Sự ra đời nhà nước A-ten và quá trình hoàn thiện của nhà nước dân chủ chủ nô A-

Một phần của tài liệu Giáo trình lịch sử thế giới cổ đại (Trang 112 - 115)

a. Quá trình hình thành nhà nước A-ten

A-ten là quốc gia thành thị nằm trên bán đảo At-tích, thuộc Trung bộ Hy Lạp, diện tích khoảng 2.650km2. Đó là một vùng đồng bằng hẹp đất đai không phì nhiêu, nhiều đồi núi, khí hậu lại khô khan, lƣợng mƣa hàng năm không đáng kể. Bán đảo At-tích có nhiều đá quý, mỏ sắt, mỏ bạc, đất sét chất lƣợng cao và vùng bờ biển dài với nhiều vịnh và hải cảng thuận tiện cho sự phát triển và canh tác cây lương thực, nhưng lại rất thích hợp cho sự phát triển của nền kinh tế công thương nghiệp và mậu dịch hàng hải.

Từ xƣa dân cƣ ở At-tích gồm có 4 bộ lạc sống ở 4 khu vực khác nhau. Để quản lý công việc chung, mỗi bộ lạc có một Hội nghị quý tộc, gồm tộc trường

lực tối cao của bộ lạc. Trong đại hội nhân dân, không một người nào có thể chống lại ý chí của quần chúng mà tự quyết đoán lấy một mình.

A-ten phát triển tương đối sớm, quan hệ hàng hóa – tiền tệ ở đây đã phát triển từ lâu và rất nhanh. Con đường phát triển của A-ten như sau: lúc đầu một số quý tộc tách ra khỏi thị tộc, tích lũy khá nhiều của cải. Lúc đó dân tự do và nông dân dần bị quý tộc nô dịch và trong quá trình đó do bị nợ nần nên một số dần dần trở thành nô lệ. Nhƣ thế có nghĩa là chế độ nô lệ ở A-ten hình thành là do một số quý tộc tách ra khỏi thị tộc, tích lũy ra nhiều của cải, xã hội có giai cấp đã xuất hiện do sự phân hóa trong nội bộ A-ten: chủ nô và nô lệ.

Nông dân vùng At-tích bị nô dịch nợ nần; để trả nợ họ phải nộp 5/6 thu hoạch cho giai cấp chiếm hữu ruộng đất lớn. Những người không trả nợ đúng hạn bị đem bán làm nô lệ. Người A-ten từng nổi dậy chống lại ách nô dịch của quý tộc thị tộc và do cuộc đấu tranh ấy, đến thế kỷ VI TCN, con đường phát triển của xã hội có giai cấp đã chuyển biến nhanh chóng thông qua các cuộc cải cách.

b. Quá trình hoàn thiện của nhà nước dân chủ chủ nô A-ten (thế kỷ VII – thế kỷ VI TCN)

Quá trình hình thành chế độ nô lệ A-ten không có áp lực từ bên ngoài (chiến tranh), không do nhu cầu trị thủy… mà xuất hiện trên cơ sở tan rã của xã hội thị tộc và thông qua các cuộc cải cách: Cải cách của Tê-dê, Xô-lông, Cơ-lix- ten.

Qua cải cách, tàn dƣ của xã hội nguyên thủy bị đẩy lùi và bị thủ tiêu một cách triệt để. Cũng qua các cuộc cải cách này nhà nước A-ten được xây dựng và hoàn thiện theo hướng nhà nước dân chủ chủ nô_ một thể chế hết sức đề cao và đảm bảo những quyền lợi kinh tế, chính trị của những công dân tự do.

Một số cải cách quan trọng của Tê-dê

- dê thiết lập đƣợc cơ quan quản lí chung thay cho 4 cơ quan quản lí thị tộc cũ, phân vùng At-tich thành những khu vực hành chính gồm (48 địa khu), chia toàn thể cƣ dân trong bộ lạc thành 3 tẩng lớp: quí tộc, nông dân và thợ thủ công.

Đại hội nhân dân xƣa vẫn tồn tại nhƣng quyền lực thực tế nằm trong tổ chức Hội đồng Trưởng lão gồm đại biểu của quí tộc có quyền hành pháp, tư pháp và quyết định những việc hệ trọng. Chức vụ Ba-li-dơ bị bãi miễn thay bằng 9 viên chấp chính quan.

Luật Đ-rac-công (621TCN) ra đời, đƣợc khắc trên nhiều tấm đá để những nơi công cộng đã hạn chế phần nào việc xét xử độc đoán, tùy tiện và bất công của quí tộc, đánh dấu một bước tiến của nền dân chủ.

Như vậy sau cải cách chế độ thị tộc bước đầu bị tấn công và giải thể, đặt nền móng cho việc xây dựng nhà nước theo thiết chế cộng hòa quý tộc.

Một số cải cách quan trọng của Xô-lông

Trước khi cải cách, trên ruộng đất của rất nhiều nông dân đều có bia đá ghi rõ số nợ của nông dân và thời hạn phải trả nợ. Xô-lông ra lệnh thủ tiêu hết các bia đá đó – nhờ đó, nợ của nông dân cũng do đó mà xóa bỏ hết.

Xô-lông cấm dùng thủ đoạn bóc lột bằng cách cho vay nợ để biến dân tự do thành nô lệ. Cải cách này đã hạn chế quyền lực của quý tộc, củng cố nhà nước theo hương dân chủ, góp phần giải quyết mâu thuẫn gay gắt giữa bình dân và quý tộc mà nguy cơ có thể nổ ra một cuộc chiến tranh.

Xô-lông đã chia tất cả cƣ dân không kể nguồn gốc huyết tộc ra làm 4 đẳng cấp xã hội tùy theo tài sản nhiều hay ít, càng nhiều tài sản thì hưởng quyền chính trị càng lớn,: Từ 500 mê-đin thóc trở lên thuộc đẳng cấp thứ nhất, từ 300 trở lên thuộc đẳng cấp thứ 2, 200 trở lên đẳng cấp thứ 3, dưới 200 thuộc đẳng cấp thứ 4.

Những người thuộc đẳng cấp thứ nhất mới đủ tư cách tham giữ các chức vụ cao cấp trong nhà nước. Trong quân đội, đẳng cấp 1,2 được tham gia kị binh, 3,4 chỉ tham gia bộ binh. Với cải cách này ta thấy tƣ hữu tƣ sản đƣợc đề cao, góp phần làm tan rã chế độ thị tộc.

Về tổ chức bộ máy nhà nước Xô-lông tổ chức Đại hội nhân dân (công dân Aten thuộc cả 4 đẳng cấp đều đƣợc quyền tham gia). Thành lập hội đồng 400(

mỗi bộ lạc cử 100 người thuộc 3 đẳng cấp trên), Hội đồng chấp chính quan (do Đại hội nhân dân bầu ra). Tòa án nhân dân (gồm cả 4 đẳng cấp tham gia) với nhiều Bồi thẩm để tăng cường tính dân chủ.

Ngoài ra, Xô-lông còn cải cách về tiền tệ, khuyến khích trồng nho, ôliu, sản xuất đồ gốm, … tạo điều kiện cho quý tộc công thương phát triển.

*Với cải cách của Xô-lông, ta thấy chế độ thị tộc đã tan rã nhƣng tàn dƣ của nó vẫn còn; tƣ hữu tài sản đƣợc đề cao và quyền chính trị phụ thuộc vào tài sản của công dân

Với cách tổ chức bộ máy nhà nước mới ta thấy nhà nước được hoàn thiện hơn so với trước, và được dân chủ hóa hơn có lợi hơn cho bùnh dân.

Xô- lông xứng đáng là nhà cải cách nổi tiếng trong lịch sử Hy Lạp.

Quá trình hoàn thiện nhà nước dân chủ chủ nô A-ten của Cơ-lix-ten Cơ-lix-ten đƣợc bầu làm chấp chính quan vào năm 506 TCN. Để hoàn thành cải cách của Xô-lông, ông đã tiến hành phân chia khu vực hành chính mới. Căn cứ vào khu vực cƣ trú (chứ không căn cứ vào quan hệ thị tộc, bộ lạc) toàn bộ A-ten đƣợc chia ra làm 10 liên khu (phy-lai). Mỗi liên khu lại chia ra làm 10 khu. Việc phân chia khu vực hành chính này đã xóa bỏ hoàn toàn tàn dƣ của chế độ thị tộc.

Về mặt tổ chức nhà nước, Cơ-lix-ten đã thay Hội đồng 400 người thành Hội đồng 500 người (trên cơ sở mỗi khu cử vào 50 người), nhiệm kỳ 36 ngày (1/10 năm).

Để củng cố quyền lực của Đại hội công dân và nền dân chủ, Cơ-lix-ten cho thực hiện một số biện pháp nhằm loại bỏ những cá nhân có khuynh hướng độc tài (đã xuất hiện trong thời kỳ giữa hai cuộc cải cách của Xô-lông và Cơ- lix-ten). Ông lập ra qui định nhƣ sau: mỗi năm Hội nghị dân chúng họp một lần;

trong hội nghị tất cả các thành viên đều đƣợc phát biểu ý kiến riêng, thảo luận xem trong thành phố có ai có dã tâm làm độc tài hay không. Mỗi người dự hội nghị đƣợc phát một cái vỏ sò làm bằng đất để họ bí mật viết tên kẻ bị khả nghi là muốn làm độc tài vào đó. Sau khi kiểm phiếu, người nào có nhiều phiếu nhất (6.000 phiếu) buộc phải rời khỏi A-ten sau 10 ngày và trong thời hạn là 10 măm.

*Cải cách của Xô-lông và Cơ-lix-ten đã biến Aten thành dinh lũy dân chủ của Hy Lạp cổ đại. Sau cải cách, tất cả công dân A-ten đƣợc bảo đảm không bị biến thành nô lệ. Đó là cơ sở để A-ten ngày càng phát triển và phồn vinh về văn hóa và kinh tế. Có thể nói: trên thế giới lúc bấy giờ, kinh tế và văn hóa của A- ten đã phát triển đền đỉnh cao.

Một phần của tài liệu Giáo trình lịch sử thế giới cổ đại (Trang 112 - 115)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(196 trang)