1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng, kiến thức, thực hành của nhân viên y tế phân loại, thu gom chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan tại các trạm y tế trên địa bàn thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an năm 2015

162 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng, kiến thức, thực hành của nhân viên y tế phân loại, thu gom chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan tại các trạm y tế trên địa bàn thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An năm 2015
Tác giả Phan Thị Thu
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Tuấn Hưng
Trường học Trường Đại Học Y Tế Cộng Đồng
Chuyên ngành Quản lý y tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 162
Dung lượng 7,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN (13)
    • 1.1. Một số vấn đề cơ bản về chất thải y tế (13)
    • 1.2. Tuân thủ quy định về quản lý CTRYT (14)
    • 1.3. Phân loại chất thải y tế (14)
    • 1.4. Thành phần và khối lượng chất thải rắn y tế (0)
    • 1.5. Tác động của chất thải rắn y tế (19)
    • 1.6. Công tác quản lý chất thải y tế (22)
    • 1.7 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu (29)
      • 1.7.1. Thông tin về địa lý (29)
      • 1.7.2. Thông tin về (29)
      • 1.7.3. Một số kết quả ổi bật đã đạt được trong năm 2014 (0)
    • 1.8. Thông tin về quản lý chất thải rắn y tế (30)
  • Chương 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (32)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (0)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (32)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (32)
    • 2.4. Mẫu và phương pháp chọn mẫu (32)
      • 2.4.1. Số liệu định lượng (32)
      • 2.4.2. Số liệu định tính (32)
    • 2.5. Phương pháp đánh giá và công cụ thu thập số (0)
      • 2.5.1. Đánh giá kiến thức của nhân viên y tế (34)
      • 2.5.2. Đánh giá thực hành của nhân viên y tế (35)
      • 2.5.3. Đánh giá mối liên quan (37)
    • 2.6. Phương pháp thu thập số liệu (37)
    • 2.7. Các biến số nghiên cứu (37)
    • 2.8. Đánh giá phân loại, thu gom CTRYT (44)
    • 2.9. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu (45)
      • 2.9.1. Số liệu định lượng (45)
      • 2.9.2. Số liệu định tính (46)
    • 2.10. Đạo đức nghiên cứu (46)
    • 2.11. Hạn chế của nghiên cứu (46)
  • Chương 3. KẾT QUẢ (48)
    • 3.2. Kiến thứ ực hành của nhân viên trạm y tế về , thu gom CTRYT (0)
    • 3.4. Các mố ến thứ (0)
    • 3.5. Các mố (60)
    • 3.6. Một số yếu tố liên quan đế ạ (0)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (66)
  • Chương 5. (77)
  • Chương 6. KIẾN NGHỊ (0)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (80)

Nội dung

TỔNG QUAN

Một số vấn đề cơ bản về chất thải y tế

Các khái niệm trong nghiên cứu được lấy từ Quy chế quản lý chất thải y tế theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế và các văn bản, quy định khác của Nhà nước.

Năm 2014, Luật bảo vệ môi trường nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, số 55/2014/QH13 cho rằng:

Chất thải: là vật chất sinh hoạt hoặc hoạt động khác

Chất thải nguy hại là loại chất thải có chứa các yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc có những đặc tính nguy hiểm khác.

Chất thải rắn: là tất cả những chất thải không phải nước thải và khí thải

Chất thải y tế (CTRYT) bao gồm các vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế, trong đó có cả chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường.

Chất thải từ điều trị bao gồm bộ phận thay bông băng như gạc, bông băng dính máu mủ và tổ chức hoại tử đã cắt lọc Ngoài ra, còn có bộ phận tiêm với kim tiêm, bơm tiêm, ống thuốc và thuốc thừa, cùng với các loại dịch tiết, bệnh phẩm và túi đựng.

- Chất thải phòng mổ: bông gạc nhiễm khuẩn, mủ, tổ chức hoại tử, các phần cắt bỏ của cơ thể, máu, dịch, thuốc, hóa chất, kim tiêm, bơm tiêm

- Chất thải phòng khám: bệnh phẩm, mủ, các tổ chức hoại tử, bông băng, gạc nhiễm khuẩn, dụng cụ, nẹp cố định, quần áo nhiễm khuẩn

- Chất thải khoa xét nghiệm huyết học: môi trường, máu, hóa chất chai lọ, kim tiêm

- Chất thải khoa xét nghiệm vi sinh, hóa sinh: bệnh phẩm, phân, nước tiểu, máu, mủ, đờm, hóa chất, môi trường nuôi cấy

- Chất thải phòng thí nghiệm: các xác động vật, các bộ phận cắt bỏ của động vật, các chất thải của quá trình sản xuất vắc xin

- Chất thải sinh hoạt từ bệnh nhân, nhân viên y tế và người nhà bệnh nhân: đồ ăn, thức uống, vỏ thuốc, giấy loại, quần áo bẩn

Chất thải y tế hiện nay rất đa dạng và phức tạp do thiếu hệ thống phân loại chất thải nguy hại ngay từ khi phát sinh, cùng với sự không thống nhất trong cách phân loại tại các cơ sở y tế.

Chất thải y tế nguy hại là những loại chất thải chứa các yếu tố có thể gây hại cho sức khỏe con người và môi trường Chúng có thể dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, hoặc ăn mòn Việc tiêu hủy không an toàn các chất thải này có thể dẫn đến những rủi ro nghiêm trọng.

Thu gom chất thải tại nơi phát sinh là quá trình quan trọng trong cơ sở y tế, bao gồm việc phân loại, tập hợp, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải ngay tại địa điểm phát sinh.

Vận chuyển chất thải: là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh, tới nơi xử lý ban đầu, lưu giữ, tiêu hủy

Xử lý ban đầu là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao ngay tại nơi phát sinh, trước khi chúng được vận chuyển đến nơi lưu giữ hoặc tiêu hủy.

Xử lý và tiêu hủy chất thải là quá trình áp dụng công nghệ để loại bỏ khả năng gây hại của chất thải đối với sức khỏe con người và môi trường.

Tuân thủ quy định về quản lý CTRYT

Tuân thủ: từ điển tiếng Việt năm 2010 là giữ và làm đúng theo điều đã quy định [23]

Quy định về quả ủ theo CTRYT trong nghiên cứu này được xác định dựa trên các quy định trong Quy chế quản lý chất thải y tế, được ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT của Bộ Y tế.

Phân loại chất thải y tế

Hiện nay, có nhiều phương pháp phân loại chất thải y tế khác nhau được áp dụng bởi các nhà quản lý y tế Tất cả các phương pháp này chủ yếu dựa vào đặc điểm vật lý và hóa học của chất thải, cũng như khả năng ảnh hưởng của chúng đến môi trường và sức khỏe con người.

Theo WHO, CTYT được phân thành 8 loại [34] như sau:

Chất thải bệnh phẩm và chất thải giải phẫu bao gồm các mô, bệnh phẩm, bộ phận cơ thể và các dịch cơ thể như máu, dịch màng phổi.

HUPH khuyến cáo rằng bệnh phẩm và chất thải giải phẫu, dù có thể bị nhiễm khuẩn hoặc không, nên được xem như chất thải lây nhiễm để đảm bảo an toàn.

- Chất thải dược phẩm: bao gồm các thuốc quá hạn, không sử dụng, đổ vỡ… kể cả những dụng cụ, chai lọ chứa đựng chúng

Chất thải hóa học là các chất thải có thể tồn tại dưới dạng đặc, lỏng hoặc khí, được sinh ra trong quá trình chẩn đoán, điều trị, tẩy rửa, khử trùng và thí nghiệm tại bệnh viện Những chất thải này thường có đặc tính ăn mòn, gây nổ và độc tế bào, đòi hỏi phải được xử lý cẩn thận để đảm bảo an toàn cho môi trường và sức khỏe con người.

Chất thải chứa kim loại nặng như Cadimi, chì và thủy ngân là những chất độc tiềm ẩn có trong pin hỏng, nhiệt kế vỡ và một số dụng cụ y tế hỏng Do tính chất độc hại của chúng, loại chất thải này cần được xử lý riêng và được coi là một phần của chất thải hóa học.

- Các bình chứa khí nén: như bình đựng oxy, CO 2 , khí mê, bình cứu hỏa

Chất thải vật sắc nhọn, như kim tiêm, dao mổ và tuýp thủy tinh vỡ, có nguy cơ gây tổn thương cho da và được coi là loại chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao Dù có bị nhiễm khuẩn hay không, việc phân loại, thu gom, lưu giữ và vận chuyển chất thải này cần được thực hiện cẩn thận để đảm bảo an toàn cho nhân viên y tế, nhân viên vệ sinh và bảo vệ môi trường.

Chất thải gây độc tế bào, phát sinh từ quá trình điều trị bệnh nhân ung thư bằng hóa chất và tia xạ, bao gồm phân, nước tiểu và chất nôn Những loại chất thải này cần được xử lý cẩn thận và coi như là chất gây độc tế bào.

Chất thải phóng xạ bao gồm các loại chất thải rắn, lỏng và khí phát sinh từ hoạt động chẩn đoán, điều trị và nghiên cứu Việc phân loại đúng chất thải phóng xạ y tế (CTRYT) ngay tại thời điểm phát sinh là trách nhiệm của tất cả những người tạo ra chúng Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), để đảm bảo việc phân loại chính xác, các thùng chứa CTRYT phù hợp cần được đặt ở vị trí thuận tiện cho nhân viên y tế.

Các túi, thùng đựng chất thải rắn phải được mã màu đúng quy định:

- Màu vàng chứa đựng chất thải lây nhiễm

- Màu đen đựng chất thải hoá học nguy hại và chất thải phóng xạ

- Màu xanh đựng chất thải thông thường và các bình áp xuất nhỏ

- Màu trắng đựng chất thải tái chế

Các thùng và túi đựng chất thải cần có biểu tượng phù hợp và kích thước tương ứng với lượng chất thải phát sinh Túi phải có thành dày tối thiểu 0,01mm và thể tích tối đa là 0,1m³ Bên ngoài túi cần có đường kẻ ngang ở mức ắ, và khi thu gom, miệng túi phải được buộc chặt và đưa vào các thùng tương ứng tại nơi thu gom.

1.4 Thành phần và khối lƣợng chất thải rắn y tế

1.4.1 Thành phần chất thải rắn y tế

Tỷ lệ các loại chất thải rắn y tế theo ước lượng trung bình của WHO cho các nước đang phát triển như sau [54]

Khoảng 80% chất thải là thông thường, 15% là chất thải lây nhiễm và giải phẫu, 1% là chất thải sắc nhọn, 3% là chất thải hóa học nguy hại và dược phẩm, và dưới 1% là chất thải đặc biệt như chất thải phóng xạ, bình chứa áp suất, và kim loại nặng như nhiệt kế vỡ và pin hỏng.

Các khảo sát cho thấy thành phần của rác bệnh viện bao gồm: giấy các loại (3%), kim loại và vỏ hộp (0,7%), thủy tinh, ống tiêm, chai lọ thuốc và bơm kim tiêm (3,2%), bông băng và bột bó gãy xương (8,8%), chai và túi nhựa các loại (10,1%), bệnh phẩm (0,6%), rác hữu cơ (52,6%) và đất đá cùng các vật rắn khác (21,1%).

Tại 172 bệnh viện ở 5 thành phố lớn gồm Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh, lượng chất thải phóng xạ chiếm 0,4%, chất thải lây nhiễm chiếm 18,4% và chất thải nguy hại chiếm 2,67% Đặc biệt, tại Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ chất thải lây nhiễm cao hơn với 22,1%, trong khi chất thải phóng xạ là 0,6% và chất thải nguy hại là 4,8%.

Tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh, tỷ lệ chất thải lâm sàng chiếm 26,8%, bao gồm chất thải sắc nhọn nguy hiểm (5,0%), chất thải sắc nhọn dễ tiêu hủy (67,5%) và chất thải hóa học (0,6%).

1.4.2 Khối lƣợng chất thải rắn y tế

Lượng chất thải y tế tại các quốc gia khác nhau dao động từ 0,05 đến 8,7 kg mỗi giường bệnh mỗi ngày, trong khi chất thải nguy hại dao động từ 0,1 đến 1,6 kg mỗi giường bệnh mỗi ngày.

Mức độ phát thải CTRYT trung bình trên toàn quốc là khoảng 0,72 kg/km² Theo số liệu, lượng CTRYT thải ra trên mỗi 1.000 người dân ước tính khoảng 0,43 kg.

Tác động của chất thải rắn y tế

Nguy cơ đối với nhân viên y tế và nhân viên vệ sinh chất thải từ việc tiếp xúc với chất thải rắn y tế (CTRYT) có thể dẫn đến bệnh tật và lây nhiễm các bệnh truyền nhiễm như Viêm gan B và HIV CTRYT chứa nhiều tác nhân gây bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể qua vết thương, niêm mạc, đường hô hấp và tiêu hóa Quản lý chất thải y tế kém không chỉ làm tăng nguy cơ mắc bệnh cho nhân viên y tế, nhân viên vệ sinh, và bệnh nhân mà còn gây thiệt hại kinh tế do chi phí xử lý tăng cao.

1.5.2 Nguy cơ của chất thải sắc nhọn

Nghiên cứu dịch tễ học chỉ ra rằng nguy cơ lây nhiễm HBV, HCV và HIV từ việc bị chấn thương do kim tiêm đã sử dụng trên bệnh nhân lần lượt là 30%, 1,8% và 0,3%.

Trung tâm kiểm soát bệnh tật CDC của Mỹ đã ghi nhận 39 trường hợp mắc HIV/AIDS nghề nghiệp trong một năm, trong đó 32 trường hợp liên quan đến việc bị bơm kim tiêm nhiễm khuẩn chọc qua da Ngoài ra, có 1 trường hợp do dao mổ cắt qua da và 1 trường hợp bị tổn thương do vỏ ống thủy tinh Báo cáo cũng chỉ ra rằng tình trạng nhiễm virus viêm gan B có liên quan đến các tổn thương do vật sắc nhọn, với nhóm điều dưỡng có tỷ lệ nhiễm viêm gan B cao nhất, ước tính từ 17.700 đến 22.000 điều dưỡng bị tổn thương do vật sắc nhọn.

Mỗi năm, HUPH ghi nhận từ 56 đến 96 ca nhiễm viêm gan B do vật sắc nhọn Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), có từ 80.000 đến 160.000 ca nhiễm virus HIV Nhân viên vệ sinh bệnh viện là nhóm có nguy cơ cao bị nhiễm viêm gan.

Tổn thương do vật sắc nhọn là nguyên nhân đứng thứ hai gây ra các ca nhiễm viêm gan B, với khoảng 11.700 – 45.300 nhân viên vệ sinh bị ảnh hưởng mỗi năm, trong đó có từ 23 đến 91 ca nhiễm viêm gan B Các nhóm khác như bác sĩ, nha sĩ và nhân viên xét nghiệm có tỷ lệ nhiễm viêm gan B do tổn thương từ vật sắc nhọn thấp hơn, chỉ dưới 15 ca mỗi năm.

Theo báo cáo tại Hội thảo quốc gia về “Dự phòng tổn thương do các vật sắc nhọn cho nhân viên y tế” diễn ra tại Hà Nội năm 2003, Bệnh viện Bạch Mai trung bình thải ra 50kg vật sắc nhọn mỗi ngày.

Bệnh viện đa khoa tư nhân Tràng An hàng tháng sử dụng 6.000 bơm tiêm, 600 kim tiêm, 150 lưỡi dao và 150 kim khâu, tạo ra tổng cộng 65kg kim tiêm và vật sắc nhọn, 120kg rác nguy hại và 200kg rác khác Đáng chú ý, 55% số người làm việc liên quan đến việc sử dụng các vật sắc nhọn, chủ yếu là y tá, kỹ thuật viên, hộ lý và một số bác sĩ, có nguy cơ bị tổn thương.

Theo điều tra mới đây của Viện Y học lao động và Vệ sinh Môi trường tại 3 BV ở

Tại Hà Nội, các bệnh viện như BV Thanh Nhàn, TTYT Đông Anh và BV Tràng An ghi nhận tỷ lệ tổn thương do vật sắc nhọn ở cán bộ y tế rất cao, với BV Thanh Nhàn đạt 68,7%, TTYT Đông Anh 85,2% và BV Tràng An 50,0% Đặc biệt, công việc thu gom chất thải có tỷ lệ tổn thương do vật sắc nhọn từ 9,8% đến 10,8%.

1.5.3 Nguy cơ của các chất thải hóa học và dƣợc phẩm

Chất thải hóa chất và dược phẩm trong y tế là mối nguy hiểm lớn đối với sức khỏe con người, bao gồm các độc tố, chất gây độc gen và chất ăn mòn Mặc dù chúng thường chiếm tỷ lệ nhỏ trong chất thải y tế, nhưng tác động của chúng là nghiêm trọng Nhiễm độc thủy ngân có thể dẫn đến tổn thương thần kinh, với các triệu chứng như run rẩy, khó diễn đạt và giảm sút trí nhớ; trong trường hợp nặng, có thể gây liệt hoặc tử vong Nhân viên y tế thường xuyên tiếp xúc với các hóa chất độc hại có nguy cơ cao bị ngộ độc gen thông qua hít phải bụi, tiếp xúc qua da, hoặc tiêu hóa do thực phẩm nhiễm hóa chất và dịch thể từ bệnh nhân đang điều trị hóa trị liệu.

1.5.4 Nguy cơ của chất thải phóng xạ

Chất thải phóng xạ là một loại độc hại gen, có thể ảnh hưởng đến các yếu tố di truyền và gây ra nhiều tổn thương cho sức khỏe con người Tiếp xúc với nguồn phóng xạ cao, như máy X-quang hay máy chụp CT, có thể dẫn đến việc phá hủy mô, cắt cụt chi, hoặc gây vô sinh ở nam giới Đặc biệt, phụ nữ mang thai tiếp xúc với phóng xạ có nguy cơ cao gặp phải quái thai, sảy thai hoặc dị tật bẩm sinh Các triệu chứng do chất thải phóng xạ gây ra bao gồm đau đầu, chóng mặt và nôn mửa bất thường Nguy cơ từ chất thải có hoạt tính thấp có thể phát sinh do nhiễm xạ trên bề mặt vật chứa và thời gian lưu giữ Nhân viên y tế và những người thu gom chất thải phóng xạ là nhóm có nguy cơ cao nhất.

1.5.5 Nguy cơ đối với môi trường

1.5.5.1 Nguy cơ đối với môi trường nước

Vi sinh vật gây bệnh có thể xâm nhập vào nguồn nước do ô nhiễm từ các chất độc hại Hơn nữa, việc xả thải không kiểm soát, đặc biệt là việc trộn lẫn chất thải lâm sàng với chất thải thông thường, làm tăng nguy cơ ô nhiễm nguồn nước.

[13] Ô nhiễm nguồn nước là nguyên nhân gây nhiều bệnh như tiêu chảy (lỵ trực trùng, lỵ amip, tả), thương hàn, viêm gan A, giun sán [38]

1.5.5.2 Nguy cơ đối với môi trường đất

Việc xử lý chất thải nguy hại không an toàn có thể dẫn đến ô nhiễm đất và nguồn nước do các chất gây ô nhiễm từ bãi rác rò rỉ Hệ quả là sức khỏe cộng đồng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng trong dài hạn.

1.5.5.3 Nguy cơ đối với môi trường không khí

Khi phân loại và thu gom rác thải tại nguồn, bụi, bào tử vi sinh vật gây bệnh, dung môi và hóa chất có thể phát tán vào không khí Nếu không được thu hồi và xử lý đúng cách, những chất này sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống và sức khỏe cộng đồng.

1.5.5.4 Nguy cơ thiệt hại về kinh tế do tăng chi phí sử lý chất thải

CTRYT chỉ chiếm 0,5% tổng lượng chất thải phát sinh từ hoạt động của con người, nhưng lại có thành phần đa dạng và phức tạp với tỷ lệ chất thải nguy hại cao Giai đoạn phân loại và thu gom chất thải là rất quan trọng, vì nó liên quan đến tất cả mọi người trong cơ sở y tế, từ nhân viên y tế đến bệnh nhân và người nhà, và có thể dẫn đến sai sót hoặc nhầm lẫn.

1.5.6 Những lợi ích từ việc quản lý tốt chất thải rắn y tế

Quản lý chất thải rắn y tế hiệu quả không chỉ giúp kiểm soát bệnh tật, đặc biệt là nhiễm khuẩn bệnh viện, mà còn bảo vệ sức khỏe cho bệnh nhân Điều này cũng giảm thiểu nguy cơ phơi nhiễm cho nhân viên y tế và cộng đồng, đồng thời ngăn chặn việc tái chế và tái sử dụng chất thải y tế một cách bất hợp pháp, mang lại lợi ích cho xã hội Hơn nữa, quản lý chất thải y tế tốt sẽ giúp giảm chi phí xử lý chất thải cho các cơ sở y tế.

Công tác quản lý chất thải y tế

1.6.1 Công tác quản lý CTRYT trên thế giới

Trong quản lý chất thải nguy hại, đặc biệt là chất thải y tế, các cơ sở y tế cần thực hiện các hoạt động cơ bản để đạt được mục tiêu theo WHO Cụ thể, cần đánh giá thực trạng phát sinh chất thải tại bệnh viện, bao gồm khối lượng và thành phần Đồng thời, cần đánh giá khả năng kiểm soát và các biện pháp xử lý chất thải, cũng như thực hiện phân loại chất thải một cách hiệu quả.

HUPH nhóm xây dựng quy trình và quy định quản lý chất thải, bao gồm nơi lưu giữ, màu sắc, đặc điểm túi và thùng thu gom, cũng như nhãn quy định Nhân viên cần được tập huấn về quản lý chất thải và sử dụng phương tiện bảo hộ an toàn Các cơ sở y tế phải chịu trách nhiệm về hoạt động quản lý chất thải và lập kế hoạch lựa chọn biện pháp xử lý phù hợp.

Nghiên cứu của Anong Hansakul và cộng sự năm 2007 tại 12 bệnh viện ở Đông Bắc Thái Lan cho thấy việc quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện này do công ty tư nhân thực hiện, nhưng vẫn còn thiếu đường và phương tiện vận chuyển Khu vực lưu giữ chất thải y tế chưa đạt tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Y tế, và công nhân thiếu phương tiện bảo hộ Kiến thức về quản lý chất thải y tế của công nhân công ty tư nhân còn nhiều hạn chế.

Theo một cuộc điều tra của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại 22 quốc gia đang phát triển, có từ 18% đến 64% các cơ sở y tế không tuân thủ đúng quy định về quản lý chất thải.

1.6.2 Công tác quản lý CTRYT tại Việt Nam Ở Việt Nam, phần lớn các BV trong quá trình thiết kế và xây dựng trong giai đoạn đất nước còn nghèo đặc biệt tại các tuyến huyện có các TTYT Do vậy vấn đề này đã ảnh hưởng, tác động gây ô nhiễm cho môi trường cơ sở y tế và môi trường xung quanh Hệ thống xử lý triệt để các loại CTRYT tại các cơ sở y tế còn thiếu nhiều Việc

Việc thu gom phế thải từ cơ sở y tế chủ yếu được thực hiện bằng phương pháp thủ công và vận chuyển chất thải ra các bể chứa, thùng chứa hở Trong điều kiện khí hậu nóng ẩm của Việt Nam, sự xuất hiện của chuột, bọ, côn trùng và con người bới rác làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm, gây mất vệ sinh tại cơ sở y tế và môi trường xung quanh.

Năm 2011, nghiên cứu tại 15 khoa lâm sàng của bệnh viện Việt Đức cho thấy mặc dù có đủ các phương tiện quản lý chất thải, nhưng chất lượng và hình thức vẫn chưa đạt yêu cầu Tỷ lệ nhầm lẫn trong phân loại chất thải cao, trung bình lên đến 40%, có khoa lên tới 65% Hơn 50% các khoa, phòng chưa tuân thủ đúng quy định về thu gom chất thải y tế Nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên hệ giữa thâm niên công tác, chức danh chuyên môn và thực hành quản lý chất thải y tế.

Năm 2011, nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa huyện Đông Anh cho thấy tình trạng thiếu đồng bộ trong trang thiết bị và phương tiện quản lý chất thải y tế Kiến thức và thực hành của nhân viên y tế về quản lý chất thải y tế chưa đạt yêu cầu, với hơn 80% không đồng đều, đặc biệt quy trình thu gom và vận chuyển chỉ đạt 52,6%.

Các nghiên cứu tại các bệnh viện từ tuyến huyện đến tuyến trung ương cho thấy còn nhiều hạn chế trong việc quản lý chất thải y tế, đặc biệt về phương tiện và trang thiết bị Kiến thức và thực hành quản lý chất thải y tế chưa đồng đều và còn thấp trong các quy trình và địa điểm nghiên cứu.

Theo báo cáo của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường năm 2009, 50% cơ sở y tế dự phòng tại 63 tỉnh, thành phố không có thùng rác đúng quy định.

Việc thu gom chất thải lây nhiễm màu vàng và có biểu tượng chất thải sinh học tại các cơ sở y tế vẫn còn hạn chế, với hơn 80% cơ sở đã thực hiện phân loại nhưng vẫn để lẫn chất thải thông thường với chất thải y tế nguy hại Hầu hết các tỉnh, thành phố đều xử lý chất thải y tế không nguy hại thông qua công ty M tại các khu xử lý chất thải rắn tập trung của địa phương.

Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có 236 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương, trong đó 168 cơ sở (chiếm 47%) được trang bị lò đốt chất thải y tế (CTRYT) Đến nay, 12/14 tỉnh đã bố trí xử lý CTRYT tại khu xử lý chung của tỉnh Tại Bệnh viện Đà Nẵng, 100% CTRYT nguy hại được đưa về lò đốt tại khu xử lý Khánh Sơn.

Hiện nay, hầu hết các bệnh viện, đặc biệt là bệnh viện tuyến tỉnh và huyện, đang sử dụng lò đốt thủ công để thiêu đốt chất thải y tế mà không có hệ thống xử lý khí thải Trong số đó, chỉ có 197 lò đốt 2 buồng, còn lại chủ yếu là lò đốt thủ công.

Gần 34% bệnh viện có giường bệnh xử lý chất thải y tế bằng lò đốt, trong khi 39,2% hợp tác với công ty môi trường đô thị để thuê xử lý Ngoài ra, 26,9% bệnh viện thực hiện việc thiêu đốt thủ công hoặc tự chôn lấp chất thải trong khuôn viên, chủ yếu là các bệnh viện tuyến huyện và một số ít khác.

BV chuyên khoa tại các tỉnh miền núi [29]

Trên toàn quốc, có 11.104 trạm y tế xã với hơn 298.800 giường bệnh, nhưng việc quản lý chất thải y tế (CTRYT) tại các trạm này chưa được chú trọng Hầu hết các trạm y tế xã không xử lý CTRYT trước khi thải bỏ, mà thường sử dụng phương pháp thiêu đốt ngoài trời hoặc trong các lò đốt thủ công Các chất thải khó thiêu đốt thường được xử lý như rác đô thị hoặc chôn lấp không đảm bảo vệ sinh Ngoài ra, dụng cụ thu gom chất thải còn thiếu và không đúng quy định về màu sắc và chủng loại.

Giới thiệu địa bàn nghiên cứu

1.7.1 Thông tin về địa lý

Hoàng Mai là thị xã thuộc tỉnh Nghệ An, được thành lập vào ngày 03 tháng 4 năm 2013 theo Nghị quyết 47/NQ-CP của Chính phủ Thị xã này có diện tích tự nhiên 16.974,88 ha và dân số khoảng 105.105 người, bao gồm toàn bộ diện tích của thị trấn Hoàng Mai cùng các phường/xã như Quỳnh Thiện, Quỳnh Vinh, Quỳnh Dị, Quỳnh Phương, Quỳnh Lộc, Quỳnh Lập, Quỳnh Liên, Quỳnh Xuân, và Quỳnh Trang Dân số của thị xã Hoàng Mai hiện nay vượt quá 100.000 người.

Thị xã Hoàng Mai có 10 trạm y tế với tổng cộng 78 nhân viên, bao gồm 5 bác sĩ, 15 y sĩ, 39 điều dưỡng trung cấp, 14 nhân viên y tế trung cấp và 4 dược sĩ Các trạm y tế này đóng vai trò quan trọng trong việc phòng chống dịch bệnh, thực hiện các chương trình y tế và chương trình mục tiêu quốc gia, đồng thời cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh ban đầu Mặc dù đã được nâng cấp và cải tạo cơ sở hạ tầng, công tác quản lý vẫn cần được chú trọng.

Kinh phí hoạt động nói chung và kinh phí cho quản lý chất thải nói riêng còn hạn chế [20]

Chương trình tiêm chủng mở rộng đã đạt được kết quả cao, với tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ là 95,7% (4.322/4.515) Đối với phụ nữ mang thai, tỷ lệ tiêm phòng uốn ván đạt 96,5% (2.720/2.890) Ngoài ra, tỷ lệ tiêm vắc xin sởi bổ sung cho trẻ em từ 1 đến 6 tuổi là 89,9% (2.598/2.712).

Trong công tác khám chữa bệnh, tổng số lượt khám đạt 86.401 lượt, bao gồm 1.031 lượt tại phòng khám Trung tâm y tế và 85.370 lượt tại 10 trạm y tế Ngoài ra, có 20 ca siêu âm, 20 ca xét nghiệm nước tiểu, 94 test HIV dương tính và 608 lam nhuộm soi.

HUPH ghi nhận 1.139 ca cấp cứu do tai nạn thương tích, 1.360 ca nạo hút thai và 1.556 ca đỡ đẻ tại các trạm y tế Mỗi tháng, hơn 1.250 trẻ em được đưa đến trạm y tế để tiêm chủng và phòng ngừa các bệnh.

Thông tin về quản lý chất thải rắn y tế

Từ năm 2010, ba trạm y tế đã được xây dựng với đầy đủ trang thiết bị nhưng thiếu hệ thống xử lý chất thải, đặc biệt là chất thải rắn Bảy trạm y tế khác đã được sửa chữa để phục vụ khám chữa bệnh, nhưng cơ sở hạ tầng hiện tại đang xuống cấp Mặc dù đã có lò đốt rác bằng xi măng, nhưng lò đốt bằng kim loại vẫn chưa được xây dựng Nhiều lò đốt rác hiện có đã bị hỏng hoặc han gỉ, không đạt yêu cầu về công suất và hiệu quả sử dụng Một số hố đốt rác được lắp đặt ở vị trí không thuận lợi, dẫn đến việc xử lý và thiêu hủy chất thải y tế không đúng quy định của Bộ Y tế.

Theo Bộ tiêu chí Quốc gia y tế xã giai đoạn 2011 – 2020, Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An và Sở Y tế tỉnh đang đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng cho các trạm y tế xã và phòng khám đa khoa khu vực Năm 2014, Phòng khám đa khoa khu vực thị xã Hoàng Mai và phòng khám đa khoa Quang Khởi đã được xây mới hoàn toàn, cùng với việc cải tạo một số trạm y tế Đồng thời, Sở Y tế tỉnh Nghệ An đã đưa quy trình phân loại và thu gom chất thải y tế vào bảng điểm kiểm tra công tác y tế tại các Trung tâm Y tế.

Trạm y tế tại thị xã Hoàng Mai đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu Tuy nhiên, chất thải từ các phòng khám tại đây cũng chứa nhiều nguy cơ tương tự như chất thải từ bệnh viện Hiện tại, vẫn còn thiếu các nghiên cứu toàn quốc về quản lý chất thải y tế, điều này cần được chú trọng hơn trong tương lai.

Theo các khảo sát ban đầu tại Trung tâm y tế thị xã, mỗi năm nơi đây thải ra khoảng 2.160 kg chất thải lây nhiễm Trung tâm y tế thị xã đã có những biện pháp xử lý chất thải này.

HUPH đã quy định về việc phân loại và thu gom chất thải rắn (CTR) của công ty môi trường đô thị tại thị xã Hoàng Mai từ tháng 5/2013, nhằm mục đích thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải y tế một cách hiệu quả.

: 1.634 kg; năm 2014 vận chuyển: 2.046 kg [19]

Công tác quản lý chất thải y tế tại địa phương được thực hiện thông qua Ban chỉ đạo quản lý chất thải y tế của phòng Môi trường Đơn vị này có nhiệm vụ kiểm soát nhiễm khuẩn tại Trung tâm y tế, đảm bảo an toàn và hiệu quả trong việc xử lý chất thải y tế.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ

Ngày đăng: 27/07/2023, 01:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1.   (phụ lục 8a). - Thực trạng, kiến thức, thực hành của nhân viên y tế phân loại, thu gom chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan tại các trạm y tế trên địa bàn thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an năm 2015
Bảng 2.1. (phụ lục 8a) (Trang 35)
Bảng 2.3.  Các biến số nghiên cứu - Thực trạng, kiến thức, thực hành của nhân viên y tế phân loại, thu gom chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan tại các trạm y tế trên địa bàn thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an năm 2015
Bảng 2.3. Các biến số nghiên cứu (Trang 37)
Bảng 3.2  thải rắn y tế (n= 10) - Thực trạng, kiến thức, thực hành của nhân viên y tế phân loại, thu gom chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan tại các trạm y tế trên địa bàn thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an năm 2015
Bảng 3.2 thải rắn y tế (n= 10) (Trang 50)
Bảng 3.3. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu - Thực trạng, kiến thức, thực hành của nhân viên y tế phân loại, thu gom chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan tại các trạm y tế trên địa bàn thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an năm 2015
Bảng 3.3. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (Trang 51)
Bảng 3.4. Kiến thức chung về chất thải rắn y tế  (n=78). - Thực trạng, kiến thức, thực hành của nhân viên y tế phân loại, thu gom chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan tại các trạm y tế trên địa bàn thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an năm 2015
Bảng 3.4. Kiến thức chung về chất thải rắn y tế (n=78) (Trang 53)
Bảng 3.5. Kiến thức về phân loại chất thải y tế  (n=78) - Thực trạng, kiến thức, thực hành của nhân viên y tế phân loại, thu gom chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan tại các trạm y tế trên địa bàn thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an năm 2015
Bảng 3.5. Kiến thức về phân loại chất thải y tế (n=78) (Trang 53)
Bảng 3.6. Kiến thức về thu gom chất thải rắn y tế (n=78) - Thực trạng, kiến thức, thực hành của nhân viên y tế phân loại, thu gom chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan tại các trạm y tế trên địa bàn thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an năm 2015
Bảng 3.6. Kiến thức về thu gom chất thải rắn y tế (n=78) (Trang 54)
Bảng 3.7.  hực hành về phân loại và thu gom chất thải rắn. - Thực trạng, kiến thức, thực hành của nhân viên y tế phân loại, thu gom chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan tại các trạm y tế trên địa bàn thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an năm 2015
Bảng 3.7. hực hành về phân loại và thu gom chất thải rắn (Trang 56)
Bảng 3.8. Liên quan giữa kiến thức chung về  CTRYT và giới tính (n=78). - Thực trạng, kiến thức, thực hành của nhân viên y tế phân loại, thu gom chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan tại các trạm y tế trên địa bàn thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an năm 2015
Bảng 3.8. Liên quan giữa kiến thức chung về CTRYT và giới tính (n=78) (Trang 57)
Bảng 3.10. Liên quan giữa kiến thức  , thu gom CTRYT và trình độ chuyên môn - Thực trạng, kiến thức, thực hành của nhân viên y tế phân loại, thu gom chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan tại các trạm y tế trên địa bàn thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an năm 2015
Bảng 3.10. Liên quan giữa kiến thức , thu gom CTRYT và trình độ chuyên môn (Trang 58)
Bảng 3.9. Liên quan giữa kiến thức chung về C  (n=78). - Thực trạng, kiến thức, thực hành của nhân viên y tế phân loại, thu gom chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan tại các trạm y tế trên địa bàn thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an năm 2015
Bảng 3.9. Liên quan giữa kiến thức chung về C (n=78) (Trang 58)
Bảng 3.10 cho thấy tỷ lệ đạt về kiến thức  , thu gom chất thải rắn y - Thực trạng, kiến thức, thực hành của nhân viên y tế phân loại, thu gom chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan tại các trạm y tế trên địa bàn thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an năm 2015
Bảng 3.10 cho thấy tỷ lệ đạt về kiến thức , thu gom chất thải rắn y (Trang 59)
Bảng 3.12. Liên quan giữa kiến thức chung về CTRYT với việc đã được phổ biến - Thực trạng, kiến thức, thực hành của nhân viên y tế phân loại, thu gom chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan tại các trạm y tế trên địa bàn thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an năm 2015
Bảng 3.12. Liên quan giữa kiến thức chung về CTRYT với việc đã được phổ biến (Trang 60)
Bảng  3.15.  Liên  quan  giữa  thực  hành  phân  loại  chất  thải  rắn  y  tế  và  trình  độ  chuyên môn (n=62) - Thực trạng, kiến thức, thực hành của nhân viên y tế phân loại, thu gom chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan tại các trạm y tế trên địa bàn thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an năm 2015
ng 3.15. Liên quan giữa thực hành phân loại chất thải rắn y tế và trình độ chuyên môn (n=62) (Trang 61)
Bảng  3.16.  Liên  quan  giữa  thực  hành  phân  loại  chất  thải  rắn  y  tế  và  chức  danh  chuyên môn (n=62) - Thực trạng, kiến thức, thực hành của nhân viên y tế phân loại, thu gom chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan tại các trạm y tế trên địa bàn thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an năm 2015
ng 3.16. Liên quan giữa thực hành phân loại chất thải rắn y tế và chức danh chuyên môn (n=62) (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w