Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện công tác GDSK người bệnh nội trú của NVYT

Một phần của tài liệu Thực trạng thực hiện công tác giáo dục sức khỏe của nhân viên y tế cho người bệnh nội trú và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2020 (Trang 58 - 61)

Để bảo vệ quyền lợi của người bệnh và nâng cao chất lượng phục vụ của bệnh viện, Giám đốc bệnh viện Lão khoa Trung ương đã ban hành “Quy định tổ chức tư vấn giáo dục sức khoẻ cho người bệnh và người nhà người bệnh” (9).

Tất cả NVYT đều làm kiêm nhiệm công tác GDSK, công việc chính là khám, điều trị và chăm sóc nên cũng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng và hiệu quả của buổi GDSK… Việc nâng cao trình độ chuyên môn cho NVYT là cần thiết.

Trình độ học vấn trung cấp, cao đẳng chiếm tỷ lệ lớn, chưa đươc đào tạo về GDSK gây ra tâm lý tư ti vào bản than nên gây ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả của quá trình GDSK cho người bệnh. Tương đồng với nhận định của nhằm nâng cao chất lượng hoạt động là đào tạo kiến thức, kỹ năng truyền thông GDSK; kỹ năng viết tin bài, lập kế hoạch cho cán bộ viện chức của phòng TTGDSK tuyến huyện (36). Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Hiến về thực trạng GDSK ở tuyến huyện cho thấy: Nhân lực thiếu về số lượng và hạn chế về trình độ chuyên môn (16). Qua nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng cán bộ thiếu và yếu, nhiều đơn vị chưa được đào tạo. Do nhân lực không đủ, không ổn định nên hiệu quả chưa cao.

HUPH

Sự phản hồi của NVYT về công tác GDSK là rất quan trọng giúp cho các khoa, phòng và đơn vị liên quan biết được những khó khăn mà NVYT gặp phải để cải tiến và nâng cao chất lượng GDSK trong bệnh viện. Trên thực tế rất ít khi NVYT phản hồi đối với lãnh đạo về việc thực hiện công tác này đang gặp khó khăn và thuận lợi gì. Lý do xuất phát từ cả phía lãnh đạo bệnh viện, khoa phòng và từ phía NVYT vì lãnh đạo thì bận nhiều việc, chưa nắm hết được những khó khăn mà NVYT thường gặp khi GDSK. NVYT thì ngại phải phản hồi với tâm lý “có gì dùng đấy” nên cũng ảnh hưởng đến chất lượng GDSK.

Cơ sở vật chất trang thiết bị phương tiện tài liệu cũng là những yếu tố quan trọng để tổ chức buổi GDSK nhóm tại khoa lâm sàng. Tình hình hiện tại của các khoa lâm sàng tại thời điển nghiên cứu: 100% các khoa lâm sàng không có phòng GDSK riêng, không có loa đài để thực hiện GDSK, không lập danh sách bệnh nhân và không gửi giấy mời cho bệnh nhân tham dự GDSK nhóm. Do không có phòng riêng để GDSK, các khoa thường lấy CSVC, TTB tại phòng hành chính hay buồng bệnh để GDSK nên khi thực hiện cũng gặp nhiều khó khăn. CSVC, TTB, phương tiện cho công tác GDSK cực kỳ quan trọng nếu được trang bị đầy đủ sẽ giúp cho người làm công tác GDSK diễn ra hiệu quả và người nghe tiếp thu được tối đa kiến thức cho mình. Nếu có phòng riêng NVYT làm việc ở đây sẽ có trách nhiệm hơn và người bệnh sẽ rất hài lòng. Các khoa đã bố trí đủ 100% ghế ngồi cho bệnh nhân tham gia tại các buổi GDSK. Có 83,3% các khoa lâm sàng có tài liệu bài giảng vẫn còn 16,7% các khoa lâm sàng chưa chuẩn bị tài liệu bài giảng. 58,4% các khoa không có máy chiếu, 41,7% không có băng hình tờ rơi tranh ảnh để phục vụ buổi GDSK nhóm. Mô hình, dụng cụ, thiết bị để GDSK tại các khoa còn thiếu hoặc không có là nguyên nhân gây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động, hiệu quả của hoạt động GDSK. Tuy nhiên ở cả hai hình thức GDSK nhóm hay cá nhân đều có kết quả còn nhiều hạn chế, công tác giáo dục sức khỏe còn rất sơ sài, chưa được NVYT thực sự quan tâm thực hiện, NVYT chưa xác định được tầm quan trọng sự ảnh hưởng lớn của tư vấn GDSK đến kết quả chăm sóc và điều trị, chưa thấy rõ đây là một nhiệm vụ chuyên môn của NVYT. Sự quan tâm của lãnh đạo khoa đến công tác

HUPH

GDSK còn hạn chế, trang thiết bị và công cụ GDSK chưa được quan tâm trú trọng đầu tư nâng cấp.

Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Hiến về thực trạng TTGDSK ở tuyến huyện cho thấy: TTB phục vụ hành chính thiếu > 50%, TTB và phương tiện tác nghiệp thiếu 70%, nên hiệu quả GDSK chưa cao (16). Đây cũng là tình trạng chung diễn ra tại các bệnh viện khác như Bạch Mai, Việt Đức, Nhi trung ương, Viện E.

Qua tìm hiểu của nhóm nghiên cứu, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng nêu trên là do các khoa chưa có nguồn kinh phí để trang bị các phương tiện hỗ trợ rư vấn GDSK và cũng như lãnh đạo khoa, phòng chưa chú ý nhiều đến vai trò của các trang thiết bị hỗ trợ này. Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Uyên và cộng sự tại 6 bệnh viện tuyến tỉnh tại Long An cho thấy cả 6 bệnh viện đều không đạt 50% quy định về CSVC, TTB dành cho GDSK. Chưa có bệnh viện nào có phòng làm việc riêng cho phòng/tổ GDSK. NVYT hầu hết là làm kiêm nhiệm, chỉ một vài bệnh viện trong số 6 bệnh viện nói trên có trang bị cho tổ GDSK một số phương tiện như loa đài, máy tính máy chiếu, tài liệu… nếu được trang bị thì thiết bị cũ, ít sử dụng không đồng bộ được nên sử dụng kém hiệu quả (37).

Khảo sát đề xuất các ý kiến người bệnh cũng như NVYT có đề xuất: Nên có góc riêng tư để GDSK, cung cấp đủ ghế ngồi phục vụ không chỉ cho người bệnh mà còn người nhà trong quá trình nghe GDSK, có loa đài hoặc phòng yên tĩnh để người bệnh dễ nghe hơn. Cung cấp đủ mô hình, tranh ảnh, máy chiếu giúp cho nhân viên y tế rất nhiều trong việc thực hiện công tác GDSK. Đây là những ý kiến đề xuất rất hợp lý mà bệnh viện nên cân nhắc đáp ứng.

Người bệnh chưa hài lòng về việc chuẩn bị tài liệu, tờ rơi cho buổi GDSK cấp bệnh viện và các khoa lâm sàng vì không đủ tài liệu, tờ rơi, tranh ảnh minh họa để phát cho người bệnh nên chất lượng và hiệu quả của buổi GDSK cũng bị ảnh hưởng. Nhu cầu về tài liệu GDSK là rất cao, khi mà người bệnh không thể nhớ hết được các nội dung về GDSK trong một lúc việc có tờ rơi phát cho người bệnh giúp người bệnh hệ thống lại kiến thức đã nhận được cũng như xem lại khi cần

Công tác lập kế hoạch tổ chức được lãnh đạo bệnh viện coi trọng và quan tâm vì thế phòng Điều dưỡng đã xây dựng kế hoạch, nội dung, tổ chức các đầu mối

HUPH

GDSK trong toàn bệnh viện từ đầu năm để thông báo cho các khoa biết bố trí thực hiện trong năm. Hoạt động quản lý kiểm tra, giám sát, đánh giá về GDSK được bệnh viện thực hiện nhưng không được thường xuyên, liên tục đây cũng đây là lý do khiến các buổi GDSK tại khoa số buổi không đạt được theo quy định. Công việc kiểm tra thường do phòng Kế hoạch tổng hợp, Quản lý chất lượng và phòng điều dưỡng thực hiện, nhân lực cho hoạt động này thiếu, NVYT làm tại các phòng này còn rất nhiều việc phải làm. Để thực hiện tốt việc GDSK, công tác lên kế hoạch và tổ chức là rất quan trọng. Nếu lên kế hoạch tốt, quản lý, kiểm tra, giám sát kịp thời thì công tác GDSK trong bệnh viện rất phát triển. Theo nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Uyên và cộng sự tại 6 bệnh viện tuyến tỉnh ở Long An năm 2016, cả 6 bệnh viện đều chưa thực hiện đầy đủ các khâu như lập kế hoạch, giám sát hoạt động, cập nhật số liệu (37).

Việc GDSK thực hiện tốt chưa được tuyên dương và nhân rộng mô hình, việc tồn tại chưa được khắc phục triệt để. Bệnh viện cũng như các khoa phòng chưa có cơ chế về khen thưởng hay xử phạt đối với NVYT làm tốt hay làm đối phó đối với công tác GDSK. Việc có cơ chế khen thưởng xử phạt phần nào nhấn mạnh hơn vai trò và tầm quan trọng của công tác GDSK của NVYT tại bệnh viện. Giúp NVYT nâng cao nhận thức, ý thức của công tác GDSK trong phạm vi nhiệm vụ chức năng của mình. Đây cũng là động lực để NVYT thúc đẩy công tác GDSK cho người bệnh tại bệnh viện phát triển, đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của người bệnh, người nhà để nâng cao sức khỏe.

Một phần của tài liệu Thực trạng thực hiện công tác giáo dục sức khỏe của nhân viên y tế cho người bệnh nội trú và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2020 (Trang 58 - 61)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(93 trang)