủ thể hóa là sự nhận thức của con người về lịch sử khách thể Vì vậy, giữa chúng có mối liên hệ giữa thực tế và phản ánh, giữa ăn khớp và tách rời, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không thể giống nhau hoàn toàn
2.1 HIỆN THỰC LỊCH SỬ VÀ NHẬN THỨC HIỆN THỰC LỊCH SỬ 2.1.1 Khái niệm “Lịch sử”
Lịch sử theo tiếng Hy Lạp là Historie = người thẩm vấn; Histore = người
quan sát; Historeo = nghiên cứu, tìm hiểu, hỏi han
Lịch sử theo tiếng Latinh là Historia = sự quan sát trực tiếp và thông tin về
sự quan sát đó
Theo những nghĩa trên thì lịch sử là kể lại, thuật lại những điều đã chứng
kiến và nghe người ta kể lại Như vậy, lịch sử đồng nghĩa với quá khứ (đã qua)
Khái niệm lịch sử rất phong phú như lịch sử vũ trụ, lịch sử trái đất, lịch sử toán học, lịch sử vật lý, lịch sử xã hội loài người… ở đây chỉ nghiên cứu lịch sử
xã hội loài người
Lịch sử xã hội loài người là bản thân hiện thực xã hội loài người đã từng xảy
ra trong quá khứ
Trang 18Như vậy thì hàm nghĩa của khái niệm “ lịch sử” là:
Thứ nhất, lịch sử chính là quá trình hiện thực khách quan của xã hội loài người trước đây hoặc lịch sử của những sự kiện, hiện tượng, nhân vật đã từng tồn
tại trong quá khứ, tức là lịch sử của hiện thực khách quan
Thứ hai, lịch sử chính là sự nhận thức của con người qua các nguồn sử liệu, thể hiện kết quả của sự nhận thức lịch sử, tức là lịch sử của chủ thể đối với việc
dựng lại quá khứ lịch sử khách quan có thực mà nay không còn nữa
Thứ ba, chỉ môn khoa học lịch sử theo quan điểm mácxít, chính là môn khoa học nghiên cứu các hiện tượng lịch sử đã xảy ra trong xã hội loài người và phát
hiện ra quy luật phát sinh phát triển của nó
Trong thực tế, cả ba nội dung nói trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, bởi vì: không có “hiện tượng lịch sử” thì không có “nhận thức lịch sử”, mà không có nhận thức lịch sử thì lịch sử là ẩn số, là bí hiểm, con người không biết gì về quá
khứ
2.1.2 Hiện thực lịch sử và khả năng nhận thức của con người về hiện thực lịch sử
a Hiện thực lịch sử
Hiện thực lịch sử có tồn tại hay không? Dựa vào cách trả lời câu hỏi này,
chúng ta phân biệt được sử gia tư sản hay sử gia mácxít
* Quan niệm của sử gia tư sản
Các nhà sử học theo trường phái chủ quan cho rằng: hiện thực lịch sử không tồn tại và nếu hiện thực lịch sử có tồn tại thì đó chỉ là sản phẩm chủ quan của các nhà sử học, không bao giờ có hiện thực lịch sử khách quan (Beccơli - A George Berkeley; 1685 - 1753; Hium - David Hume; 1711 – 1776; …)
Họ giải thích rằng: vì những con người của thời đại cũ đã chết đi không bao giờ trở lại, cho nên khái niệm lịch sử của chúng ta không thể là cái phản ánh về quá khứ không tồn tại, mà chỉ là sự phản chiếu những quan điểm khát vọng của riêng ta về cái đã qua Do đó, nội dung kiến thức lịch sử hoàn toàn có tính chất
chủ quan của nhà sử học, chứ không hề có chân lý khách quan
Các nhà sử học theo trường phái khách quan thừa nhận hiện thực lịch sử có tồn tại, nhưng nó tồn tại trong ý chí của thượng đế hay của “ý niệm tuyệt đối”,
“tinh thần thế giới” chứ không phải là tồn tại trong thực tế (Platôn - Platôn; 427 -
347 TCN; Hêghen - Georg Wilhelm Friedrich Hegel; 1770 - 1831…)
Như vậy, mặc dù biểu hiện dưới những hình thức khác nhau, nhưng điểm chung của các trường phái sử học tư sản là đều không thừa nhận sự tồn tại khách
quan của hiện thực lịch sử
* Quan điểm của sử học mácxít
Khẳng định rằng, xã hội loài người là một bộ phận của thế giới vật chất, là
sự tiếp tục của lịch sử quả đất trước khi có con người và xã hội loài người xuất hiện Vì vậy, nó là một hiện thực khách quan, tồn tại như giới tự nhiên, là đối
tượng nhận thức của sử học
Để hiểu “quá khứ” một cách chính xác, khoa học, cần phải phân biệt hai
khái niệm “tồn tại” và “hiện có”
Trang 19Khái niệm “tồn tại” có nội hàm rộng hơn khái niệm “hiện có” “Hiện có” chỉ cái đang tồn tại và chuẩn bị cho cái tương lai ra đời và khi đó hiện tại sẽ trở thành quá khứ “Tồn tại” là cái “có thực”, đối lập với “cái không tồn tại”, “cái không có thực” “Cái tồn tại” bao gồm tất cả cái gì “đã có”, “đang có” và “sẽ có” Cái thực không phải chỉ là cái hiện có Cái “hiện có” là giai đoạn cao, đầy đủ của hiện thực tiếp tục cái “đã có” và làm cơ sở cho cái “sẽ có” Tất cả đều là cái có thực Vì vậy,
“cái hiện không có” không phải không tồn tại, mà nó đã tồn tại (hoặc sẽ ra đời trên cơ sở cái đã có) Vả lại, “quá khứ” theo đúng nghĩa của từ ấy là cái gì đã qua
và như vậy là nó không tồn tại nữa Song thực ra, cái quá khứ “không còn tồn tại”
ấy vẫn tồn tại trong lịch sử, trong hiện tại Dù những con người làm nên quá khứ
đã mất và không bao giờ sống trở lại, nhưng họ đã chuẩn bị cho hiện tại ra đời Hiện tại tiếp tục, duy trì quá khứ và phát triển cao hơn theo quy luật khách quan của lịch sử Hơn nữa, quá khứ để lại những di vật chứng thực một thời đại đã tồn tại, nhưng nay đã qua Những di vật này không phải là toàn bộ quá khứ, mà chỉ là những “mảnh” của quá khứ, xác nhận sự tồn tại thực của hiện thực đã qua Những
di vật ấy là nguồn tài liệu rất quý, góp phần vào việc khôi phục lại lịch sử một cách chính xác (như trường hợp các di vật khảo cổ) Quá khứ còn tồn tại trong đời sống tinh thần, xã hội; nó tạo nên truyền thống tốt đẹp của dân tộc, phát huy sức
mạnh to lớn trong cuộc đấu tranh hiện tại
Tóm lại, sử học mácxít khẳng định hiện thực lịch sử tồn tại khách quan
Hiện thực lịch sử là cái đã qua, đã từng tồn tại, có thể “hiện không có” nhưng lại “hiện có” Vậy nó hiện có ở đâu? Nó hiện có trong các di vật, di tích lịch sử, trong đời sống văn hóa vật chất, tinh thần, trong phong tục tập quán của mỗi địa phương, dân tộc, trong mọi con người… Hiện thực lịch sử tồn tại khách
quan, nó có thực
b Khả năng nhận thức của con người về hiện thực lịch sử
Con người có khả năng nhận thức được hiện thực lịch sử hay không?
Quan điểm của sử học mácxít trước sau như một khẳng định rằng, hiện thực lịch sử tồn tại khách quan, nó có thực, nên hiện thực lịch sử là đối tượng nhận thức của khoa học lịch sử Các nhà sử học hoàn toàn có khả năng nhận thức được
hiện thực lịch sử và tiếp cận đến chân lý khách quan
Quan niệm của các nhà sử học tư sản nói chung (khách quan và chủ quan) phủ nhận hiện thực lịch sử nên họ kết luận rằng, con người không thể nhận thức
- Nếu có chút ít tài liệu gì, thì tài liệu đó mang tính chủ quan
Những luận điểm trên không hoàn toàn đúng vì khi nghiên cứu, các nhà sử
học không nhất thiết phải tiếp xúc trực tiếp với đối tượng nghiên cứu
Trang 20Tài liệu không nhất thiết phải đầy đủ, mà phải dựa vào những tài liệu cơ
bản
Dựa trên chủ nghĩa duy vật lịch sử, chúng ta nhận thức đúng hiện thực lịch
sử Bởi vì chủ nghĩa duy vật lịch sử không chỉ là cơ sở duy nhất, mà còn là cơ sở thực tiễn làm cho nhận thức chủ quan của con người phù hợp với tiến trình khách quan của lịch sử
Câu hỏi ôn tập
1 Khái niệm lịch sử được hiểu như thế nào?
2 Trình bày quan điểm của sử gia tư sản về hiện thực lịch sử và nhận thức lịch sử
3 Trình bày quan điểm của sử gia mácxít về hiện thực lịch sử và nhận thức lịch sử
4 Anh (chị) hãy nêu ý kiến của mình về hiện thực lịch sử và nhận thức lịch sử
2.2 NHỮNG ĐIỂM CHUNG VÀ NHỮNG ĐIỂM KHÁC NHAU GIỮA ĐỐI TƯỢNG NHẬN THỨC CỦA KHOA HỌC LỊCH SỬ VÀ CÁC KHOA HỌC KHÁC - LỊCH SỬ CỦA CHỦ THỂ HÓA
2.2.1 Những điểm chung và những điểm khác nhau giữa đối tượng nhận thức của khoa học lịch sử và các khoa học khác
đó, cách đây 4 đến 5 triệu năm, loài người mới xuất hiện và hình thành nên xã hội loài người Quá trình tiến hóa này nói lên rằng, xã hội loài người là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên Điểm thống nhất giữa chúng ở chỗ đều là bộ
phận của giới tự nhiên
Thứ hai, xã hội loài người và thế giới tự nhiên đều bị chi phối bởi quy luật
chung nhất của thế giới vật chất:
Xã hội loài người là kết quả phát triển lâu dài của giới tự nhiên, là một bộ phận của thế giới vật chất Trong tự nhiên cũng như trong xã hội đều có những quy luật chung nhất cho sự vận động của thế giới vật chất như quy luật thống nhất
và đấu tranh giữa các mặt đối lập, quy luật phủ định của phủ định, quy luật thay đổi về lượng dẫn đến biến đổi về chất… đây là những quy luật chung nhất mà
lịch sử xã hội loài người và các hiện tượng tự nhiên phải tuân theo
Trang 21b Những điểm khác nhau
Thứ nhất, sự vận động của hiện thực xã hội loài người là do hoạt động thực tiễn của con người có ý thức với tính năng động và tính tư tưởng cao, còn sự vận động của giới tự nhiên là sự vận động tự thân, với tính năng động tương đối thấp,
không có ý thức
Trong giới tự nhiên, những hiện tượng vể sự hình thành tài nguyên khoáng sản, sự sinh trưởng của thực vật, sự vận động của vỏ trái đất, sự thay đổi của khí hậu, các hiện tượng động đất, núi lửa, bão lụt… đều là kết quả của sự vận động
mà giới tự nhiên dựa vào quy luật, diễn ra một cách tự phát, không thể hiện ý đồ, không có mục đích của bản thân tự nhiên Hành vi dùng cỏ cây làm tổ, dùng đá để đập vỡ vỏ trứng để lấy thức ăn của một số động vật cũng chỉ xuất phát từ bản năng sinh tồn Còn lao động của con người là những hoạt động sản xuất có mục đích, có ý thức, khác biệt về chất so với những hiện tượng tự nhiên, với những hoạt động bản năng của động vật Vì thế, nhà nghiên cứu khoa học tự nhiên không coi đối tượng nghiên cứu của họ là đối tượng có mục đích, có ý thức, có tính năng động tự thân cao để nghiên cứu, mà coi chúng là những vật tự nhiên có những đặc tính nào đó để tiến hành quan sát và thực nghiệm Căn cứ vào những số liệu thu
được, nhà khoa học rút ra những quy luật hoặc sự phát triển và biến hóa của nó
Khoa học lịch sử nhận thức xã hội loài người đã qua, gồm con người có ý thức tư tưởng, có tình cảm, đó là chủ thể trong hoạt động của lịch sử xã hội Cho nên, việc nhận thức những hoạt động của con người mang chí hướng, những tư tưởng, tình cảm khác nhau, việc nhận thức một cách chính xác quá trình phát triển lịch sử xã hội do những con người có ý thức tiến hành sẽ phức tạp và khó khăn
hơn rất nhiều so với nhận thức sự vật và hiện tượng của giới tự nhiên
Thứ hai, đối tượng nhận thức của khoa học lịch sử nhìn chung mang tính không lặp lại trong thời gian và trong không gian Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra trong thời gian và không gian nhất định Đối tượng của khoa học tự
nhiên tính lặp lại rất rõ ràng về không gian và thời gian
Bất kỳ hoạt động nào của xã hội loài người cũng đều được tiến hành trong thời gian và không gian nhất định Không có một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào hoàn toàn giống nhau, dù có điểm giống nhau, lặp lại thì đó là sự kế thừa, phát triển, “sự lặp lại trên cơ sở không lặp lại” Đời sống xã hội loài người trong quá tình phát triển của mình đã trải qua những thay đổi lớn lao Tất cả mọi lĩnh vực từ trình độ sản xuất, chế độ chính trị, quan hệ xã hội đến ăn mặc, đi lại, tư tưởng triết
lý, đạo đức đều trải qua những thay đổi, biến hóa không ngừng Chính điều đó buộc nhà nghiên cứu khi tìm hiểu một sự kiện hay nhân vật nào đó trong lịch sử
xã hội loài người, phải xem xét tính cụ thể về thời gian làm nảy sinh ra sự kiện, nhân vật đó Về mặt không gian, trong lịch sử xã hội loài người cũng có những khác biệt lớn so với thế giới tự nhiên Trong lịch sử thế giới, diện mạo đời sống xã hội của các dân tộc khác nhau, các quốc gia khác nhau, ở các khu vực khác nhau,
dù trong cùng một thời gian vẫn có nhiều điểm khác nhau lớn Ví như, vào thời
Cổ đại, lịch sử Trung Quốc, Ai Cập, các nước tây Âu… đều có sự khác nhau về sản xuất, chế độ pháp luật, chính trị, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán, khác nhau về màu da, diện mạo, hình thái thân thể con người… Cho dù ngày nay thế giới đã xích lại gần nhau, được xem cùng sống dưới một “mái nhà” chung thì
sự khác biệt này vẫn tồn tại ở những mức độ đáng kể Cho nên “lịch sử” còn hàm
nghĩa “cái cụ thể”
Trang 22Còn đối tượng nghiên cứu của khoa học tự nhiên, mặc dù có một quá trình biến đổi, phát triển trong không gian và thời gian, song nói chung quá trình đó hết sức chậm chạp mà nhiều khi chúng ta không nhận ra Ví như con chim làm tổ, đàn kiến kiếm mồi, bầy ong kiếm mật hàng ngàn năm về trước so với hiện nay, ở châu
Phi hay châu Á gần như không có sự khác biệt lớn
Thứ ba, khoa học lịch sử nhận thức những biến cố, hiện tượng, nhân vật đã xảy ra trong đời sống xã hội không lặp lại, không thể tái tạo và cũng không thể quan sát Còn đối tượng nhận thức của khoa học tự nhiên mang tính lặp lại, nên khả năng quan sát của nhà nghiên cứu trên đối tượng, việc biểu diễn trong phòng thí nghiệm của đối tượng trong khoa học tự nhiên có thể tiến hành thường xuyên,
thuận tiện, nhằm khôi phục hiện tượng khách quan
2.2.2 Lịch sử của chủ thể hóa
a Thế nào là lịch sử của chủ thể hóa
Lịch sử của chủ thể hóa chính là kết quả nhận thức của con người đối với hiện thực quá khứ Những sự kiện của lịch sử xã hội loài người chỉ xảy ra có một lần, nhưng con người nhận thức, viết thành các tác phẩm, các cuốn sách, các bài nghiên cứu thì đó là lịch sử của chủ thể nhận thức đối với khách thể, là lịch sử của
chủ thể hóa
Vậy lịch sử của chủ thể hóa (những cuốn sách, tác phẩm…) đã phản ánh
đúng hiện thực lịch sử hay chưa?
Lịch sử của chủ thể hóa có thể phản ánh đúng, có thể phản ánh chưa đúng
bởi những lý do sau:
- Kết quả nghiên cứu nhận thức của các nhà sử học thông qua những con người có trình độ, quan điểm khác nhau, bị chi phối bởi quyền lợi giai cấp khác nhau, ở những chế độ xã hội khác nhau Vì vậy, nó không hoàn toàn giống khách thể, tức hiện thực lịch sử Trong thực tế cùng một đối tượng nghiên cứu, nhưng
các nhà nghiên cứu lại cho ra những kết quả nhận thức khác nhau
- Khi nghiên cứu, để đạt đến chân lý, nhà nghiên cứu phải khái quát đối
tượng, vì thế kết quả nghiên cứu không phản ánh đầy đủ đối tượng nghiên cứu
- Do không quan sát trực tiếp được hiện thực lịch sử, nên các nhà nghiên cứu chỉ gián tiếp tiếp xúc với hiện thực lịch sử qua các nguồn tư liệu thành văn, truyền miệng và các hiện vật còn lại, trên cơ sở đó, nhà nghiên cứu giám định, phân tích những tư liệu thông qua hiểu biết, suy nghĩ của mình Do vậy, việc nhận thức quá
khứ mang đậm dấu ấn của ý thức chủ thể
- Từ hiện thực lịch sử đến nhận thức lịch sử ít nhất trải qua 2 lần nhận thức trở lên Nhận thức đó chứa đựng lập trường quan điểm giai cấp, ý thức dân tộc,
tính cách của người ghi chép đầu tiên đến những người nhận thức sự kiện đó
Qua những lý do trên cho thấy, trong nhận thức lịch sử, không có lúc nào, không có nơi nào không bị chi phối bởi những ý thức riêng của bản thân người nghiên cứu Mỗi người luôn đứng trên một lập trường nhất định dưới sự chỉ đạo của một tư tưởng, mang một tính cách để quan sát nhận thức lịch sử, vì vậy có thể
đi đến kết luận:
Trang 23Mọi kết quả nhận thức lịch sử đều là lịch sử đã chủ thể hóa, cho nên mối quan hệ giữa lịch sử chủ thể hóa với lịch sử khách thể là một nguyên tắc phương
pháp luận quan trọng trong nghiên cứu lịch sử
* Mối quan hệ giữa lịch sử khách thể và lịch sử chủ thể hóa
Lịch sử khách thể chính là hiện thực lịch sử tồn tại khách quan đã từng xảy
ra trong quá khứ một lần duy nhất không lặp lại Lịch sử của chủ thể hóa là sự nhận thức của con người về lịch sử khách thể Vì vậy, giữa chúng có mối liên hệ giữa thực tế và phản ánh, giữa ăn khớp và tách rời, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không thể giống nhau hoàn toàn
Trong thực tế, các nhà nghiên cứu lịch sử luôn đặt ra cho mình nhiệm vụ, mục tiêu khôi phục lại quá khứ lịch sử đúng như nó đã tồn tại Họ căn cứ vào những tư liệu lịch sử, những dấu vết còn lại của quá khứ, với năng lực nhận thức, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu để viết lại lịch sử quá khứ Điều đó
sẽ quyết định lịch sử mà họ viết ra sẽ ăn khớp ở mức độ nào đó với lịch sử tồn tại khách quan Nếu độ ăn khớp lớn, chính xác sẽ cho phép các nhà nghiên cứu lịch
sử tiếp cận với chân lý khách quan
b Những hạn chế thường có trong nghiên cứu lịch sử
Thứ nhất, thiếu sót tư liệu từ đó phản ánh không đúng hiện thực lịch sử:
Có nhiều sự kiện, hiện tượng trong lịch sử dân tộc, lịch sử thế giới do thiếu
tư liệu khoa học nên việc khôi phục quá khứ thiếu chính xác, hay chưa đầy đủ, có những kết luận không phản ánh đúng hiện thực
Thứ hai, do hạn chế về lập trường giai cấp, lập trường chính trị của người nghiên cứu dẫn đến nhận thức không đúng hiện thực quá khứ:
Các nhà sử học từ trước đến nay đều đứng ở quyền lợi của giai cấp mình, đều chịu sự chi phối của thời đại (ở mức độ không giống nhau) Không có một tác phẩm sử học nào lại không thể hiện quan điểm lập trường giai cấp của người biên soạn Bởi vì trong xã hội có giai cấp đối kháng, nhà sử học không thể đứng ngoài mọi giai cấp và thời đại để nghiên cứu lịch sử V.I Lênin đã khẳng định: “Không một người nào đang sống mà lại có thể không đứng về phía một giai cấp này hay giai cấp nọ (một khi họ hiểu được quan hệ giữa các giai cấp đó) mà lại có thể không vui sướng vì thắng lợi của một giai cấp ấy, đau buồn về những thất bại của
nó, tức giận đối với kẻ thù của nó”
Hiện nay, giai cấp công nhân với hệ tư tưởng tiên tiến, được trang bị hệ thống lý luận nhận thức lịch sử khách quan khoa học, phản ánh quan điểm, quyền lợi của một giai cấp trung tâm thời đại, có khả năng nhận thức đúng lịch sử như
nó tồn tại
Thứ ba, việc sử dụng phương pháp chưa tối ưu, chưa đúng trong nghiên cứu lịch sử:
Nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu lịch sử nói riêng không phải
là công việc tùy tiện mà đòi hỏi phải có phương pháp đúng Thực tế cho thấy, cùng một khối lượng tư liệu như nhau, song xử lý tư liệu khác nhau, phương pháp nghiên cứu khác nhau sẽ dẫn đến những kết quả khác nhau Việc sử dụng đúng các phương pháp nghiên cứu lịch sử sẽ cho phép kết quả nghiên cứu ít sai lệch hơn so với hiện thực khách quan
Trang 24Tóm lại, đối với chúng ta, để việc nhận thức, nghiên cứu lịch sử đạt đến chân lý khách quan, yêu cầu phải đứng trên lập trường tư tưởng chính trị của giai cấp tiên tiến, trung tâm của thời đại, có phương pháp nghiên cứu khoa học trên cơ
sở khối lượng tư liệu đầy đủ
Câu hỏi ôn tập
1 Nêu và giải thích những điểm chung và riêng giữa đối tượng nhận thức của khoa học lịch sử với các khoa học khác
2 Thế nào là lịch sử của chủ thể hóa?
3 Phân tích mối quan hệ giữa lịch sử khách thể và lịch sử chủ thể hóa?
4 Nêu những hạn chế thường có trong nghiên cứu lịch sử?
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 2
Bằng vốn hiểu biết về lịch sử của mình, Anh (chị) hãy làm rõ: Hiện thực lịch
sử tồn tại khách quan và chúng ta hoàn toàn có khả năng nhận thức được hiện thực lịch sử
Anh (chị) hãy nêu những biện pháp khắc phục những hạn chế do “lịch sử của chủ thể hóa” gây ra
Anh (chị) hãy nêu những biện pháp khắc phục những hạn chế thường có trong nghiên cứu lịch sử
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phan Ngọc Liên (chủ biên) 2003 Phương pháp luận sử học Hà Nội: NXB Đại học Sư phạm Tham khảo chương II “Phương pháp luận về hiện thực lịch sử
và nhận thức lịch sử xã hội” từ trang 42 đến trang 65
Phan Ngọc Liên (chủ biên) 2006 Nhập môn sử học Hà Nội: NXB Đại học
Sư phạm Tham khảo chương II “Lịch sử là gì?” từ trang 27 đến trang 40
Trang 25CHƯƠNG 3
SỬ HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC
Những tri thức về khoa học lịch sử có từ thời cổ đại Thời kỳ văn hóa Phục Hưng, sử học trở thành khoa học Đến giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa Mác ra đời đã khai sinh một nền sử học, được xem là khoa học đích thực chân chính, đó là nền
sử học mácxít
Đối tượng nghiên cứu của khoa học lịch sử là quá trình phát triển thực tế của lịch sử xã hội loài người, cũng như từng nước từng dân tộc trong toàn bộ tính
thống nhất, tính phức tạp, tính muôn màu muôn vẻ của nó
- Một số vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của sử học:
+ Quy luật lịch sử
+ Mối quan hệ giữa khoa học lịch sử với duy vật lịch sử
+ Mối quan hệ giữa khoa học lịch sử và các bộ môn khoa học xã hội khác + Mối quan hệ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai
- Sử học có nhiều chức năng:
+ Chức năng nhận thức
+ Chức năng giáo dục, nêu gương
- Nhiệm vụ của khoa học lịch sử:
sự việc, hiện tượng, phát hiện những quy luật vận động và những quy luật tác
động đến nó
Nhận thức lịch sử của con người có từ khi loài người xuất hiện cách đây khoảng 4 đến 6 triệu năm Lúc bấy giờ những hiểu biết về lịch sử được phản ảnh
qua các câu chuyện thần thoại, cổ tích, các bản anh hùng ca…
Mãi đến thế kỷ V TCN mới xuất hiện những tri thức khoa học lịch sử, khi các sử gia Hêrôđốt (Ph Hérodote, khoảng 484 – 425 TCN) viết “Lịch sử cuộc chiến tranh Hy Lạp – Ba Tư” vào năm 430 TCN Tusiđi ( Thucydide, khoảng 460 – 396 TCN) viết “Lịch sử cuộc chiến tranh Pêlôpône”v.v… Với những tác phẩm này, các nhà sử học đã vượt qua giới hạn của sự ghi chép tản mạn, họ đã tập hợp
tài liệu, phân tích, trình bày có hệ thống những vấn đề lịch sử theo những chủ đề
Trang 26Đến cuối thời trung đại, với phong trào văn hóa Phục hưng, sử học đã trở thành khoa học Đến giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa Mác ra đời đã khai sinh một nền
sử học, được xem là khoa học đích thực chân chính, đó là nền sử học mácxít
Tóm lại, từ thế kỷ V TCN, sử học đã có những cơ sở của một khoa học Đến thời cận đại, sử học trở thành một khoa học Sử học được xác định là một khoa
học chân chính, đích thực khi nền sử học mácxít ra đời vào giữa thế kỷ XIX
3.1.2 Những yêu cầu của khoa học lịch sử
Một là, nói đến khoa học là nói đến sự chính xác, khách quan, vì vậy yêu cầu nhận thức sự phát triển của xã hội loài người không phải là kể chuyện mà phải
nêu lên những sự kiện chính xác
Lịch sử chỉ trở thành một khoa học khi nó sử dụng sự kiện chính xác phản ánh đúng lịch sử Đây là một tiêu chí quan trọng để lịch sử trở thành một khoa học Không có tài liệu chính xác để hiểu rõ lịch sử thì việc nghiên cứu sẽ không khoa học Ph Ăngghen nhấn mạnh: “Không hiểu, hoặc không hiểu đúng những sự kiện thì không hiểu được lịch sử, dù có tự xưng là nhà mácxít thì cũng không hiểu
gì lịch sử” V.I Lênin chỉ rõ thêm: “Chủ nghĩa Mác đứng vững trên cơ sở sự kiện chứ không phải trên cơ sở khả năng” Và “Chúng ta, những người mácxít phải đem tất cả sức lực mình mong nuốn nghiên cứu một cách khoa học những sự kiện
làm cơ sở cho đường lối, chính sách của chúng ta”
Hai là, lịch sử trở thành khoa học đích thực khi chủ nghĩa Mác ra đời Vì vậy, yêu cầu khi nghiên cứu và giảng dạy lịch sử phải đứng trên nguyên tắc phương pháp luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì chúng ta mới hiểu
được lịch sử xã hội loài người và lịch sử dân tộc một cách đúng đắn
Lịch sử trở thành khoa học khi nó dựa trên những quan điểm tư tưởng của một giai cấp tiên tiến Quan điểm về lịch sử của các giai cấp thống trị trong lịch sử nhân loại mặc dù còn nhiều sai lệch, nhưng cũng đã có những đóng góp tiến bộ nhất định Đến thời C Mác và Ph Ăngghen đã hoàn thành quan niệm duy vật về lịch sử Hai ông đã loại bỏ được hai khuyết điểm cơ bản của những lý luận lịch sử
trước Mác: “Một là, những lý luận lịch sử trước Mác giỏi lắm cũng chỉ nhìn đến
những động cơ tư tưởng trong hoạt động lịch sử của người ta, chứ không tìm xem cái gì sinh ra những động cơ ấy, không nắm lấy những quy luật khách quan chi
phối sự phát triển của sản xuất vật chất là nguồn gốc của những quan hệ ấy Hai
là, những lý luận trước kia đã bỏ quên chính ngay hoạt động của quần chúng nhân
dân, còn chủ nghĩa duy vật lịch sử thì lần đầu tiên đã giúp chúng ta có thể nghiên cứu với sự chính xác của khoa học tự nhiên, những điều kiện xã hội của đời sống quần chúng và những biến đổi điều kiện ấy” Những quan điểm mácxít như vậy đã vạch ra con đường nghiên cứu lịch sử đúng đắn, khai sinh một nền sử học thực sự
khoa học
Ba là, nghiên cứu khoa học lịch sử, phải phát hiện những quy luật vận động
và quy luật tác động đến sự kiện, hiện tượng trong lịch sử xã hội loài người
Lịch sử trở thành khoa học khi tìm hiểu, phát hiện ra quy luật phát triển của
xã hội loài người Quy luật lịch sử cũng như quy luật trong mọi lĩnh vực của thế giới tự nhiên và xã hội đều mang tính khách quan Nhưng quy luật lịch sử xã hội
có những điểm khác với quy luật của tự nhiên ở chỗ: quy luật trong tự nhiên vận động tự phát, không có sự can thiệp của con người, còn trong xã hội, các quy luật được thể hiện thông qua hoạt động của con người có ý thức và mục đích Cho nên,
Trang 27xét đến cùng: “Lịch sử không phải cái gì khác hơn là hoạt động của con người theo đuổi mục đích của mình” Vì vậy khoa học lịch sử khi nghiên cứu những quy luật vận động trong quá trình phát triển của xã hội loài người phải nhận thức được những đặc trưng ấy để phát hiện đúng và giúp mọi người rút ra bài học, kinh
nghiệm quá khứ, hành động đúng quy luật khách quan
Bốn là, lịch sử là một khoa học tiếp cận với chân lý khách quan, nên phải sử
dụng phương pháp nghiên cứu thực sự khoa học
Giá trị của một công trình khoa học nói chung, của sử học nói riêng không chỉ được đánh giá ở kết quả nghiên cứu mà còn ở phương pháp nghiên cứu Trong nghiên cứu lịch sử có nhiều phương pháp mang tính truyền thống như sưu tầm các loại tài liệu, khái quát lý luận… và ngày càng có nhiều phương pháp mới xuất phát từ trình độ phát triển của khoa học – kỹ thuật, như phương pháp thống kê, phương pháp định lượng, phương pháp sử dụng các thành tựu kỹ thuật… vào
nghiên cứu
Năm là, khoa học lịch sử phải phục vụ cho con người, làm cho con người được ấm no hạnh phúc làm chủ vận mệnh của mình, không nên biến nó thành công cụ, vũ khí tiếp tay cho tội ác
Câu hỏi ôn tập
1 Trình bày khái quát sự ra đời của khoa học lịch sử
2 Hãy nêu và phân tích những yêu cầu của khoa học lịch sử
3.2 ĐỐI TƯỢNG, CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA KHOA HỌC LỊCH SỬ
3.2.1 Đối tượng của khoa học lịch sử
Khoa học nói chung, sử học nói riêng đều ra đời trong xã hội đã phân chia giai cấp, cho nên từ khi Sử học ra đời cho đến nay đều mang tính giai cấp và tính thời đại Tùy theo chế độ xã hội, tính chất thời đại, quyền lực của giai cấp cầm quyền mà quan niệm về đối tượng Sử học có những nét riêng biệt, bên cạnh
những nét chung của giai cấp thống trị ở trong xã hội có áp bức bóc lột
a Quan niệm về đối tượng của sử học trước khi sử học mácxít ra đời
* Thời cổ đại
Đối tượng chung của sử học là đời sống chính trị của giai cấp chủ nô, nhưng một số nhà sử học như Tusiđi (Thucydide, 460 – 396 TCN), Hêrôđốt (Ph Hérodote 484 – 425 Tr.cn), Pôbili (Pobili, thế kỷ II TCN)… đã có những quan niệm đúng bước đầu về đối tượng của sử học, các Ông đã trình bày sự kiện theo
chủ đề và xem những chủ đề đó là đối tượng của sử học
* Thời trung đại
Đối tượng nghiên cứu của sử học là đời sống của các vua quan phong kiến
Sử học thời phong kiến chỉ ghi chép lại đời sống của các vua chúa, các tầng lớp trên của giai cấp phong kiến như các cuộc đấu võ của các kỵ sĩ, các cuộc chiến tranh đẫm máu giữa các thế lực phong kiến, việc bang giao, việc thay đổi các triều đai… Trong khi đó quần chúng nhân dân với những hoạt động của họ trong đời sống kinh tế, văn hóa, vai trò của người lao động… không hề được đề cập đến Trong các bộ sử lớn của Trung Quốc thời phong kiến cũng như các bộ “Đại Việt
Trang 28sử ký toàn thư:, “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” của Việt Nam thì vua chúa là đối tượng chính của các bộ sử này Sử học trung đại châu Âu thì lấy chúa trời làm đối tượng nghiên cứu, các nhà sử học tập trung vào tìm hiểu “vương
quốc của thần linh” v.v…
văn hóa – xã hội
Thế kỷ XVIII có những nhà sử học như Vônte (Voltaire), Môngtexkiơ (Charles Louis Montesquieu), Gibông (Gibong), Hium (David Hume), Hecđe (Johann Gottfried Herder), Vicô (Vico), Côngđocxê (Congdoocxe)… chú ý đến công tác nghiên cứu lịch sử, đề cao tính chân thật của sử học Sự ra đời của các khoa học gần gũi như địa lý, dân tộc học, khảo cổ học, lịch sử kinh tế, niên đại
học… góp phần tăng thêm nguồn sử liệu
Đầu thế kỷ XIX, sử học tư sản phát triển đến đỉnh cao, các nhà sử học Pháp như A Chieri (Adolphe Thiers 1797 – 1877), Misơlê (Misole), Ghiđô (Ghido), đã phát hiện ra giai cấp và vai trò đấu tranh giai cấp trong xã hội và lấy đó làm một đối tượng nghiên cứu của lịch sử Hêghen (Hegel) vạch ra mối liên hệ nội tại của
sự vận động và biến đổi của lịch sử loài người
Tuy nhiên sử học tư sản thời kỳ đi lên đã phạm một số sai lầm khuyết điểm
cơ bản về đối tượng nghiên cứu đó là:
Thứ nhất, xem lịch sử là lịch sử của trí tuệ, của văn minh, của thời kỳ có chữ
viết, họ bỏ ra ngoài đối tượng của sử học cả thời kỳ nguyên thủy dài dằng dặc của loài người Việc xác định đối tượng của sử học từ khi có chữ viết không những đã
từ bỏ thời kỳ lịch sử thời nguyên thủy mà còn kéo theo việc đặt ra ngoài đối
tượng của sử học lịch sử các dân tộc chậm tiến đang sống lúc bấy giờ
Thứ hai, xem lịch sử là lịch sử của cá nhân xuất chúng, toàn bộ những hoạt
động của quần chúng nhân dân lao động bị gạt ra ngoài đối tượng sử học Vì vậy, trước kia giai cấp chủ nô, vua quan là đối tượng của sử học thời cổ đại, trung đại thì bấy giờ những thương nhân, nhà kinh doanh, những cá nhân kiệt xuất là những
nhân vật trung tâm của đối tượng sử học tư sản
Thứ ba, trong khi tìm cách giải thích những động lực phát triển của lịch sử
loài người, sử học tư sản trong thời kỳ đi lên đã viện dẫn những quy luật của tự nhiên, các định luật và công thức toán học Quan niệm này không khỏi đưa họ đến
tư tưởng duy tâm, thần bí, máy móc
Thứ tư, sử gia tư sản lấy “châu Âu làm trung tâm” của thế giới Từ đây sử
gia phương Tây xem thường lịch sử các nước phương Đông Theo họ chỉ có nền văn minh phương Tây mới xứng đáng là nền văn minh của thế giới và xem đó là
đối tượng chủ yếu của sử học
Thuyết “châu Âu là trung tâm” không có cơ sở lịch sử vững chắc Vì châu
Âu tuy là chiếc nôi của chủ nghĩa tư bản, nhưng trong lịch sử loài người, chủ
Trang 29nghĩa tư bản tồn tại cho đến nay cũng chỉ mới ba đến bốn trăm năm Trong khi đó, các nước phương Đông trước đó đã là chiếc nôi của nền văn minh cổ đại rực rỡ
tồn tại hàng ngàn năm
Như vậy, châu Âu không phải là trung tâm của lịch sử thế giới từ trước đến nay mà mọi dân tộc đều đóng góp cho sự phát triển chung của lịch sử xã hội loài người Thuyết châu Âu là trung tâm chỉ là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản, của thực dân châu Âu, nó phản ánh quan điểm của chủ nghĩa thực dân nhằm biện hộ cho việc xâm lược, thống trị các nước nhỏ yếu, lạc hậu ngăn chặn phong trào giải
phóng dân tộc ở những nước này
Từ khi chủ nghĩa Mác ra đời, đặc biệt khi cách mạng tháng Mười Nga thành công (1917), sử học tư sản trở nên phản động, họ tìm mọi cách xuyên tạc, chống lại chủ nghĩa Mác và sử học mácxít Sử học tư sản đã phủ nhận đối tượng của sử học, thủ tiêu khoa học lịch sử Theo họ lịch sử không có tính khách quan mà chỉ
có tính chủ quan của người viết sử O Ăngđeclơ (O Anderle) nhà sử học Cộng hòa Liên bang Đức đã viết: “Khoa học lịch sử đang sụp đổ, nó giống như một tảng
băng khi mùa xuân ở Bắc cực đã về”
Một số sử gia tư sản khác lại cho rằng: lịch sử đã xảy ra không còn tồn tại, không có thực nên không có đối tượng sử học mà chỉ có sự nhận thức chủ quan của bản thân mỗi người Do đó, “lịch sử phải luôn được viết lại” sao cho phù hợp với mong muốn chủ quan của người viết ở mỗi thời đại khác nhau Tiêu biểu cho quan niệm này là sử gia Biêccơ (C.I.Becker) người Mỹ
b Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về đối tượng của sử học
* Đối tượng của sử học
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra rằng: “Lịch sử xã hội loài người là lịch sử của quần chúng nhân dân, lịch sử của những phương thức sản xuất kế tiếp nhau và từ khi xã hội phân chia thành giai cấp thì lịch sử còn là lịch
sử đấu tranh giai cấp”
Trên cơ sở những nguyên lý trên, các nhà sử học mácxít đã xác định đối
tượng của sử học như sau:
“Đối tượng của khoa học lịch sử là quá trình phát triển thực tế của lịch sử xã hội loài người, cũng như từng nước từng dân tộc trong toàn bộ tính thống nhất, tính phức tạp tính muôn màu muôn vẻ của nó Hay nói cách khác đi, đó là sự chuyển biến cụ thể của các phương thức sản xuất trong lịch sử thế giới, lịch sử từng dân tộc, là sự biểu hiện cụ thể, phong phú cuộc đấu tranh giai cấp trong lịch
sử là sự thể hiện sinh động vai trò sáng tạo, quyết định của quần chúng nhân dân
lao động đối với lịch sử”
Từ quan điểm về đối tượng của sử học như trên, chúng ta cần lưu ý mấy
điểm chính sau đây:
- Lịch sử trước hết là lịch sử của sản xuất của cải vật chất để nuôi sống xã hội, cho nên khi nghiên cứu lịch sử ta phải nghiên cứu phương thức sản xuất qua
từng thời kỳ lịch sử
- Lịch sử là lịch sử của quần chúng nhân dân lao động, chủ nhân thực sự của lịch sử xã hội loài người, người sáng tạo ra mọi giá trị vật chất tinh thần cho xã
Trang 30hội Cho nên, khi nghiên cứu lịch sử phải lấy quần chúng nhân dân làm đối tượng
nghiên cứu chủ yếu
- Đấu tranh giai cấp là động lực thúc đẩy lịch sử phát triển, do đó khi nghiên
cứu lịch sử phải lấy đấu tranh giai cấp làm đối tượng nghiên cứu
- Sử học ở đây chỉ bao hàm lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc và lịch sử địa
phương
Việc xác định rõ đối tượng nghiên cứu của khoa học lịch sử là vấn đề quan
trọng hàng đầu của người học tập, giảng dạy và nghiên cứu lịch sử
* Một số vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của Sử học
** Quy luật lịch sử
Khoa học là sự tổng hợp những kinh nghiệm, những tri thức mà loài người
đã tích lũy được và đạt đến trình độ trừu tượng hóa và khái quát hóa Khoa học phải đi vào bản chất của sự vật, phải phát hiện những quy luật khách quan và vận dụng chúng vào đời sống phục vụ lợi ích con người Đối với khoa học lịch sử, mặc dù đối tượng của nó là những hiện tượng về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội rất phức tạp, nhưng một khi đã trở thành một khoa học thì cũng giống như các khoa học khác, sử học cũng có quy luật và cần phải phát hiện và vận dụng quy luật vào đời sống để phục vụ con người Nhà sử học không nên dừng công việc nghiên cứu của mình ở việc chọn lựa, trình bày sự kiện một cách đơn giản, mà thông qua đó, phải phát hiện ra quy luật lịch sử, có như vậy mới nâng cao được
chất lượng và ý nghĩa của công tác nghiên cứu lịch sử
** Về mối quan hệ giữa khoa học lịch sử với duy vật lịch sử
Giữa khoa học lịch sử và duy vật lịch sử có mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng: duy vật lịch sử và khoa học lịch sử đều lấy xã hội loài người làm khách thể nghiên cứu, nhưng khoa học lịch sử chủ yếu nghiên cứu các mặt cụ thể của xã hội Đối với duy vật lịch sử, mục đích nhận thức cuối cùng là cái chung và cái cụ thể phục tùng cái chung Đối với khoa học lịch sử, cái chung là phương tiện để nhận thức cái cụ thể và cái cụ thể là mục đích nhận thức cuối cùng của nó Trong mối quan hệ như vậy, duy vật lịch sử là cơ sở phương pháp luận của khoa học lịch
sử để nghiên cứu cái cụ thể và khoa học lịch sử cần cung cấp những hiểu biết về cái cụ thể để duy vật lịch sử nhận thức cái chung và đồng thời cũng làm phong
phú hơn sự hiểu biết về quy luật chung
** Về mối quan hệ giữa khoa học lịch sử và các bộ môn khoa học xã hội
khác
Khoa học lịch sử và các bộ môn khoa học xã hội khác đều nghiên cứu một khách thể chung là xã hội loài người Nhưng mỗi bộ môn khoa học xã hội lại có đối tượng riêng của mình Nếu đối tượng của mỗi bộ môn khoa học xã hội là một mặt cụ thể riêng lẻ nào đó của đời sống xã hội, thì đối tượng của khoa học lịch sử
là quá trình phát triển xã hội nói chung, là toàn bộ những hiện tượng của đời sống
xã hội trong mối liên hệ tác động lẫn nhau của chúng Trong một ý nghĩa nhất định, các bộ môn lịch sử kỹ thuật, lịch sử kinh tế, lịch sử văn học, lịch sử chính trị, lịch sử ngôn ngữ, lịch sử khoa học… có thể xem là những bộ phận của khoa học lịch sử nói chung Khi nghiên cứu một cách toàn diện các mặt sinh hoạt khác nhau của đời sống xã hội, khoa học lịch sử phải có mối liên hệ chặt chẽ với các bộ môn khoa học khác Điều này làm cho chất lượng các công trình nghiên cứu sử
Trang 31học được tăng lên, đồng thời tránh khuynh hướng biến lịch sử thành lịch sử chính trị và coi nhẹ các mặt khác của lịch sử như lịch sử kinh tế, lịch sử văn hóa, tư
tưởng…
Đặc biệt, lưu ý đến mối quan hệ giữa sử học với các ngành thuộc khoa học lịch sử như lịch sử Đảng, dân tộc học, khảo cổ học và các ngành hỗ trợ Các bộ
môn này giúp rất nhiều cho việc nghiên cứu sử học
** Về mối quan hệ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai
Mối quan hệ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai giúp ta hiểu tính chất biện chứng, mối quan hệ giữa các hiện tượng xã hội của đời sống xã hội trong những giai đoạn khác nhau của quá trình phát triển chung Sự vận động từ quá khứ tới hiện tại và từ hiện tại đến tương lai trong hiện thực lịch sử luôn là một quá trình phát triển hợp quy luật Một mặt, hiện tại sinh ra từ quá khứ và hiện tại lại tạo ra những tiền đề cho sự xuất hiện tương lai Mặt khác, sự vận động này là sự phủ định biện chứng, giai đoạn sau vượt lên thay thế cho giai đoạn đang tồn tại trong hiện thực Nói cách khác, vấn đề tương quan giữa quá khứ, hiện tại và tương lai trong một mức độ nào đồng nhất với vấn đề tương quan giữa cái cũ và mới, cái lỗi thời và cái nảy sinh, cái đi qua và cái sắp tới trong sự phát triển xã hội Do đó, mối quan hệ giữa quá khứ, hiên tại và tương lai không những là vấn đề phương pháp
luận chung mà còn có ý nghĩa thế giới quan nữa
Từ quan niệm như trên, chúng ta khẳng định rằng rằng, khoa học lịch sử không chỉ nghiên cứu quá khứ và hiện tại, những sự kiện đang xảy ra, những vấn
đề thời sự cũng là đối tượng của sử học
3.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của khoa học lịch sử
a Chức năng của khoa học lịch sử
Lịch sử là một khoa học, với chức năng của mình, sử học làm cho quá khứ sống trong hiện tại và tăng thêm sức mạnh cho hiện tại, đặt cơ sở cho sự ra đời và phát triển của tương lai Xuất phát từ bản thân, đặc trưng của mình, sử học có
nhiều chức năng:
* Chức năng nhận thức
Chức năng nhận thức của khoa học lịch sử miêu tả một cách khoa học hiện thực quá khứ đúng như nó đã từng tồn tại Trên cơ sở đó phát hiện những quy luật
về lịch sử xã hội loài người
Miêu tả hiện thực quá khứ đúng như nó tồn tại, nếu chỉ dừng lại đó thì sự
hiểu biết này chẳng có ý nghĩa gì, chẳng đem lại lợi ích gì cho cuộc sống
Để đem lại lợi ích cho cuộc sống thì trên cơ sở miêu tả đúng đắn hiện thực lịch sử, sử học phải phân tích, tổng hợp, so sánh… giải thích tính phong phú và đa dạng các hình thức cụ thể các quá trình của hiện thực lịch sử khách quan, rút ra những quy luật phát triển của lịch sử xã hội loài người, đó là những quy luật chung, quy luật đặc thù, cá biệt của một giai đoạn lịch sử, một hình thái kinh tế xã hội Nhận thức quy luật chung để hiểu rõ sự phát triển của xã hội loài người Nhận thức những quy luật cá biệt đặc thù để thấy được tính phong phú, đa dạng của
từng thời kỳ lịch sử, từng dân tộc, từng địa phương
* Chức năng giáo dục, nêu gương
Trang 32Đây là chức năng mang tính xã hội có tác dụng rất lớn trong giáo dục đạo
đức, giáo dục tư tưởng, tình cảm, rèn luyện phẩm chất con người
Tổ tiên ta rất coi trọng việc nêu lên những tấm gương sáng của quá khứ cho hiện tại, Ví dụ: năm 1855 khi ra chỉ dụ biên soạn Quốc sử, vua Tự Đức nêu rõ:
“Đời nào khởi nghiệp tất phải có sử đời ấy, nước Việt ta từ đời Hồng Bàng trở về sau, đời Trần, đời Lê trở về trước, trong khoảng hơn mấy nghìn năm, chính trị hay
dở, nhân vật giỏi hay không giỏi, bờ cõi trong nước vẫn nguyên như cũ hay đổi khác, chế độ chấn chỉnh hay đổ nát, sử cũ chép lại vẫn còn thiếu sót nhiều Đến như hình thức văn từ và nghĩa lý, thể lệ trong sách sai lầm cũng không phải ít… Việc học Quốc sử chưa ra mệnh lệnh bắt phải gia công, cho nên học trò đọc sách hoặc làm văn chỉ có sử Trung Quốc, ít người đoái hoài đến sử nước nhà Việc đời
cổ đã lờ mờ, lấy gì làm kinh nghiệm cho đời sau? Đạo học sở dĩ chưa được sáng
tỏ nguyên nhân chẳng vì sử cũ chưa được đầy đủ đó sao?”
Lịch sử là tấm gương soi cho các thế hệ sau Nó phản ánh sự cần thiết phải
“ôn cố nhi tri tân” (biết điều đã qua để hiểu cái mới)
Hồ Chí Minh khi mở đầu bài viết cho tạp chí “Những vấn đề hòa bình và chủ nghĩa xã hội” (số 2/1960): “ Ba mươi năm hoạt động của Đảng” đã chỉ rõ:
“Chúng ta nên nhìn lại những đoạn đường đã qua, rút ra những kinh nghiệm quý báu và ấn định đúng đắn những nhiệm vụ cách mạng hiện nay và sắp tới để giành
lấy những thắng lợi to lớn hơn nữa, vẻ vang hơn nữa”
Với chức năng giáo dục, sử học khiến cho mỗi người suy nghĩ cảm thụ, tự hào về quá khứ, tin tưởng mơ ước và tích cực đấu tranh cho sự phát triển của ngày
mai tốt đẹp
Tóm lại, sử học có những chức năng cơ bản, chức năng nhận thức và chức năng giáo dục, nêu gương Hiểu rõ vai trò tác dụng, vận dụng được những chức năng này vào học tập, nghiên cứu, giảng dạy lịch sử là nhiệm vụ của mỗi sinh
viên chúng ta
b Nhiệm vụ của sử học
* Nhiệm vụ khoa học
Phải cung cấp kiến thức lịch sử khoa học làm cho mọi người hiểu, biết đúng,
cơ bản, tương đối đầy đủ về sự kiện con người của quá khứ Trên cơ sở đó hiểu sâu sắc hơn hiện tại, hành động tích cực trong hiện tại, tiên đoán chính xác sự phát triển tất yếu trong tương lai và đấu tranh cho sự thắng lợi tất yếu của tương lai Bởi vì, đặc điểm của sử học mácxít là không chỉ giải thích thế giới mà còn góp
phần cải tạo thế giới
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã chỉ rõ: ‘Chúng ta thấy được gì qua các
thời đại lịch sử, và từ đó rút ra được kết luận gì, bài học gì”
C Mác: “Lịch sử đâu có phải là một chuỗi sự kiện để người viết sử chép lại,
rồi người giảng sử đọc lại và người học sử lại học thuộc lòng”
* Nhiệm vụ giáo dục
Tri thức lịch sử là phương tiện giáo dục hiệu quả về tư tưởng tiến bộ, phẩm chất, đạo đức cách mạng, năng khiếu thẩm mỹ cho quần chúng Giáo dục cho nhân dân lòng tin vào chính nghĩa, vào chân lý, tin vào thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa cộng sản, tin vào khả năng sáng tạo vô tận của quần chúng nhân dân; có tác
Trang 33dụng rất tốt trong việc giáo dục lòng yêu nước, tinh thần yêu quý lao động, rèn
luyện ý thức và năng khiếu thẩm mỹ
Câu hỏi ôn tập
1 Hãy nêu đối tượng sử học thời cổ - trung đại và chỉ rõ những ưu, nhược điểm của nó
2 Phân tích những đóng góp và những sai lầm, khuyết điểm về đối tượng
sử học của sử gia tư sản thời cận đại
3 Trình bày quan niệm về đối tượng sử học theo quan điểm của sử gia mácxít Chỉ rõ những điểm cần lưu ý khi bàn về đối tượng của sử học
4 Nêu và phân tích chức năng, nhiệm vụ của sử học theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 3
Theo Anh (chị), khoa học lịch sử có nghiên cứu các quy luật phát triển xã hội hay không? Các quy luật lịch sử là những quy luật nào? Đặc điểm của quy luật lịch sử?
Theo Anh (chị), thời sự có phải là đối tượng nghiên cứu của khoa học lịch
sử hay không? Cho ví dụ cụ thể
Qua một quyển sách lịch sử (tự chọn) của sử gia tư sản thời thuộc Pháp hay thời Mỹ - Ngụy, Anh (chị) hãy phân tích, phê phán quan niệm về đối tượng nghiên cứu của tác giả
Anh (chị) hãy chỉ rõ và phân tích những nhận thức sai lầm phổ biến trong học sinh, thanh niên hiện nay về bộ môn lịch sử ở trường phổ thông
Anh (chị) hãy phân biệt “chức năng” và “nhiệm vụ” của khoa học lịch sử để trả lời câu hỏi: Nghiên cứu, học tập lịch sử để làm gì?
Anh (chị), hãy nêu và phân tích nhiệm vụ của bộ môn lịch sử ở trường phổ thông
Trang 34TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phan Ngọc Liên (chủ biên) 2003 Phương pháp luận sử học Hà Nội: NXB Đại học Sư phạm Tham khảo chương III “Sử học là một khoa học”, từ trang 66 đến trang 111
Phan Ngọc Liên – Trần Vĩnh Tường 1995 Lịch sử sử học thế giới Huế: NXB Đại học Huế - Trung đào tạo từ xa Tham khảo chương I “Sử học thời Cổ đại”; chương II “Sử học trong thời kỳ phong kiến”; chương III “Sử học thời Cận đại”; chương IV “Sử học thời kỳ Hiện đại”, từ trang 6 đến trang 44
Phan Ngọc Liên (chủ biên) 2006 Nhập môn sử học Hà Nội: NXB Đại học
Sư phạm Tham khảo chương III “Lịch sử là một khoa học”, từ trang 41 đến trang
59
Trang 35CHƯƠNG 4 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM PHƯƠNG PHÁP LUẬN MÁC – LÊNIN
VỀ NHẬN THỨC LỊCH SỬ
- Tính khoa học trong nghiên cứu lịch sử đòi hỏi nhà sử học phải đạt tới chân lý, phản ánh được sự tồn tại khách quan của sự vật hiện tượng và rút ra những khái quát lý luận Tính đảng trong nghiên cứu sử học là ý thức giác ngộ về lợi ích giai cấp của nhà nghiên cứu đạt đến đỉnh cao, sẳn sàng chiến đấu xả thân
vì quyền lợi của giai cấp mình
- Mối quan hệ giữa tính khoa học và tính đảng trong sử học mácxít: tính khoa học thể hiện ở việc đạt tới chân lí khách quan Còn tính đảng cộng sản là cái bản chất tư tưởng chính trị (tức là lập trường quan điểm của giai cấp vô sản) nhằm chỉ đạo phương hướng đảm bảo cho khoa học đạt đến chân lí phục vụ lợi ích dân tộc và giai cấp vô sản Trong sử học mácxít, tính khoa học và tính đảng luôn thống nhất với nhau
- Về tính khách quan trong sử học: Sử gia tư sản theo chủ nghĩa khách quan luôn tuyệt đối hóa tính tất yếu của quá trình lịch sử, phủ nhận tính đảng trong nghiên cứu sử học Những sử gia theo chủ nghĩa chủ quan thì đề cao vai trò cá nhân trong lịch sử, đề cao yếu tố ngẫu nhiên một cách phiến diện, cố tình xuyên tạc quy luật lịch sử… Đối lập với những quan điểm trên, tính khách quan khoa học của sử học mácxít thể hiện ở chỗ: 1) Trình bày khách quan tiến trình chân xác của sự kiện, vạch trần những mâu thuẫn đối kháng giai cấp trong tiến trình phát triển của xã hội có giai cấp 2) Công khai tuyên bố tính đảng của mình, kết hợp chặt chẽ giữa tính khoa học và tính cách mạng, góp phần vào cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản 3) Đấu tranh chống “chủ nghĩa khách quan” lẫn “chủ nghĩa chủ quan” trong lịch sử, thừa nhận tính khách quan của hiện thực lịch sử và khả năng nhân thức lịch sử của con người
- Về sự kiện lịch sử: sử học mácxít khẳng định rằng, sự kiện tồn tại khách quan Sự kiện có những nội dung cụ thể và có những đặc tính khách quan Sự kiện
lịch sử có hai mặt: Mặt thứ nhất, sự kiện dùng để chỉ bản thân hiện tượng và biến
cố lịch sử khách quan Mặt thứ hai, sự kiện được xem là sự phản ánh những hiện
tượng, biến cố lịch sử khách quan vào nhận thức của chúng ta
- Về phân loại sự kiện lịch sử, có 3 cách phân loại sự kiện lịch sử: Phân loại
dựa theo nội dung sự kiện lịch sử; Phân loại dựa theo cấu tạo của sự kiện; Phân loại dựa trên ý nghĩa của sự kiện lịch sử
- Về quy luật lịch sử: Sử học mácxít khẳng định rằng, sử học phải đi sâu vào bản chất rút ra những quy luật vận động và tác động đến nó Đối với nhà sử học mácxít, việc tìm hiểu quy luật trong lịch sử xã hội là một nhiệm vụ của việc nghiên cứu lịch sử
- Lịch sử và lôgic là hai phạm trù đồng thời là hai phương pháp cơ bản trong nghiên cứu lịch sử Giữa chúng có những điểm chung và khác nhau rất cơ bản Vì vậy, trong quá trình học tập, giảng dạy, nghiên cứu lịch sử cần vận dụng hợp lý hai phạm trù – phương pháp này
Sử gia tư sản quan niệm rằng, khái quát lý luận không phải xuất phát từ sự kiện mà từ suy nghĩ chủ quan Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định rằng: Tài liệu
sự kiện là cơ sở xuất phát của việc khái quát lý luận Trong nghiên cứu lịch sử, tài
Trang 36liệu sự kiện phải đạt 3 yêu cầu: tương đối đầy đủ - điển hình, chính xác và cùng một loại Khi đánh giá sự kiện cần lưu ý những yêu cầu đánh giá theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin Khái quát lý luận giúp chúng ta đi sâu vào bản chất
sự vật, nhận thức sâu sắc hiện thực Khái quát lý luận là giai đoạn nhận thức lý tính thường được thể hiện trong các hình thức và phương pháp tư duy
Khi đánh giá nhân vật lịch sử, phải tuân thủ theo quan điểm phương pháp luận của sử học mácxít
Khi tiến hành phương pháp so sánh lịch sử, người nghiên cứu phải nắm vững quan điểm mácxít, làm sáng tỏ những nét chung, những nét đặc thù của mỗi
sự kiện hiện tượng lịch sử, kết quả của nó trong quá khứ và hiện tại, khuynh hướng phát triển của nó trong tương lai Trên cơ sở đó mới tiến hành so sánh và rút ra những điểm giống và khác nhau giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử, từ đó
đi đến khái quát lý luận
Khi tiến hành phân kỳ lịch sử thế giới cần phải dựa vào những nguyên tắc lớn và lấy “Hình thái kinh tế - xã hội” và đấu tranh giai cấp làm tiêu chí mới đảm bảo tính khách quan khoa học Tuy nhiên khi tiến hành phân kỳ lịch sử thế giới, chúng ta còn phải chú ý đến “Thời đại lịch sử” và “Giai đoạn lịch sử” nữa Phân
kỳ lịch sử dân tộc phải đặt trong cái khung chung của lịch sử thế giới, nhưng phải xuất phát từ quá trình phát triển riêng, cụ thể của dân tộc để thấy được nét chung của lịch sử thế giới và thấy được những nét đặc thù riêng có trong lịch sử dân tộc
đã từng trải qua các hình thái kinh tế - xã hội cũng như thời gian tồn tại của nó
4.1 TÍNH KHOA HỌC VÀ TÍNH ĐẢNG TRONG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ
4.1.1 Khái niệm tính khoa học và tính đảng trong nghiên cứu sử học
a Tính khoa học trong nghiên cứu sử học
Khoa học là sự tổng kết những kinh nghiệm hoạt động của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và đấu tranh trong xã hội, những hiểu biết này đạt đến trình độ khái quát hóa, trừu tượng hóa, đi sâu vào bản chất sự việc, hiện tượng, phát hiện những quy luật vận động và quy luật tác động đến nó
Trong nghiên cứu lịch sử, nhà sử học phải đạt tới chân lý, phản ánh được sự tồn tại khách quan của sự vật hiện tượng và rút ra những khái quát lý luận Đạt tới trình độ khái quát lý luận mới có thể nắm vững mối liên hệ quy định bản chất của các sự vật hiện tượng trong xã hội loài người một các chính xác, có hệ thống
b Tính đảng trong nghiên cứu sử học
“Tính đảng”, đây là khái niệm do V.I Lênin đưa ra và sử dụng đầu tiên để chống lại giai cấp tư sản Bởi vì các nhà sử học tư sản tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận tính đảng trong tác phẩm của mình nhằm che đậy bản chất giai cấp phản động của họ Theo V.I Lênin, tính đảng là ý thức giác ngộ về lợi ích giai cấp đạt
đến đỉnh cao, sẳn sàng chiến đấu xả thân vì quyền lợi của giai cấp mình
Trong xã hội có giai cấp, người nghiên cứu bao giờ cũng đứng về một giai cấp nhất định Người nghiên cứu thông qua tính đảng của mình mà thể hiện lập
trường quan điểm nhằm bảo vệ địa vị quyền lợi của giai cấp mà họ đang đứng
c Vai trò tính khoa học và tính đảng trong nghiên cứu sử học
Trang 37Khi nói đến tính khoa học và tính đảng trong nhận thức khoa học nói chung,
khoa học lịch sử nói riêng, chúng ta nói đến hai mặt của nhận thức xã hội:
Tính khoa học thể hiện kết quả nghiên cứu sự vật, hiện tượng cụ thể để đạt tới chân lý khách quan Tính đảng dựa vào hệ tư tưởng, vào lý tưởng giai cấp xã hội Đối với chúng ta, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa là mục tiêu, định hướng trong việc xây dựng cơ sở tư tưởng cho nghiên cứu khoa học Khoa học không phải là
sự minh họa, nêu một cách công thức lý tưởng chính trị, mà phải dựa vào kết quả nghiên cứu khoa học xác đáng, đi tới nắm vững khái niệm, quy luật và tìm ra chân
lý Do đó phải chú trọng đến tính khoa học để có cơ sở vững chắc cho việc nhận thức và thực hiện lý tưởng của chúng ta Đồng thời phải nắm vững tính đảng thì
mới đạt đến khoa học thực sự
Trong công tác khoa học bao giời cũng có ba yếu tố gắn chặt với nhau: Sự
kiện là cơ sở để hiểu đúng cụ thể hiện thực khách quan
Kết luận khoa học rút ra từ nghiên cứu sự kiện cụ thể
Vận dụng kết quả nghiên cứu phục vụ cho việc đấu tranh thực hiện lý tưởng
của mình
Muốn đạt tới tính khoa học như vậy, nhất định phải dựa trên cơ sở một hệ thống triết học đúng đắn, khoa học Triết học Mác – Lênin không chỉ thể hiện lý tưởng, ngọn cờ chiến đấu của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, mà trước hết nó là một học thuyết khoa học, làm cơ sở phương pháp luận cho các khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội, trong đó có sử học Triết học Mác – Lênin giúp những nhà nghiên cứu xác định tính đảng đúng đắn trong nhận thức sự phát triển lịch sử
xã hội loài người và dân tộc Nhờ vậy mà trong nghiên cứu lịch sử chúng ta đạt
được tính khoa học khách quan
4.1.2 Nội dung của tính khoa học và tính đảng Cộng sản trong sử học
mácxít
a Nhà nghiên cứu phải đứng trên lập trường của giai cấp vô sản
Giai cấp vô sản là giai cấp tiên tiến nhất, đại diện cho quyền lợi của toàn thể nhân dân lao động, là chiến sĩ tiên phong lãnh đạo cuộc đấu tranh chống mọi hình thức áp bức bóc lột, xây dựng xã hội ấm no, tự do, hạnh phúc, bình đẳng cho mọi người Với nhiệm vụ sứ mạng của mình như vậy, giai cấp công nhân có thể và cần thiết phải nhìn thấy sự thật lịch sử, không xuyên tạc, bóp méo lịch sử, đó là điều kiện quan trọng giúp nhà sử học nghiên cứu đúng các sự kiện lịch sử để phục vụ
cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản và nhân dân lao động có hiệu quả
Để đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản trong nghiên cứu lịch sử đòi
hỏi chúng ta phải:
- Nhận thức đúng lập trường, quan điểm, mục tiêu của giai cấp công nhân
- Trung thành với lí tưởng cộng sản thể hiện ở việc cố gắng tìm được chân lí
khách quan
- Đấu tranh chống mọi biểu hiện, xu hướng những cuộc tấn công vào quyền lợi, lí tưởng của giai cấp công nhân Đồng thời tiếp thu có lựa chọn những thành
tựu di sản văn hóa của nhân loại
Việc đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân không hề làm lu mờ,
hạ thấp tinh thần dân tộc trong việc nghiên cứu lịch sử Bởi vì giai cấp công nhân
Trang 38là một bộ phận, người đại diện, lãnh đạo nhân dân thực hiện mọi quyền lợi, nguyện vọng chính đáng của dân tộc Từ lịch sử dân tộc chúng ta hiểu rõ lịch sử giai cấp công nhân về phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản của lịch sử dân tộc Không có tinh thần ý thức dân tộc sẽ không quán triệt, vận dụng quan điểm giai cấp công nhân vào phương pháp nghiên cứu lịch sử, không có quan điểm, lập trường của giai cấp công nhân sẽ không hiểu đúng lịch sử dân tộc, mà còn rơi vào quan điểm chủ nghĩa dân tộc tư sản, sô vanh, phản động, trái với lập trường quan điểm của giai cấp công nhân, tức
là không đúng với tinh thần ý thức dân tộc chân chính Hai vấn đề tinh thần dân tộc và quan điểm giai cấp vô sản không hề mâu thuẫn mà thống nhất trong nghiên
cứu lịch sử của chúng ta
b Nhận thức, vận dụng đúng, linh hoạt sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh vào nghiên cứu lịch sử
Việc nhận thức và vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi chúng ta phải nắm vững những vấn đề cơ bản có tính chất nguyên lí học thuyết khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm soi sáng những hiện tượng, sự kiện đa dạng phức tạp của các lĩnh vực lịch sử cần nghiên cứu Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã hình thành và phát triển trong những điều kiện, bối cảnh lịch sử nhất định, nhưng lại thể hiện một cách tổng hợp những nhận thức lịch sử, từ lúc con người xuất hiện cho đến đương thời Chủ nghĩa duy vật lịch sử được hình thành, phát triển trong quá trình các tác gia kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin nghiên cứu nhiều vấn đề lịch sử từ cổ đại đến hiện đại để tìm một đáp số cho tình hình và nhiệm vụ đấu tranh trước mắt và lâu
dài
Việc học tập và vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh hoàn toàn xa lạ với chủ nghĩa giáo điều, công thức, chủ nghĩa sơ đồ trong nghiên cứu lịch sử… Cái chủ yếu trong việc học tập chủ nghĩa Mác – Lênin trong hoạt động cách mạng nói chung, cũng như trong nghiên cứu lịch sử nói riêng là thấm nhuần phương pháp của nó Phương pháp biện chứng duy vật đòi hỏi phải nhìn sự
vật trong quá trình vận động biện chứng, trong mối tương quan đa dạng, phức tạp
Hồ Chí Minh trong nhiều bài nói, bài viết cũng luôn căn dặn cán bộ: “…phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác – Lênin; học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác – Lênin để áp dụng lập trường quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết chi tiết những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta” Cần làm sáng tỏ vì sao việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là một nội dung của tính đảng của chúng ta Ở đây cần nhận thức rằng: “tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Khẳng định lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng kim chỉ nam cho mọi hành động là bước phát triển quan trọng trong nhận thức về tư duy lý luận của đảng ta” Việc học tập và vận dung tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác nói chung, trong nghiên cứu lịch sử nói riêng đều theo tinh thần như vậy, phải đấu tranh bảo vệ những quan điểm mácxít, chống việc xuyên
tạc, hạ thấp nội dung và ý nghĩa của nó
Trang 39c Nhận thức, nắm vững quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước để vận dụng vào nghiên cứu lịch sử
Quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước là sự cụ thể hóa, sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ chí Minh vào tình hình nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong từng thời kì, giai đoạn lịch sử, theo mục tiêu chung được xác định Vì vậy, việc nắm vững quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước trong nghiên cứu lịch sử giúp chúng ta nhận thức được: lịch sử đảng, lịch sử dân tộc, hiểu sâu sắc, phong phú hơn các vấn đề lịch sử có liên quan về một tài liệu sự kiện, khái quát lý luận từ cổ đại đến nay Vì vậy, khi nghiên cứu lịch sử cần phải tìm hiểu, sử dụng các tài liệu, văn kiện của Đảng, Nhà nước về các vấn đề có liên quan để có thêm tư liệu sự kiện và chủ yếu là phương
pháp nhận thức và giải quyết vấn đề
d Tính chiến đấu của khoa học lịch sử mácxít
Tính chiến đấu của khoa học lịch sử mácxít là một trong những biểu hiện cao nhất của tính đảng cộng sản chủ nghĩa Điều này là do tính giai cấp của khoa học lịch sử, tính chiến đấu của nó Như đã nói, không có sử học nào không đứng trên quan điểm lập trường của một giai cấp, không nhằm phục vụ cho lợi ích của giai cấp ấy Không chỉ các giai cấp thống trị sử dụng kiến thức lịch sử như một công cụ áp bức, một vũ khí chống nhân dân lao động mà nhân dân bị áp bức cũng biết dùng lịch sử làm vũ khí chống giai cấp thống trị Do đó, sử học bao giờ cũng thể hiện tính chiến đấu của mình trong cuộc đấu tranh chung của dân tộc, giai cấp Trong cuộc đấu tranh này, các khoa học xã hội, trong đó có lịch sử, giữ một vai trò quan trọng Bởi vì cách mạng là xóa cái cũ và dựng nên cái mới, chỉ xóa được cái cũ mới dựng nên được cái mới Trong lúc xóa cái cũ thì phải bắt tay xây dựng cái mới, lần đầu tiên ý thức con người phản ánh một cách trung thực, một cách khoa học sự vật bên ngoài, lần đầu tiên con người nhận thức được và biết vận dụng quy luật của xã hội để cải tạo xã hội, làm chủ đời sống, làm chủ lịch sử Đó
là lĩnh vực, đó là tác dụng của cách mạng tư tưởng và văn hóa, của các ngành khoa học xã hội rộng lớn và phong phú: triết học, kinh tế học, sử học, dân tộc học,
văn học, ngôn ngữ học, khoa học pháp lý…
Tính chiến đấu của nhà sử học mácxít thể hiện ở các mặt sau:
Thứ nhất, nắm vững nguyên lí của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta để nghiên cứu tìm ra chân lí lịch sử, chống mọi hình thức xuyên tạc lịch sử Đây là cuộc đấu tranh trên lĩnh vực sử học (về tài
liệu, sự kiện và quan điểm lý luận)
Thứ hai, đẩy mạnh các cuộc tranh luận khoa học để khắc phục sai lầm thiếu sót của mình để đạt được hiệu quả cao Không có tranh luận khoa học thì khoa
học không thể phát triển
Thứ ba, đem kết quả nghiên cứu phục vụ trực tiếp cho sự nghiệp cách mạng,
trong công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ đất nước
e Có tinh thần sáng tạo
Tính chiến đấu của nhà sử học mácxít không hề ngăn cản việc tiếp thu, kế thừa những di sản văn hóa tiến bộ của nhân loại, những truyền thống, tư tưởng tốt đẹp của cha ông, những thành tựu nghiên cứu của nước ngoài Tính chiến đấu thể hiện ở việc lựa chọn, kế thừa những cái hay, phê phán gạt bỏ những cái dở để đạt
Trang 40kết quả cao nhất trong nghiên cứu khoa học Song cần chống việc rập khuôn, giáo điều, công thức trong nghiên cứu lịch sử Điều này hoàn toàn không trái với việc tiếp thu tinh hoa, thành tựu nhân loại và dân tộc, nhất là việc nhận thức, quán triệt những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Bởi vì, Ph Ăngghen đã tùng viết rằng: “Phương pháp duy vật trở thành cái trái ngược với nó, nếu nó không được dùng làm nguyên tắc chỉ đạo trong việc nghiên cứu lịch sử mà lại bị đem áp dụng như một cái khuôn mẫu đóng sẵn, cứ rập khuôn
theo đó mà đẽo gọt sự kiện lịch sử”
Tinh thần sáng tạo trong nghiên cứu lịch sử thể hiện ở chỗ dựa trên cơ sở sự kiện cụ thể, bối cảnh, điều kiện đã nảy sinh ra nó, được giải thích theo quan điểm Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, để hiểu rõ những vấn đề lịch sử mỗi nước trong sự phát triển chung, hợp quy luật như phân kỳ lịch sử, nguyên nhân phát
sinh một sự kiện
Tính sáng tạo đòi hỏi phải có tư duy độc lập tự chủ để tiếp cận với sự thực lịch sử, phục vụ tốt nhất cuộc đấu tranh cho độc lập tự do, chủ nghĩa xã hội Điều này đã được V.I Lênin căn dặn rằng: “Chúng ta cần phải làm những việc mà các nhà lý luận chính trị thường xuyên phải làm: viết lịch sử hiện đại và ra sức làm cho việc viết sử của chúng ta giúp ích nhiều hơn cho những người tham gia trực tiếp vào phong trào và những anh hùng vô sản đang hoạt động trên các chiến trường, giúp việc lựa chọn một cách tự giác những phương pháp, phương thức và biện pháp đấu tranh ít tốn lực lượng mà có thể đạt được những kết quả to lớn nhất
và lâu dài nhất”
g Có ý thức tổ chức kỉ luật
Đảng của giai cấp vô sản là tổ chức tiên tiến nhất của giai cấp, nên có tổ chức, có kỷ luật chặt chẽ nhất Kỷ luật tăng thêm sức mạnh cho tổ chức để nhận thức khoa học tốt nhất Kỷ luật cao nhất đối với nhà sử học là luôn trung thành với
sự nghiệp cách mạng của dân tộc, giai cấp vô sản, phấn đấu phục vụ có kết quả cuộc đấu tranh trong cương vị và trách nhiệm của mình Vì vậy, tuyết đối phục tùng lợi ích của dân tộc, giai cấp, nhân loại tiến bộ là tiêu chuẩn để đánh giá phẩm
chất nhà sử học và điều kiện để nghiên cứu thành công
Ý thức tổ chức kỷ luật, là thuộc tính của việc nghiên cứu khoa học, không hề ngăn cản việc nghiên cứu tự phát mà củng cố hơn sự giác ngộ chính trị trong công
tác khoa học
Nội dung tính đảng của sự học mácxít còn có những vấn đề khác như: nhận thức mối quan hệ về dân tộc, giai cấp và thời đại, sự kết hợp sức mạnh dân tộc và quốc tế… Song những điều trình bày trên là nội dung cơ bản nhất mà chúng ta cần
phải hiểu rõ và quán triệt trong nghiên cứu
4.1.3 Sự thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học trong sử học
đề phương pháp và nội dung nghiên cứu khoa học Không thể tách tính khoa học