ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương;
- Cán bộ y tế đang làm việc tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương;
- Bộ số liệu thứ cấp gồm kế hoạch và báo cáo thực hiện công tác GDSK năm 2019 và 6 tháng đầu năm 2020 của BVLKTƯ;
- Buổi GDSK nhóm tại các khoa lâm sàng.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Người bệnh điều trị nội trú trong thời gian nghiên cứu;
- Người bệnhtrên 18 tuổi;
- Người bệnh có đầy đủ trí lực để trả lời câu hỏi;
- Người bệnh, cán bộ y tế đồng ý tham gia vào nghiên cứu;
- Các văn bản kế hoạch, báo cáo công tác GDSK năm 2019 và 6 tháng đầu năm 2020 của BVLKTƯ đã được cho phép tiếp cận;
- Buổi GDSK nhóm tại các khoa lâm sàng được diễn ra từ tháng 3/2020 đến tháng 7/2020.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Đối tượng nghiên cứu không thỏa mãn ít nhất 1 tiêu chuẩn lựa chọn;
- Người bệnh vào điều trị nội trú dưới 24h;
- Người bệnh khó khăn trong việc giao tiếp hoặc đang điều trị bệnh liên quan đến sức khỏe tâm thần.
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 3 năm 2019 đến tháng 08 năm 2020.
Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Lão khoa Trung ương, Hà Nội.
2.3. Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang, có kết hợp giữa định lượng với định tính
Mục tiêu 1: Mô tả cắt ngang, quan sát và hồi cứu bộ số liệu thứ cấp các văn bản liên quan đến thực hiện công tác GDSK tại BVLKTƯ.
HUPH
Mục tiêu 2: Nghiên cứu định tính tiến hành phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với cán bộ y tế để xác định các yếu tố ảnh hưởng.
2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Mục tiêu 1: Phỏng vấn bệnh nhân, quan sát buổi GDSK nhóm và bộ số liệu thứ cấp
+ Cỡ mẫu cho phỏng vấn bệnh nhân điều trị nội trú: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu cắt ngang của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) (35):
n
= Z21-α/2
p (1-p)
d
2
n: cỡ mẫu nghiên cứu
Z1-α/2: độ tin cậy 95%, có Z1-α/2 = 1,96 d: sai số cho phép là 0,07
p: tỉ lệ sử dụng dịch vụ, p = 0,5 (đảm bảo cỡ mẫu lớn nhất)
Áp dụng vào công thức, tính được cỡ mẫu là n = 196, cộng với 10% đối tượng bỏ cuộc nên cỡ mẫu cần thiết là 215. Cỡ mẫu thực tế thu được là 213 bệnh nhân tham gia nghiên cứu
+ Phương pháp chọn mẫu là bệnh nhân đang điều trị nội trú: Chọn mẫu ngẫu nhiên.
Hiện nay, Bệnh viện có 10 khoa lâm sàng và tiếp nhận điều trị nội trú, trong khi đó có 03 khoa bao gồm khoa Cấp cứu và Đột quỵ; khoa Hồi sức tích cực; khoa Sức khỏe tâm thần là không tiến hành phỏng vấn (bệnh nhân tại các khoa này chủ yếu là bệnh nhân nặng khó khăn trong giao tiếp cũng như đang điều trị bệnh về sức khỏe tâm thần, đối với bệnh nhân khoa Cấp cứu và Đột quỵ thường điều trị dưới 24h). Theo báo cáo tổng kết của Bệnh viện năm 2019 số lượng bệnh nhân điều trị nội trú tại 07 khoa còn lại (không tính 03 khoa kể trên) thì số lượng bệnh nhân điều trị tại các khoa lâm sàng được chia thành 2 nhóm như sau: nhóm 1 gồm có 4 khoa là khoa Thần Kinh Alzheimer, khoa Tim mạch hô hấp, Nội tiết và cơ xương khớp, Phục hồi chức năng có số bệnh nhân nội trú giao động từ 35 đến 45 bệnh nhân trên 1 tháng, nhóm 2 gồm các khoa Nội chung, Ung bướu, Tim mạch can thiệp – ngoại
HUPH
có số bệnh nhân từ 16 đến 20 (8). Do vậy, khi chọn mẫu lấy theo tỷ lệ 2:1, có tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên (căn cứ theo tiêu chuẩn chọn mẫu và tiêu chuẩn loại trừ) chọn 40 bệnh nhân tại các khoa nhóm 1, 20 bệnh nhân cho các khoa nhóm 2 đến khi đủ cỡ mẫu là 213 thì dừng lại, thờ gian tiến hành chọn mẫu bắt đầu tiến hành từ tháng 03/2020 đến tháng 7/2020. Lập danh sách bệnh nhân đang nằm điều trị nội trú và đáp ứng đủ tiêu chuẩn lựa chọn vào mẫu nghiên cứu tại từng khoa. Tiến hành chọn mẫu theo cách trên, cỡ mẫu đã thu được là 213 bệnh nhân.
+ Cỡ mẫu Quan sát buổi GDSK theo nhóm: Tổng số buổi quan sát dự kiến là 14 buổi GDSK tại 07 khoa lâm sàng (mỗi khoa 02 buổi quan sát), nhưng thực tế số buổi quan sát được là 12 buổi (do dịch bệnh COVID-19 nên các khoa dừng tổ chức GDSK).
+ Bộ số liệu thứ cấp: Tất cả các văn bản có liên quan đến thực hiện công tác GDSK tại BVLKTƯ trong thời gian năm 2019 và 6 tháng đầu năm 2020 mà nghiên cứu được phép tiếp cận.
Mục tiêu 2: Tiến hành lựa chọn có chủ đích các đối tượng sau để tiến hành phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm (TLN)
Đã tiến hành 03 cuộc phỏng vấn sâu: Gồm 01 lãnh đạo bệnh viện, 01 lãnh đạo phòng chức năng, 01 lãnh đạo khoa lâm sàng.
Đã tiến hành 02 cuộc thảo luận nhóm: Gồm 01 nhóm bác sĩ và 01 nhóm điều dưỡng/ kỹ thuật viên
2.5. Phương pháp thu thấp số liệu
Đối với đối tượng bệnh nhân đang điều trị nội trú tiến hành phỏng vấn theo bộ câu hỏi thiết kế sẵn. Phiếu phỏng vấn này được xây dựng dựa trên quy trình tư vấn GDSK của BVLKTƯ 2018 (có tham khảo bộ câu hỏi phỏng vấn bệnh nhân về công tác GSDK tại Bệnh viện E năm 2017 (6) và Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2018 (7)).
Nhóm phỏng vấn người bệnh: Nhân lực điều tra viên (ĐTV): 5 ĐTV gồm 2 cán bộ phòng điều dưỡng, 1 cán bộ phòng Kế hoạch tổng hợp, 1 cán bộ phòng Quản lý chất lượng và chủ nhiện đề tài. Các ĐTV đều là cử nhân điều dưỡng tại các phòng ban chức năng của bệnh viện, từng tham gia công tác nghiên cứu khoa học
HUPH
của bệnh viện có kinh nghiệm phỏng vấn và được chủ nhiệm đề tài mời tham gia phỏng vấn người bệnh, đã được chủ nhiệm đề tài tổ chức tập huấn về bộ câu hỏi phỏng vấn người bệnh được thiết kế sẵn.
Quan sát NVYT thực hiện quy trình GDSK: Quan sát viên sử dụng phiếu quan sát được thiết kế sẵn, tiến hành quan sát liên tục từ khi bắt đầu buổi GDSK đến khi kết thúc buổi GDSK. Phiếu quan sát NVYT thực hiện quy trình GDSK dựa theo bảng kiểm của Quyết định 941/QĐ-BVLKTƯ, ngày 26/8/2018 của bệnh viện Lão khoa Trung ương. Quan sát trực tiếp 12 buổi GDSK nhóm tại khoa lâm sàng, chủ nhiệm đề tài trực tiếp quan sát.
Bộ số liệu thứ cấp: Liên hệ trước với lãnh đạo Bệnh viện và các phòng, ban chức năng để được phép tiếp cận và sử dụng các văn bản có liên quan đến thực hiện công tác GDSK của NVYT trong năm 2019 và 2020
Phương pháp thu thập số liệu định tính: Xây dựng nội dung PVS lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo phòng chức năng, lãnh đạo khoa lâm sàng, thảo luận nhóm NVYT tại các khoa lâm sàng. Thời gian cuộc PVS khoảng 20 phút và TLN khoảng 30 phút, được thực hiện tại phòng làm việc, khoa lâm sàng của ĐTNC, đã tiến hành ghi âm và được sự đồng ý của ĐTNC đồng ý tham gia, thư ký ghi biên bản phỏng vấn.
2.6. Biến số nghiên cứu
Thiết kế các biến số nghiên cứu được dựa trên Quyết định tổ chức tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh và người nhà người bệnh của BVLKTƯ (9) (Phụ lục 4)
Nhóm biến số phỏng vấn người bệnh phản hồi về GDSK của NVYT gồm:
Thông tin chung của người bệnh điều trị nội trú tại thời điểm nghiên cứu:
tuổi, giới, trình độ văn hóa, địa chỉ, nghề nghiệp, thời gian nằm viện, có chế độ BHYT, bệnh chính, bệnh kèm theo
Các biến số đánh giá chất lượng GDSK của NVYT gồm: Nội dung thông tin tình hình sức khỏe hiện tại của người bệnh; chế độ vệ sinh, dinh dưỡng; tự theo dõi, chăm sóc bệnh; phòng bệnh, chế độ sinh hoạt và tập luyện thay đổi lối sống tích cực sau khi ra viện (28).
HUPH
Nhóm biến số xác định yếu tố ảnh hưởng GDSK của NVYT: Dựa theo 6 cấu phần của WHO gồm 6 cấu phần đầu vào của hệ thống y tế bao gồm: Cung cấp dịch vụ, nhân lực y tế, thông tin y tế, tài chính, lãnh đạo quản lý, có ảnh hưởng đến đầu ra đó là nâng cao sức khỏe, mang lại công bằng cho người bệnh, nâng cao hiệu quả trong điều trị cho người bệnh.
2.7. Xử lý và phân tích số liệu
- Số liệu định lượng sau khi thu thập được làm sạch, nhập vào máy tính bằng phần mềm Epi Data 3.1, sau đó phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0 cho các thông tin mô tả
+ Phần mô tả: Thể hiện tần số và tỷ của các biến trong nghiên cứu.
+ Phần phân tích: Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác GDSK, tập trung phân tích yếu tố liên quan nhân lực y tế, đào tạo kiến thức, kỹ năng GDSK của NVYT, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, tài liệu, tờ rơi phục vụ cho công tác GDSK, công tác quản lý giám điều hành, cơ chế khen thưởng động viện, kinh phí chi cho hoạt động GDSK của NVYT cho người bệnh nội trú tại bệnh viện.
- Các thông tin định tính được gỡ băng theo từng cuộc PVS và trích dẫn ý kiến tiêu biểu trong phần trình bày kết quả nghiên cứu.
2.8. Đạo đức trong nghiên cứu
Đề cương Nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh của Trường Đại học Y tế công cộng thông qua bằng Quyết định số 90/2020/YTCC- HD3 ngày 09/03/2020
Nghiên cứu được Ban Lãnh đạo BVLKTƯ quan tâm, ủng hộ, cho phép thực hiện tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương. HUPH