ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- Người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương;
- Cán bộ y tế đang làm việc tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương;
- Bộ số liệu thứ cấp gồm kế hoạch và báo cáo thực hiện công tác GDSK năm
2019 và 6 tháng đầu năm 2020 của BVLKTƯ;
- Buổi GDSK nhóm tại các khoa lâm sàng
- Người bệnh điều trị nội trú trong thời gian nghiên cứu;
- Người bệnh có đầy đủ trí lực để trả lời câu hỏi;
- Người bệnh, cán bộ y tế đồng ý tham gia vào nghiên cứu;
- Các văn bản kế hoạch, báo cáo công tác GDSK năm 2019 và 6 tháng đầu năm 2020 của BVLKTƯ đã được cho phép tiếp cận;
- Buổi GDSK nhóm tại các khoa lâm sàng được diễn ra từ tháng 3/2020 đến tháng 7/2020
- Đối tượng nghiên cứu không thỏa mãn ít nhất 1 tiêu chuẩn lựa chọn;
- Người bệnh vào điều trị nội trú dưới 24h;
- Người bệnh khó khăn trong việc giao tiếp hoặc đang điều trị bệnh liên quan đến sức khỏe tâm thần.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 3 năm 2019 đến tháng 08 năm 2020 Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Lão khoa Trung ương, Hà Nội.
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang, có kết hợp giữa định lượng với định tính
Mục tiêu 1: Mô tả cắt ngang, quan sát và hồi cứu bộ số liệu thứ cấp các văn bản liên quan đến thực hiện công tác GDSK tại BVLKTƯ
Mục tiêu 2: Nghiên cứu định tính tiến hành phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với cán bộ y tế để xác định các yếu tố ảnh hưởng.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Mục tiêu 1: Phỏng vấn bệnh nhân, quan sát buổi GDSK nhóm và bộ số liệu thứ cấp
Cỡ mẫu cho phỏng vấn bệnh nhân điều trị nội trú được xác định bằng cách áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu cắt ngang của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).
Để đạt được độ tin cậy 95%, giá trị Z1-α/2 là 1,96 Sai số cho phép được xác định là 0,07, trong khi tỉ lệ sử dụng dịch vụ p được chọn là 0,5 để đảm bảo cỡ mẫu lớn nhất Áp dụng công thức, cỡ mẫu tính toán được là n = 196 Tuy nhiên, với 10% đối tượng có khả năng bỏ cuộc, cỡ mẫu cần thiết sẽ là 215 Cuối cùng, cỡ mẫu thực tế thu được là 213 bệnh nhân tham gia nghiên cứu.
+ Phương pháp chọn mẫu là bệnh nhân đang điều trị nội trú: Chọn mẫu ngẫu nhiên
Bệnh viện hiện có 10 khoa lâm sàng, trong đó 3 khoa như Cấp cứu và Đột quỵ, Hồi sức tích cực, và Sức khỏe tâm thần không tiến hành phỏng vấn bệnh nhân do tình trạng nặng và khó khăn trong giao tiếp Theo báo cáo năm 2019, số lượng bệnh nhân nội trú tại 7 khoa còn lại được chia thành 2 nhóm; nhóm 1 gồm 4 khoa: Thần Kinh Alzheimer, Tim mạch hô hấp, Nội tiết và cơ xương khớp, Phục hồi chức năng, với số bệnh nhân nội trú dao động từ 35 đến 45 bệnh nhân.
1 tháng, nhóm 2 gồm các khoa Nội chung, Ung bướu, Tim mạch can thiệp – ngoại
HUPH có số bệnh nhân từ 16 đến 20 tuổi, do đó, mẫu được chọn theo tỷ lệ 2:1 với 40 bệnh nhân từ các khoa nhóm 1 và 20 bệnh nhân từ các khoa nhóm 2 Quá trình chọn mẫu ngẫu nhiên dựa trên tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ diễn ra từ tháng 03/2020 đến tháng 07/2020 Danh sách bệnh nhân điều trị nội trú đáp ứng tiêu chuẩn được lập và sau khi thực hiện, cỡ mẫu thu được là 213 bệnh nhân.
Tổng số buổi quan sát GDSK dự kiến là 14 buổi tại 07 khoa lâm sàng, với mỗi khoa tổ chức 02 buổi Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19, thực tế chỉ có 12 buổi quan sát được thực hiện.
+ Bộ số liệu thứ cấp: Tất cả các văn bản có liên quan đến thực hiện công tác
GDSK tại BVLKTƯ trong thời gian năm 2019 và 6 tháng đầu năm 2020 mà nghiên cứu được phép tiếp cận
Mục tiêu 2 là tiến hành lựa chọn có chủ đích các đối tượng để thực hiện phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm Đã thực hiện 03 cuộc phỏng vấn sâu với sự tham gia của 01 lãnh đạo bệnh viện, 01 lãnh đạo phòng chức năng và 01 lãnh đạo khoa lâm sàng Ngoài ra, đã tổ chức 02 cuộc thảo luận nhóm, bao gồm 01 nhóm bác sĩ và 01 nhóm điều dưỡng/kỹ thuật viên.
Phương pháp thu thấp số liệu
Đối với bệnh nhân điều trị nội trú, phỏng vấn được thực hiện theo bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn Phiếu phỏng vấn này được xây dựng dựa trên quy trình tư vấn GDSK của BVLKTƯ 2018, đồng thời tham khảo bộ câu hỏi phỏng vấn bệnh nhân về công tác GSDK tại Bệnh viện E năm 2017 và Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2018.
Nhóm phỏng vấn người bệnh bao gồm 5 điều tra viên (ĐTV), trong đó có 2 cán bộ từ phòng điều dưỡng, 1 cán bộ từ phòng Kế hoạch tổng hợp, 1 cán bộ từ phòng Quản lý chất lượng và chủ nhiệm đề tài Tất cả các ĐTV đều là cử nhân điều dưỡng, có kinh nghiệm làm việc tại các phòng ban chức năng của bệnh viện và đã tham gia vào các hoạt động nghiên cứu khoa học.
Bệnh viện HUPH có kinh nghiệm trong việc phỏng vấn và đã được chủ nhiệm đề tài mời tham gia phỏng vấn người bệnh Chủ nhiệm đề tài cũng đã tổ chức tập huấn cho đội ngũ phỏng vấn về bộ câu hỏi được thiết kế sẵn.
Quan sát quy trình GDSK của nhân viên y tế được thực hiện thông qua phiếu quan sát đã được thiết kế sẵn, diễn ra liên tục từ đầu đến cuối buổi GDSK Phiếu quan sát này dựa trên bảng kiểm theo Quyết định 941/QĐ-BVLKTƯ, ngày 26/8/2018 của Bệnh viện Lão khoa Trung ương Đã có 12 buổi GDSK nhóm tại khoa lâm sàng được quan sát trực tiếp bởi chủ nhiệm đề tài.
Để tiếp cận và sử dụng các văn bản liên quan đến công tác GDSK của NVYT trong năm 2019 và 2020, cần liên hệ trước với lãnh đạo Bệnh viện cùng các phòng, ban chức năng.
Phương pháp thu thập số liệu định tính bao gồm việc xây dựng nội dung phỏng vấn sâu (PVS) với lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo phòng chức năng và lãnh đạo khoa lâm sàng Ngoài ra, thảo luận nhóm với nhân viên y tế (NVYT) tại các khoa lâm sàng cũng được thực hiện Thời gian cho mỗi cuộc phỏng vấn sâu khoảng 20 phút.
Trong vòng 30 phút, tại phòng làm việc của khoa lâm sàng ĐTNC, đã tiến hành ghi âm phỏng vấn với sự đồng ý của ĐTNC tham gia Thư ký đã ghi biên bản cuộc phỏng vấn.
Biến số nghiên cứu
Thiết kế các biến số nghiên cứu được xây dựng dựa trên Quyết định tổ chức tư vấn giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân và người nhà của bệnh nhân theo BVLKTƯ.
Nhóm biến số phỏng vấn người bệnh phản hồi về GDSK của nhân viên y tế bao gồm thông tin chung của người bệnh điều trị nội trú tại thời điểm nghiên cứu, như tuổi, giới tính, trình độ văn hóa, địa chỉ, nghề nghiệp, thời gian nằm viện, chế độ bảo hiểm y tế, bệnh chính và bệnh kèm theo.
Các yếu tố đánh giá chất lượng GDSK của nhân viên y tế bao gồm: thông tin về tình trạng sức khỏe hiện tại của bệnh nhân; chế độ vệ sinh và dinh dưỡng; khả năng tự theo dõi và chăm sóc bản thân; các biện pháp phòng bệnh; cũng như chế độ sinh hoạt và tập luyện nhằm thay đổi lối sống tích cực sau khi xuất viện.
Nhóm biến số xác định yếu tố ảnh hưởng đến GDSK của NVYT bao gồm 6 cấu phần của WHO, bao gồm cung cấp dịch vụ, nhân lực y tế, thông tin y tế, tài chính, và lãnh đạo quản lý Những yếu tố này có tác động trực tiếp đến đầu ra của hệ thống y tế, như nâng cao sức khỏe, đảm bảo công bằng cho người bệnh, và cải thiện hiệu quả trong điều trị.
Xử lý và phân tích số liệu
Dữ liệu định lượng sau khi thu thập sẽ được làm sạch và nhập vào máy tính thông qua phần mềm Epi Data 3.1 Tiếp theo, số liệu sẽ được phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 để cung cấp các thông tin mô tả.
+ Phần mô tả: Thể hiện tần số và tỷ của các biến trong nghiên cứu
Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác Giáo dục sức khỏe (GDSK) bao gồm nhân lực y tế, đào tạo kiến thức và kỹ năng GDSK cho nhân viên y tế (NVYT), cơ sở hạ tầng và trang thiết bị, cũng như tài liệu và tờ rơi phục vụ cho GDSK Ngoài ra, công tác quản lý, giám sát, cơ chế khen thưởng động viên và kinh phí cho hoạt động GDSK của NVYT đối với bệnh nhân nội trú tại bệnh viện cũng đóng vai trò quan trọng.
- Các thông tin định tính được gỡ băng theo từng cuộc PVS và trích dẫn ý kiến tiêu biểu trong phần trình bày kết quả nghiên cứu.
Đạo đức trong nghiên cứu
Đề cương Nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh của Trường Đại học Y tế công cộng phê duyệt theo Quyết định số 90/2020/YTCC-HD3, ban hành ngày 09/03/2020.
Nghiên cứu được Ban Lãnh đạo BVLKTƯ quan tâm, ủng hộ, cho phép thực hiện tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương HUPH
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thực trạng công tác giáo dục sức khoẻ của nhân viên y tế cho người bệnh nội trú tại bệnh viện Lão khoa Trung ương
3.1.1 Phản hồi của bệnh nhân điều trị nội trú về GDSK của NVYT
Nghiên cứu đã phỏng vấn 213 bệnh nhân nội trú, phân tích cho thấy các yếu tố cá nhân như giới tính, nhóm tuổi, thu nhập, trình độ học vấn, nghề nghiệp, địa lý bảo hiểm y tế và số lần điều trị được trình bày trong Bảng 3.1.
Bảng 3.1 Thông tin chung của người bệnh tham gia nghiên cứu (n= 213)
Kinh doanh, khác 31 14,6 Địa chỉ Nông thôn 104 48,8
Trung cấp, cao đẳng 27 12,7 Đại học trở lên 15 7,0
Số lần nằm viện tại Bệnh viện Lão khoa
Tỷ lệ bệnh nhân nữ tham gia nghiên cứu đạt 53,5%, cao hơn so với nam giới Trong số đó, cán bộ nghỉ hưu chiếm 48,8%, và 95,3% bệnh nhân có thẻ bảo hiểm y tế Hầu hết bệnh nhân mắc từ 1 đến 3 bệnh kèm theo, với tỷ lệ cao nhất là 49,8% bệnh nhân có 3 bệnh kèm theo Đặc biệt, 69,5% bệnh nhân đang điều trị lần đầu tại Bệnh viện LKTƯ.
Bảng 3.2 Tỷ lệ nội dung GDSK cho bệnh nhân điều trị nội trú (n!3)
Phản hồi của bệnh nhân điều trị nội trú về GDSK của NVYT
NVYT thông báo về tình hình sức khỏe hiện tại 7 3,3
NVYT hướng dẫn theo dõi dấu hiệu bất thường trong quá trình nằm viện (sốt nóng, rét, đau, mệt, hoang mang, lo sợ…) 17 8,0
NVYT hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn 2 0,9
NVYT hướng dẫn chế độ dinh dưỡng hợp lý, phù hợp với bệnh lý
(chế độ ăn nâng cao thể trạng, chế độ ăn bệnh lý) 20 9,4
NVYT hướng dẫn chế độ nghỉ ngơi phù hợp, tập phục hồi chức năng sớm để nhanh phục hồi và tăng cường vận động 22 10,3
NVYT hướng dẫn vệ sinh cá nhân 21 9,9
NVYT hướng dẫn một số biện pháp phòng trượt, ngã 23 10,8
NVYT hướng dẫn cách phòng bệnh 30 14,1
NVYT hướng dẫn thay đổi lối sống, thực hiện lối sống lành mạnh 37 17,4
Bảng 3.2 cho thấy tỷ lệ người bệnh không được nhân viên y tế (NVYT) tư vấn về giáo dục sức khỏe (GDSK) là khá cao, đặc biệt là trong nội dung hướng dẫn thay đổi lối sống và thực hiện lối sống lành mạnh, chiếm 17,4% Tỷ lệ thấp nhất là 0,9%, liên quan đến việc không được hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn Ngoài ra, có 3,3% người bệnh không được NVYT thông báo về tình hình sức khỏe hiện tại, 8,0% không được hướng dẫn theo dõi dấu hiệu bất thường, 9,4% không được hướng dẫn chế độ dinh dưỡng hợp lý, 9,9% không được hướng dẫn vệ sinh cá nhân, 10,3% không được hướng dẫn chế độ nghỉ ngơi và tập phục hồi chức năng sớm, 10,8% không được hướng dẫn về biện pháp phòng trượt ngã, và 14,1% không được hướng dẫn cách phòng bệnh.
Bảng 3.3 Cảm nhận của người bệnh về chất lượng GDSK (n!3)
Cảm nhận của bệnh nhân về chất lượng GDSK
Bình thường Rõ Rất rõ
NVYT thông báo về tình hình sức khỏe hiện tại 206 0 12
NVYT hướng dẫn theo dõi dấu hiệu bất thường trong khi nằm viện (sốt nóng, rét, đau, mệt, hoang mang, lo sợ…)
NVYT hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn (liều lượng thuốc, giờ, thời điển, cách dùng thuốc)
NVYT hướng dẫn chế độ dinh dưỡng hợp lý, phù hợp với bệnh lý (chế độ ăn, dinh dưỡng…)
NVYT hướng dẫn chế độ nghỉ ngơi phù hợp, tập phục hồi chức năng sớm để nhanh phục hồi
Bảng 3.3 trình bày hướng dẫn cho người bệnh về việc tự theo dõi sức khỏe, sử dụng thuốc an toàn, chế độ dinh dưỡng hợp lý và tập luyện phục hồi chức năng.
Tỷ lệ bệnh nhân cảm nhận rõ và rất rõ về hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn đạt 63,5%, trong khi tỷ lệ cảm nhận rất rõ chỉ là 27,9% Mức cảm nhận bình thường, không rõ và rất không rõ ở các nội dung giáo dục sức khỏe (GDSK) vẫn cao, với hướng dẫn theo dõi dấu hiệu bất thường là 21,4%, 5,6% và 1,0%; hướng dẫn chế độ dinh dưỡng hợp lý là 20,2%, 7,8% và 2,6%; và hướng dẫn nghỉ ngơi phù hợp, tập phục hồi chức năng sớm là 22,0%, 4,7% và 1,0%.
Bảng 3.4 Cảm nhận của người bệnh về chất lượng GDSK (n!3)
Cảm nhận của người bệnh về chất lượng GDSK n
Bình thường Rõ Rất rõ
NVYT hướng dẫn vệ sinh cá nhân trong khi nằm điều trị tại bệnh viện
(VS răng miệng, thân thể, bộ phận sinh dục
NVYT hướng dẫn một số biện pháp phòng trượt, ngã trong khi nằm điều trị tại bệnh viện
NVYT hướng dẫn cách phòng bệnh 183 3
30 (16,4) Ông/ bà có được NVYT hướng dẫn thay đổi lối sống, thực hiện lối sống lành mạnh
Trong số 213 người bệnh, có 47,9% và 13,5% cảm nhận rõ và rất rõ về nội dung hướng dẫn vệ sinh cá nhân Đối với hướng dẫn biện pháp phòng trượt ngã, tỷ lệ này lần lượt là 46,3% và 13,7% Tuy nhiên, tỷ lệ người bệnh cảm thấy bình thường, không rõ và rất không rõ về hai nội dung này vẫn còn cao, với hướng dẫn vệ sinh cá nhân đạt 27,1%; 10,4%; 1,0% và hướng dẫn phòng trượt ngã đạt 27,9%; 9,5%; 2,6%.
Tỷ lệ người bệnh rõ và rất rõ trong hướng dẫn phòng bệnh chiếm 44,3%, và 16,4% vẫn còn 1,6% và 8,2% người bệnh rất không rõ và không rõ ở nội dung này
Có 43,2% và 19,3% người bệnh nhận thấy rõ và rất rõ về nội dung hướng dẫn thay đổi lối sống, trong khi tỷ lệ người bệnh cảm thấy rất không rõ và không rõ về nội dung này chỉ là 0,6% và 6,3%.
Bảng 3.5 Người bệnh cảm nhận về quy trình GDSK của NVYT (n!3)
Cảm nhận của người bệnh về thực hiện quy trình
Bình thường Hài lòng Rất hài lòng
Cử chỉ cởi mở, không khí hấp dẫn của NVYT bắt đầu buổi
Cách giới thiệu về mình của
NVYT giúp người bệnh liên hệ với hoàn cảnh thực tế của bản thân
Bình thường Rõ Rất rõ
NVYT có nêu mục tiêu của buổi GDSK
NVYT trong buổi GDSK có nói đủ to để nghe rõ
Nội dung buổi GDSK có thích hợp với chủ đề chủ đề
NVYT sử dụng ngôn ngữ trong buổi GDSK
Rất không đơn giản, rất không dễ hiểu
Không đơn giản, không dễ hiểu
Bình thường Đơn giản, dễ hiểu
Rất đơn giản, rất dễ hiểu
NVYT tạo điều kiện để người nghe đặt câu hỏi
Rất không tạo điều kiện
Bình thường Tạo điều kiện
NVYT trả lời các câu hỏi
Rất không ngắn gọn, rất không đủ ý
Không ngắn gọn, không đủ ý
Rất ngắn gọn, rất đủ ý
Bảng 3.5 cho thấy đa số người bệnh cảm nhận các nội dung NVYT trong quy trình GDSK đạt mức rõ ràng hoặc hài lòng, với 52,1% hài lòng về việc giúp người bệnh liên hệ với bản thân và 57,7% hài lòng với cử chỉ cởi mở của NVYT Tỷ lệ người bệnh rất hài lòng về các nội dung này dao động từ 16,4% đến 24,4%, cho thấy NVYT đã thực hiện tốt giao tiếp Tuy nhiên, tỷ lệ người bệnh cảm nhận mục tiêu buổi GDSK là rất không rõ, không rõ và bình thường lần lượt là 0,5%, 5,6% và 26,8%, cho thấy một số NVYT có thể chưa chú ý đến việc nêu rõ mục tiêu Đặc biệt, 31,9% người bệnh cảm nhận nội dung thích hợp với chủ đề ở mức bình thường, điều này có thể ảnh hưởng lớn đến cảm nhận của họ về công tác GDSK, do đó cần tìm hiểu sâu hơn để xác định nguyên nhân.
72,8% và 14,6% người bệnh cảm thấy hài lòng và rất hài lòng với nội dung NVYT sử dụng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu Tỷ lệ người bệnh đánh giá cao việc NVYT tạo điều kiện cho họ đặt câu hỏi và nhận được câu trả lời lần lượt là 62,0%, 14,6% và 65,7%, 16,4% Điều này cho thấy NVYT cần duy trì phong độ và phát huy những điểm mạnh hiện có trong việc thực hiện GDSK.
3.1.2 Thực hiện công tác GDSK trong năm 2019-2020
Bệnh viện đã triển khai công tác tư vấn giáo dục sức khỏe (GDSK) theo Quyết định số 941/QĐ-BVLKTƯ ngày 16 tháng 8 năm 2018, quy định tổ chức tư vấn GDSK cho người bệnh và người nhà Quyết định này kèm theo quy trình giáo dục sức khỏe cho nhóm, quy trình cho cá nhân người bệnh và Bảng kiểm thực hiện quy trình Bệnh viện cũng đã xây dựng quy định về việc tổ chức tư vấn GDSK, phân công hướng dẫn các khoa phòng thực hiện.
Bảng 3.6 Tần suất thực hiện công tác GDSK nhóm của các khoa lâm sàng
Thực hiện Chỉ tiêu số buổi
Nội tiết cơ xương khớp 12 4 33,3 12 0 0
Tỷ lệ số buổi GDSK nhóm 6 tháng năm 2019 tại 10 khoa lâm sàng so với kế hoạch 6 tháng/ 2019 đạt 24,1% 6 tháng 2020 GDSK nhóm tại 10 khoa lâm sàng so
Trong 6 tháng đầu năm 2020, HUPH chỉ đạt 16,6% kế hoạch do ảnh hưởng của dịch Covid-19 Tuy nhiên, khoa Cấp cứu và đột quỵ cùng khoa Thần kinh và Alzheimer đã đạt tỷ lệ cao nhất, từ 41,6% đến 58,3%, nhờ vào sự lãnh đạo tích cực và nỗ lực làm việc nghiêm túc của nhân viên y tế Mặc dù vậy, một số khoa vẫn chưa thực hiện được kế hoạch GDSK, cần tiến hành tìm hiểu nguyên nhân để đưa ra các biện pháp khắc phục trong thời gian tới.
Công tác giáo dục sức khỏe (GDSK) cho người bệnh ngoại trú tại khoa khám bệnh định kỳ hàng năm được thực hiện thông qua việc xây dựng các video và băng đĩa GDSK, phát trên màn hình tivi tại các sảnh chờ và khu vực công cộng trong bệnh viện Những nội dung này giúp người bệnh và người nhà theo dõi thông tin sức khỏe một cách thuận tiện Bên cạnh đó, việc phát tờ rơi và poster cũng góp phần nâng cao nhận thức về GDSK.
Công tác GDSK cho người bệnh nội trú được thực hiện bởi các khoa lâm sàng, nơi có bệnh nhân điều trị Mỗi khoa xây dựng kế hoạch GDSK thường quy và thực hiện GDSK cá nhân thông qua khám, điều trị và chăm sóc bệnh nhân GDSK theo nhóm được tổ chức lồng ghép vào các buổi họp hội đồng người bệnh, tuân theo quy trình và bảng kiểm GDSK do bệnh viện ban hành Phòng Điều dưỡng và Kế hoạch tổng hợp giám sát hoạt động này, dựa trên tài liệu được bệnh viện phát hành vào tháng 3 năm 2017.
3.1.3 Thực trạng công tác GDSK nhóm tại khoa lâm sàng
Bảng 3.7 Thực trạng NVYT thực hiện quy trình chuẩn bị buổi GDSK nhóm
Nội dung Không thực hiện Tỷ lệ %
Sắp xếp chỗ ngồi hợp lý 0 0,0
Mời bệnh nhân tham dự đầy đủ 0 0,0
NVYT thực hiện giáo dục sức khỏe chuẩn bị nội dung, trang phục lịch sự 0 0,0
Các nội dung chuẩn bị cho buổi GDSK nhóm tại khoa lâm sàng, không có nội dung nào không được thực hiện
Bảng 3.8 Thực trạng NVYT thực hiện quy trình chuẩn bị buổi GDSK nhóm
Thực hiện quy trình chuẩn bị buổi GDSK nhóm
Chưa đạt hay chưa phù hợp Đạt hay phù hợp
Tốt hay rất phù hợp n % n % n %
Sắp xếp chỗ ngồi hợp lý 3 25,0 8 66,7 1 8,3
Mời bệnh nhân tham dự đầy đủ 7 58,4 4 33,3 1 8,3
NVYT thực hiện giáo dục sức khỏe chuẩn bị nội dung, trang phục lịch sự
Trong buổi GDSK, 83,3% các nhóm đã chuẩn bị nội dung và trang phục lịch sự, không có buổi nào bị đánh giá là chưa đạt Tuy nhiên, 58,4% các khoa chưa mời bệnh nhân tham dự đầy đủ do không lập danh sách và không gửi giấy mời, dẫn đến việc không kiểm soát được đối tượng tham gia Ngoài ra, 25,0% các khoa chưa sắp xếp chỗ ngồi hợp lý vì không có phòng GDSK riêng, phải tổ chức tại phòng giao ban, gây khó khăn trong việc bố trí.
HUPH được chỗ ngồi hợp lý khi người bệnh ngồi nghe GDSK Các yếu tố trên có thể là nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng buổi GDSK nhóm
Bảng 3.9 Thực trạng NVYT thực hiện quy trình GDSK nhóm (n = 12)
Nội dung Không thực hiện
Bắt đầu hấp dẫn, không khí buổi nói chuyện cởi mở, thân mật 0 0,0
Chào hỏi, làm quen với đối tượng 0 0,0
NVYT giới thiệu về mình 0 0,0
NVYT gới thiệu chủ đề giáo dục sức khỏe, tạo sự chú ý của người nghe 0 0,0
NVYT nêu rõ mục tiêu của buổi GDSK 0 0,0
Nói đủ to để mọi người nghe rõ 0 0,0
Trình bày nội dung thích hợp với chủ đề 0 0,0
NVYT quan sát, bao quát được đối tượng người nghe 0 0,0
Sử dụng ngôn ngữ đơn giản dễ hiểu 0 0,0
Sử dụng tài liệu, phương tiện phù hợp 1 8,3
Nêu ví dụ cho người nghe dễ hiểu 0 0,0
NVYT kết hợp sử dụng ngôn ngữ không lời 3 25,0
Tạo điều kiện cho người nghe đặt câu hỏi 0 0,0
Giúp người bệnh kết nối với hoàn cảnh thực tế của họ là rất quan trọng Cần trả lời các câu hỏi của người nghe một cách ngắn gọn và đầy đủ ý Nhân viên y tế nên tóm tắt nội dung mấu chốt của từng phần trình bày để đảm bảo thông tin được truyền đạt hiệu quả.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác GDSK của NVYT cho người bệnh nội trú tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành 3 cuộc phỏng vấn sâu với lãnh đạo bệnh viện và 2 cuộc thảo luận nhóm với nhân viên y tế để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tư vấn GDSK cho bệnh nhân nội trú tại bệnh viện Lão khoa Trung ương Kết quả cho thấy có nhiều yếu tố tác động đến hiệu quả của công tác tư vấn này.
Công tác tư vấn GDSK cho bệnh nhân nội trú tại bệnh viện LKTƯ được thực hiện qua hai hình thức: GDSK cá nhân và GDSK nhóm Nhân viên y tế (NVYT) thực hiện GDSK trong quá trình thăm khám và chăm sóc bệnh nhân, đặc biệt chú trọng đến bệnh lý Parkinson và các bệnh mạn tính khác Tư vấn GDSK diễn ra khi NVYT đi buồng và trực, tập trung vào bệnh thần kinh, nội khoa và lão khoa Tại khoa Nội tiếp cơ xương khớp, NVYT cung cấp thông tin cho bệnh nhân về bệnh tiểu đường thông qua các hoạt động trao đổi trực tiếp và tài liệu hỗ trợ.
HUPH sẽ tư vấn về chế độ ăn và cung cấp kiến thức về bệnh, cách dùng thuốc, cũng như giữ gìn sức khỏe cho bệnh nhân Theo ý kiến của nhân viên y tế tại khoa Sức khỏe tâm thần, GDSK được thực hiện từ khi bệnh nhân vào viện, bao gồm cả bệnh nhân và người nhà Hàng ngày, khoa GDSK cung cấp thông tin cho bệnh nhân nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe Các điều dưỡng thực hiện tốt nhiệm vụ này nhờ có sự hướng dẫn từ khoa, và đối với những bệnh nhân đặc biệt, sẽ có các buổi chăm sóc kết hợp tư vấn phù hợp.
3.2.1 Nhân lực NVYT tham gia GDSK
Nhân lực y tế, bao gồm bác sĩ, điều dưỡng và kỹ thuật viên, đóng vai trò quan trọng trong việc tư vấn giáo dục sức khỏe (GDSK) Đây được xác định là một trong những nhiệm vụ thường quy của nhân viên y tế, bên cạnh công tác khám, điều trị và chăm sóc bệnh nhân Bộ Y tế cũng quy định rằng việc động viên tinh thần và tư vấn GDSK cho bệnh nhân là trách nhiệm của cán bộ y tế, đặc biệt trong lĩnh vực khoa Thần kinh và Alzheimer.
“Đã có văn bản quy định đầy đủ cho nhiệm vụ GDSK, cố gắng tận dụng tối đa nguồn lực của khoa để GDSK cho người bệnh” – (PVS 2)
Để thực hiện tốt nhiệm vụ GDSK, yếu tố nguồn lực đóng vai trò quan trọng Qua thảo luận nhóm, ý kiến từ nhân viên y tế (NVYT) cho thấy rằng hiệu quả của nhiệm vụ này không phụ thuộc vào thâm niên công tác mà chủ yếu dựa vào ý thức thực hiện nhiệm vụ của NVYT, đặc biệt là từ khoa Nội tiết cơ xương khớp.
“Hoạt động GDSK thường do tự phát, tuy chuẩn quy trình chăm sóc có
GDSK, nhưng vẫn chủ yếu là từ bản thân điều dưỡng có chú trọng đến vấn đề đó hay không” – (PVS 3)
Áp lực công việc và kiến thức kỹ năng trong lĩnh vực giáo dục sức khỏe (GDSK) là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả tư vấn GDSK cho bệnh nhân GDSK cần được thực hiện song song với việc khám, điều trị và chăm sóc bệnh nhân, do đó, nhân viên y tế (NVYT) phải dành thời gian làm việc cho nhiệm vụ này Theo ý kiến của khoa Nội tiết cơ xương khớp, việc cân bằng giữa các nhiệm vụ là rất cần thiết để nâng cao chất lượng tư vấn GDSK.
Điều dưỡng hiện tại chưa có chuyên môn về Giáo dục sức khỏe (GDSK) và chưa có quy chuẩn cụ thể cho hoạt động GDSK của điều dưỡng đối với bệnh nhân Công việc tại khoa rất bận rộn, dẫn đến khó khăn trong việc tập trung vào hoạt động này.
Tại HUPH, với số lượng bệnh nhân đông, điều dưỡng thường lồng ghép giáo dục sức khỏe (GDSK) trong quá trình làm việc GDSK được thực hiện ngay khi có cơ hội, mà chưa có quy định cụ thể về thời gian cho hoạt động này.
Khoa Thần kinh và Alzheimer thì có ý kiến về vị trí công tác của NVYT:
Vị trí làm việc không cố định yêu cầu tham gia ở nhiều địa điểm, bao gồm cả bệnh phòng và phòng khám, điều này gây khó khăn cho việc thực hiện GDSK một cách sâu sắc Một lãnh đạo phòng chức năng cũng đã chia sẻ quan điểm tương tự trong cuộc phỏng vấn sâu.
Bệnh viện Lão khoa TƯ có số lượng bệnh nhân đông và đa dạng về mặt bệnh, dẫn đến việc thực hiện công tác GDSK cho từng cá nhân gặp nhiều khó khăn Nhân viên y tế (NVYT) cần nắm vững kiến thức và hiểu rõ vấn đề của bệnh nhân, nhưng do phải dành nhiều thời gian cho công tác chuyên môn, họ thường không có đủ thời gian để thực hiện GDSK một cách sâu sắc.
Bệnh viện chú trọng công tác đào tạo về GDSK, đặc biệt là cho đội ngũ điều dưỡng, trong khi chưa có chương trình đào tạo cho bác sĩ Một số khoa lâm sàng, như khoa Sức khỏe tâm thần, đã chủ động thực hiện tự đào tạo nhân lực GDSK để nâng cao chất lượng dịch vụ.
Trong những năm gần đây, các điều dưỡng mới nhận công tác tại bệnh viện được đào tạo về GDSK và cấp chứng chỉ Đồng thời, các khoa cũng tự xây dựng nội dung và tự đào tạo cho nhân viên y tế của mình.
3.2.2 Thông tin tài liệu, cơ sở hạ tầng trang thiết bị phụ vụ cho GDSK
Cơ sở vật chất và trang thiết bị có ảnh hưởng lớn đến công tác tư vấn GDSK cho bệnh nhân nội trú tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Lão khoa Trung ương nổi bật với cơ sở vật chất khang trang và trang thiết bị đồng bộ, đáp ứng nhu cầu của ngành lão khoa toàn quốc Tuy nhiên, diện tích bệnh viện còn hạn chế và mới thành lập hơn 10 năm, nên hiện tại, bệnh viện đang tập trung đầu tư vào cơ sở hạ tầng phục vụ cho khám, chẩn đoán và điều trị Lãnh đạo bệnh viện cũng đã chia sẻ về những nỗ lực này.
Hiện nay, nhiều bệnh viện gặp khó khăn do diện tích hạn chế, thiếu phòng họp cho công tác giáo dục sức khỏe (GDSK) và trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho GDSK còn chưa đầy đủ.
HUPH là một viện mới thành lập hơn 10 năm, hiện đang trong giai đoạn xây dựng và phát triển Viện đang đối mặt với nhiều khó khăn, với phần lớn kinh phí được đầu tư cho việc xây dựng hạ tầng và trang thiết bị phục vụ cho điều trị bệnh nhân.
BÀN LUẬN
Thực trạng công tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh nội trú của nhân viên y tế
Công tác GDSK cho người bệnh nội trú tại bệnh viện LKTƯ bao gồm ba hình thức: GDSK cấp bệnh viện, GDSK nhóm tại khoa lâm sàng và GDSK cá nhân Hình thức GDSK cấp bệnh viện diễn ra hàng tháng thông qua họp hội đồng người bệnh, nhưng tần suất thấp khiến cơ hội tiếp cận của người bệnh hạn chế và không hiệu quả Ngược lại, GDSK nhóm tại các khoa lâm sàng và tư vấn GDSK cá nhân cho người bệnh đã cho thấy hiệu quả tích cực hơn trong việc nâng cao sức khỏe cho bệnh nhân nội trú.
Nghiên cứu đánh giá công tác giáo dục sức khỏe (GDSK) cho bệnh nhân nội trú tại bệnh viện LKTƯ, bao gồm hai hình thức GDSK: cá nhân và nhóm Đối với GDSK cá nhân, 213 bệnh nhân đã được phỏng vấn về chất lượng GDSK của nhân viên y tế (NVYT) và cảm nhận của họ theo thang đo Likert 5 mức Đối với GDSK nhóm, nghiên cứu quan sát 12 buổi GDSK tại các khoa lâm sàng, đánh giá quy trình GDSK của NVYT qua ba bước: chuẩn bị, thực hiện và kết thúc buổi GDSK, cùng với việc xem xét cơ sở vật chất và tài liệu hỗ trợ Để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến công tác GDSK, nghiên cứu đã tổ chức hai cuộc thảo luận nhóm với NVYT và phỏng vấn sâu lãnh đạo phòng chức năng, lãnh đạo khoa lâm sàng và lãnh đạo bệnh viện.
4.1.1 Công tác GDSK cho người bệnh của NVYT qua phỏng vấn người bệnh
Trong nghiên cứu, tổng số người bệnh tham gia là 213, trong đó 53,5% là nữ, tương tự như nghiên cứu của Trần Thị Hương Trà tại BV LKTƯ năm 2018 Đối tượng chủ yếu là người từ 60 tuổi trở lên, chiếm 86,3%, với 48,8% là cán bộ viên chức hưu trí và 51,2% sống ở thành phố Tỷ lệ người có bảo hiểm y tế đạt 95,3%, cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của chính sách bảo hiểm y tế hiện nay Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh mạn tính cao, với 27,7% người bệnh mắc từ 2 bệnh kèm theo trở lên và 49,8% mắc từ 3 bệnh trở lên, phản ánh tình trạng lão hóa và dễ bị tổn thương của người cao tuổi.
Chất lượng công tác GDSK rất quan trọng, vì nó cung cấp thông tin phản hồi cho lãnh đạo bệnh viện, khoa phòng và nhân viên y tế Những phản hồi này giúp họ nhận biết nhu cầu của mình và đánh giá các ưu điểm cũng như những tồn tại, từ đó rút ra kinh nghiệm cải thiện công tác GDSK.
Theo quy định của Bộ Y tế và Bệnh viện LKTƯ, người bệnh có quyền được nhân viên y tế tư vấn về giáo dục sức khỏe (GDSK) Nội dung tư vấn bao gồm hướng dẫn tự theo dõi sức khỏe, sử dụng thuốc an toàn, chế độ dinh dưỡng, vệ sinh, tập luyện phục hồi chức năng, và biện pháp phòng chống trượt ngã trong bệnh viện Nghiên cứu phỏng vấn 213 người bệnh cho thấy tỷ lệ 0,9% người bệnh không được hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn, đây là tỷ lệ thấp nhất trong các nội dung GDSK chưa được thực hiện Hướng dẫn sử dụng thuốc là một trong những nhiệm vụ chuyên môn quan trọng của điều dưỡng, theo tác giả Trần Thị Hương Trà (2018) tại Bệnh viện LKTƯ.
Việc tuân thủ thời gian và hướng dẫn sử dụng thuốc của điều dưỡng đạt 89,6%, cho thấy sự cần thiết trong việc đào tạo kỹ năng và phương pháp giáo dục sức khỏe (GDSK) cho nhân viên y tế (NVYT) Khi NVYT biết cách động viên và khuyến khích bệnh nhân, điều này sẽ cải thiện đáng kể kết quả phản hồi từ bệnh nhân và người nhà, từ đó nâng cao chất lượng GDSK trong bệnh viện Khảo sát của Nguyễn Phương Thảo cho thấy nhiều bệnh nhân mong muốn được GDSK sâu hơn về bệnh tật và có ý kiến về thái độ của NVYT cũng như cơ sở vật chất và hình thức GDSK phù hợp Các nội dung hướng dẫn tự theo dõi sức khỏe, sử dụng thuốc an toàn, chế độ dinh dưỡng và tập phục hồi chức năng được bệnh nhân cảm nhận rõ ràng, với tỷ lệ từ 49,0% đến 63,5% Tuy nhiên, mức cảm nhận về hướng dẫn theo dõi dấu hiệu bất thường, chế độ dinh dưỡng hợp lý và nghỉ ngơi phù hợp còn thấp, có thể do tài liệu và quy định GDSK của bệnh viện chưa đầy đủ.
Tỷ lệ người bệnh hiểu rõ về hướng dẫn vệ sinh cá nhân khi nằm viện chỉ đạt 47,9%, trong khi 1% người bệnh cảm thấy rất không rõ về nội dung này Đối với hướng dẫn biện pháp phòng trượt ngã, có 2,6% người bệnh rất không rõ và 46,3% người bệnh hiểu rõ Nhân viên y tế (NVYT) chưa chú trọng vào việc tư vấn các nội dung hướng dẫn vệ sinh cá nhân và phòng trượt ngã cho người cao tuổi, mà chủ yếu tập trung vào các vấn đề liên quan đến bệnh tật và tâm lý lo lắng của bệnh nhân.
Theo tác giả Nguyễn Phương Thảo- 2018 bệnh viện E Hà Nội có tỷ lệ người bệnh được hướng dẫn cách chăm sóc chế độ sinh hoạt thấp hơn chỉ đạt 25,0% (6)
Nội dung tư vấn chế độ ăn uống là một trong những vấn đề quan trọng mà nhân viên y tế (NVYT) chú trọng trong tư vấn giáo dục sức khỏe (GDSK) Tuy nhiên, tỷ lệ tư vấn của NVYT trong lĩnh vực này chỉ đạt 25,43% Một nghiên cứu trên 213 bệnh nhân cho thấy có 10,3% bệnh nhân không được hướng dẫn về chế độ nghỉ ngơi và phục hồi chức năng, 10,8% không được tư vấn biện pháp phòng trượt ngã, 14,1% không được hướng dẫn cách phòng bệnh, và 17,4% không được chỉ dẫn về thay đổi lối sống để thực hiện lối sống lành mạnh Đặc biệt, tỷ lệ không được tư vấn cao hơn ở các nội dung phòng bệnh và thay đổi lối sống, cho thấy NVYT thường chỉ tư vấn những nội dung này cho bệnh nhân sắp ra viện Nguyên nhân có thể do tài liệu và quy định của bệnh viện chưa bao gồm các nội dung này trong tư vấn GDSK.
Công tác phòng bệnh và thay đổi thói quen xấu thành lối sống tích cực là rất quan trọng trong giáo dục sức khỏe Tại bệnh viện LKTƯ, chỉ có 44,3% người bệnh hiểu rõ hướng dẫn phòng bệnh, trong khi 43,2% cảm nhận rõ về việc thay đổi lối sống Tỷ lệ này còn thấp do nhân viên y tế chủ yếu tập trung vào tư vấn về bệnh Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Phương Thảo (2018) tại bệnh viện E Hà Nội, khi chỉ có 43,10% người bệnh được tư vấn về cách phòng tránh và điều trị.
Nghiên cứu đánh giá nhân viên y tế tư vấn GDSK cho cá nhân người bệnh cho thấy đa số người bệnh cảm nhận quy trình GDSK đạt mức rõ ràng và hài lòng Cụ thể, 52,1% người bệnh hài lòng với nội dung giúp họ liên hệ với bản thân, trong khi 72,8% người bệnh đánh giá cao việc nhân viên y tế sử dụng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu.
Công tác tư vấn GDSK cho bệnh nhân tại BV LKTƯ đã đạt được những kết quả tích cực, mang lại sự hài lòng cho người bệnh và góp phần quan trọng vào quá trình chăm sóc và điều trị.
4.1.2 Công tác GDSK nhóm tại khoa lâm sàng
Trong 6 tháng đầu năm 2020, tổng số buổi GDSK chưa đạt kế hoạch, với hầu hết các khoa chỉ đạt tỷ lệ từ 0% đến 29,1% so với 20 buổi dự kiến Nguyên nhân chủ yếu là do tình hình dịch Covid-19 toàn cầu, đặc biệt là tại Hà Nội, dẫn đến việc bệnh viện bị ảnh hưởng nghiêm trọng Trong tháng 3 và tháng 4, bệnh viện chỉ còn 4 khoa hoạt động điều trị bệnh nhân do thực hiện giãn cách xã hội Mặc dù gặp khó khăn, khoa Cấp cứu và đột quỵ cùng khoa Thần Kinh Alzheimer vẫn đạt tỷ lệ từ 20,8% đến 29,1%.
GDSK cho người bệnh nội trú được thực hiện trực tiếp tại các khoa lâm sàng, nơi có bệnh nhân điều trị Khoa lâm sàng xây dựng kế hoạch GDSK thường quy và thực hiện GDSK cá nhân thông qua khám, điều trị và chăm sóc bệnh nhân GDSK theo nhóm được tổ chức lồng ghép vào các buổi họp hội đồng người bệnh, tuân theo quy trình và bảng kiểm GDSK do bệnh viện ban hành Phòng Điều dưỡng và Kế hoạch tổng hợp giám sát hoạt động này dựa trên tài liệu được bệnh viện phát hành vào tháng 3 năm 2017.
Hình thức GDSK nhóm tại các khoa lâm sàng được tổ chức theo kế hoạch với tần suất 2 buổi mỗi tháng, kết hợp với họp hội đồng người bệnh GDSK nhóm mang lại lợi ích lớn khi cung cấp thông tin cho nhiều bệnh nhân và người nhà, giúp nhân viên y tế chuẩn bị bài GDSK một cách hoàn chỉnh với trang thiết bị hỗ trợ như tờ rơi và hình ảnh, từ đó tiết kiệm thời gian cho cả nhân viên và bệnh nhân Tuy nhiên, nhược điểm là chỉ có 2 buổi mỗi tháng, dẫn đến một số bệnh nhân không được mời do thời gian nằm viện ngắn, trong khi nội dung GDSK đôi khi không phù hợp với nhu cầu cụ thể của bệnh nhân Ngoài ra, bệnh nhân và người nhà phải dành từ 30 đến 45 phút để tham gia, điều này có thể gây khó khăn cho những người không thể ngồi lâu.
Nghiên cứu quan sát 12 buổi giáo dục sức khỏe nhóm tại các khoa lâm sàng của bệnh viện LKTƯ, nhằm đánh giá quy trình giáo dục sức khỏe nhóm theo bảng kiểm của bệnh viện Quy trình này được thực hiện bởi nhân viên y tế và bao gồm 3 giai đoạn.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện công tác GDSK người bệnh nội trú của NVYT
Giám đốc bệnh viện Lão khoa Trung ương đã ban hành quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của người bệnh và nâng cao chất lượng phục vụ, cụ thể là “Quy định tổ chức tư vấn giáo dục sức khoẻ cho người bệnh và người nhà người bệnh”.
Tất cả nhân viên y tế (NVYT) đều kiêm nhiệm công tác giáo dục sức khỏe (GDSK), nhưng công việc chính của họ là khám, điều trị và chăm sóc, điều này ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của buổi GDSK Việc nâng cao trình độ chuyên môn cho NVYT là rất cần thiết, đặc biệt khi tỷ lệ nhân viên có trình độ trung cấp và cao đẳng chiếm ưu thế, trong khi họ chưa được đào tạo về GDSK, dẫn đến tâm lý tự ti và ảnh hưởng đến chất lượng GDSK cho người bệnh Để nâng cao chất lượng hoạt động, cần tập trung vào đào tạo kiến thức và kỹ năng truyền thông GDSK, cũng như kỹ năng viết tin bài và lập kế hoạch cho cán bộ viện chức của phòng truyền thông GDSK tuyến huyện.
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hiến chỉ ra rằng, thực trạng giáo dục sức khỏe (GDSK) ở tuyến huyện đang gặp khó khăn do thiếu hụt nhân lực về số lượng và trình độ chuyên môn Nhiều cán bộ chưa được đào tạo, dẫn đến hiệu quả công việc chưa cao Sự thiếu hụt và không ổn định của nhân lực đã ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng GDSK tại các đơn vị.
Phản hồi của nhân viên y tế (NVYT) về công tác giáo dục sức khỏe (GDSK) là rất quan trọng để các khoa, phòng và đơn vị liên quan hiểu rõ những khó khăn mà NVYT gặp phải, từ đó cải tiến và nâng cao chất lượng GDSK trong bệnh viện Tuy nhiên, thực tế cho thấy NVYT hiếm khi phản hồi về những thuận lợi và khó khăn trong công tác này Nguyên nhân chủ yếu là do lãnh đạo bệnh viện và các khoa phòng bận rộn, không nắm bắt được những thách thức mà NVYT thường xuyên đối mặt Bên cạnh đó, NVYT cũng ngại phản hồi do tâm lý "có gì dùng đấy", điều này ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng GDSK.
Cơ sở vật chất và trang thiết bị là yếu tố quan trọng trong tổ chức buổi GDSK nhóm tại khoa lâm sàng Hiện tại, 100% các khoa lâm sàng không có phòng GDSK riêng, không có loa đài, không lập danh sách bệnh nhân và không gửi giấy mời cho bệnh nhân tham dự Việc thiếu phòng riêng khiến các khoa phải sử dụng CSVC tại phòng hành chính hoặc buồng bệnh, gây khó khăn trong quá trình GDSK Nếu được trang bị đầy đủ, CSVC và TTB sẽ giúp nâng cao hiệu quả GDSK và giúp người nghe tiếp thu kiến thức tốt hơn Các khoa đã bố trí đủ ghế ngồi cho bệnh nhân tham gia, nhưng 83,3% vẫn chưa chuẩn bị tài liệu bài giảng, 58,4% không có máy chiếu, và 41,7% thiếu băng hình, tờ rơi, tranh ảnh Sự thiếu hụt mô hình, dụng cụ và thiết bị ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả GDSK Cả hai hình thức GDSK nhóm và cá nhân đều còn nhiều hạn chế, công tác giáo dục sức khỏe chưa được quan tâm đúng mức, và NVYT chưa nhận thức được tầm quan trọng của tư vấn GDSK trong chăm sóc và điều trị Sự quan tâm của lãnh đạo khoa đến công tác này là rất cần thiết.
GDSK còn hạn chế, trang thiết bị và công cụ GDSK chưa được quan tâm trú trọng đầu tư nâng cấp
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hiến chỉ ra rằng tình trạng trang thiết bị phục vụ hành chính tại các tuyến huyện thiếu hụt nghiêm trọng, với hơn 50% thiếu thốn và 70% trang thiết bị tác nghiệp không đủ, dẫn đến hiệu quả giáo dục sức khỏe (GDSK) chưa cao Tình trạng này cũng diễn ra tại các bệnh viện lớn như Bạch Mai, Việt Đức, Nhi trung ương và Viện E Nguyên nhân chính là do các khoa thiếu kinh phí để trang bị các phương tiện hỗ trợ GDSK, cùng với việc lãnh đạo chưa chú trọng đến vai trò của các thiết bị này Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Uyên tại 6 bệnh viện tuyến tỉnh Long An cho thấy tất cả đều không đạt 50% tiêu chuẩn về cơ sở vật chất và trang thiết bị cho GDSK, và chưa có bệnh viện nào có phòng làm việc riêng cho tổ GDSK, trong khi nhân viên y tế chủ yếu làm kiêm nhiệm.
Sáu bệnh viện đã trang bị cho tổ GDSK một số thiết bị như loa đài, máy tính, máy chiếu và tài liệu Tuy nhiên, nếu được trang bị, các thiết bị cũ và ít sử dụng không đồng bộ sẽ dẫn đến hiệu quả sử dụng kém.
Khảo sát đã ghi nhận ý kiến từ người bệnh và nhân viên y tế, trong đó đề xuất cần có góc riêng tư để thực hiện giáo dục sức khỏe (GDSK) Bên cạnh đó, việc cung cấp đủ ghế ngồi cho cả người bệnh và người nhà trong quá trình nghe GDSK là rất cần thiết Ngoài ra, việc trang bị loa đài hoặc phòng yên tĩnh sẽ giúp người bệnh dễ dàng tiếp thu thông tin hơn Cũng cần cung cấp đủ mô hình, tranh ảnh và máy chiếu để hỗ trợ nhân viên y tế trong công tác GDSK Đây là những đề xuất hợp lý mà bệnh viện nên xem xét để đáp ứng.
Người bệnh không hài lòng với việc chuẩn bị tài liệu và tờ rơi cho buổi GDSK tại bệnh viện và các khoa lâm sàng do thiếu hụt tài liệu, tờ rơi và hình ảnh minh họa Điều này đã ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của buổi GDSK Nhu cầu về tài liệu GDSK rất cao, vì người bệnh khó có thể nhớ hết các nội dung trong một lần Việc phát tờ rơi giúp người bệnh hệ thống lại kiến thức đã nhận được và dễ dàng xem lại khi cần thiết.
Lãnh đạo bệnh viện đánh giá cao công tác lập kế hoạch tổ chức, do đó, phòng Điều dưỡng đã chủ động xây dựng kế hoạch và nội dung để tổ chức các đầu mối hiệu quả.
Bệnh viện đã triển khai GDSK từ đầu năm để thông báo cho các khoa về kế hoạch thực hiện trong năm Tuy nhiên, hoạt động quản lý, kiểm tra và giám sát GDSK chưa được thực hiện thường xuyên, dẫn đến việc số buổi GDSK tại các khoa không đạt yêu cầu Công tác kiểm tra chủ yếu do phòng Kế hoạch tổng hợp, Quản lý chất lượng và phòng điều dưỡng thực hiện, nhưng nhân lực cho hoạt động này còn thiếu Để nâng cao hiệu quả GDSK, việc lập kế hoạch và tổ chức là rất quan trọng Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Uyên và cộng sự tại 6 bệnh viện tuyến tỉnh ở Long An năm 2016 cho thấy cả 6 bệnh viện đều chưa thực hiện đầy đủ các khâu như lập kế hoạch, giám sát hoạt động và cập nhật số liệu.
Việc thực hiện công tác GDSK tại bệnh viện chưa được công nhận và nhân rộng, dẫn đến những tồn tại chưa được khắc phục triệt để Hiện tại, các khoa phòng chưa có cơ chế khen thưởng hay xử phạt đối với nhân viên y tế (NVYT) thực hiện tốt hoặc đối phó với công tác GDSK Việc thiết lập cơ chế khen thưởng và xử phạt sẽ nhấn mạnh vai trò quan trọng của GDSK, giúp NVYT nâng cao nhận thức và ý thức trong công việc của mình Điều này cũng sẽ tạo động lực cho NVYT thúc đẩy công tác GDSK, đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của bệnh nhân và người nhà, từ đó nâng cao sức khỏe cộng đồng.
Hạn chế của nghiên cứu
Bộ câu hỏi tự thiết kế dựa trên quy định của Bộ Y tế nhưng còn thiếu chi tiết về các khía cạnh nhỏ của nội dung GDSK Hiện tại, chưa có bảng kiểm chuẩn từ Bộ Y tế, dẫn đến độ chính xác chưa cao Để khắc phục, cần xây dựng bộ câu hỏi dựa vào các văn bản quy định chính thống.
Bộ Y tế đang tập trung vào nghiên cứu đối tượng chủ yếu là người cao tuổi, những người thường mắc nhiều bệnh mãn tính và dễ bị tổn thương do lão hóa theo tuổi tác Hiện tượng sai số trong việc nhớ lại thông tin của đối tượng nghiên cứu là một thách thức, vì vậy cần tổ chức các buổi tập huấn kỹ năng phỏng vấn để khắc phục vấn đề này.
HUPH đã hướng dẫn nhóm phỏng vấn người bệnh kiên trì sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, tránh thuật ngữ chuyên ngành, nhằm giúp người bệnh dễ dàng hiểu và trả lời đúng nội dung câu hỏi.
Phỏng vấn người bệnh gặp khó khăn trong việc đánh giá nhu cầu về giáo dục sức khỏe (GDSK) do sự đa dạng của nhu cầu này Thời gian tư vấn GDSK cũng khác nhau giữa các bệnh nhân, và đối với những bệnh nhân nặng, việc có nhiều người nhà thay phiên chăm sóc khiến cho việc đánh giá công tác tư vấn GDSK cho người nhà trở nên phức tạp.