1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế khối lâm sàng và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện đà nẵng năm 2022

116 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế khối lâm sàng và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện Đà Nẵng năm 2022
Tác giả Lý Thị Bình
Người hướng dẫn PGS.TS Hoàng Cao Sạ
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Quản lý bệnh viện
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 3,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (14)
    • 1.1. Nhân lực y tế (14)
      • 1.1.1. Khái niệm về nhân lực y tế (14)
      • 1.1.3. Nguồn nhân lực y tế trên thế giới và Việt Nam (14)
    • 1.2. Sự hài lòng đối với công việc (15)
      • 1.2.1. Khái niệm (15)
    • 1.3. Một số thang đo đánh giá sự hài lòng đối với công việc (18)
    • 1.4. Những nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về hài lòng công việc của NVYT (20)
    • 1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng với công việc của nhân viên y tế (23)
    • 1.6. Giới thiệu về bệnh viện Đà Nẵng (28)
      • 1.6.1. Lịch sử hình thành (28)
    • 1.7. Khung lý thuyết (29)
  • CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (31)
    • 2.1. Đối tƣợng nghiên cứu (31)
      • 2.1.1. Nghiên cứu định lƣợng (31)
      • 2.1.2. Nghiên cứu định tính (31)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (31)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (32)
    • 2.4. Cỡ mẫu nghiên cứu (32)
      • 2.4.1. Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng (32)
      • 2.4.2. Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính (32)
    • 2.5. Phương pháp chọn mẫu (33)
      • 2.5.1. Nghiên cứu định lượng (33)
      • 2.5.2. Nghiên cứu định tính (33)
    • 2.6. Phương pháp thu thập số liệu (34)
      • 2.6.1. Thủ tục hành chính (34)
      • 2.6.2. Thu thập số liệu định lượng (34)
      • 2.6.3. Thu thập số liệu định tính (34)
    • 2.7. Biến số của nghiên cứu (35)
      • 2.7.1. Biến số của nghiên cứu định lượng (35)
      • 2.7.2. Các chủ đề nghiên cứu định tính (35)
    • 2.8. Bộ công cụ và tiêu chí đánh giá (35)
      • 2.8.1. Bộ công cụ thu thập số liệu (35)
      • 2.8.2. Tiêu chí đánh giá sự hài lòng (35)
    • 2.9. Phân tích số liệu (37)
      • 2.9.1. Số liệu định lượng (37)
      • 2.9.2. Dữ liệu định tính (37)
    • 2.10. Đạo đức nghiên cứu (37)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (39)
    • 3.1. Đặc điểm chung của nhân viên y tế (39)
    • 3.2. Sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế tại bệnh viện Đà Nẵng (41)
    • 3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến hài lòng công việc của NVYT (59)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (65)
    • 4.1. Sự hài lòng về công việc của NVYT (65)
    • 4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của NVYT (70)
    • 4.3. Hạn chế của nghiên cứu (74)
  • KẾT LUẬN (75)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (77)
  • PHỤ LỤC (6)

Nội dung

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tƣợng nghiên cứu

- Bác sĩ, điều dƣỡng đang công tác ở các khoa lâm sàng tại Bệnh viện Đà Nẵng năm 2022

- Có hợp đồng lao động;

- Đang công tác ở các khoa lâm sàng từ 6 tháng trở lên;

- Tự nguyện tham gia nghiên cứu

Những người đủ tiêu chuẩn nhưng vắng mặt trong thời gian nghiên cứu do đi học dài hạn, nghỉ thai sản, hoặc nghỉ ốm có thể xin dừng tham gia nghiên cứu bất cứ lúc nào với lý do hợp lý.

- Lãnh đạo khoa lâm sàng khối nội và khối ngoại;

- Bác sĩ, điều dƣỡng tại các khoa lâm sàng

- Có chứng chỉ hành nghề Y

- Có hợp đồng lao động

- Không đồng ý tham gia nghiên cứu;

- Thời gian công tác dưới 06 tháng (tính đến thời điểm nghiên cứu)

- Những người đi học xa, nghỉ thai sản, nghỉ ốm…

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu đƣợc thực hiện tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đà Nẵng, 124 Hải Phòng, Phường Thạch Thang, Quận Hải Châu, TP Đà Nẵng

Nghiên cứu tiến hành: Từ tháng 12/2021 đến tháng 10/2022

Thời gian thu thập số liệu: Từ tháng 4 đến tháng 7/2022

Thiết kế nghiên cứu

- Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp theo trình tự định lƣợng tiến hành trước và định tính tiến hành sau

- Nghiên cứu định lƣợng đƣợc thực hiện thông qua việc thu thập số liệu bằng bộ câu hỏi khảo sát tại Bệnh viện Đà Nẵng

Nghiên cứu định tính được tiến hành thông qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với các đối tượng nghiên cứu, nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhân viên y tế.

Cỡ mẫu nghiên cứu

2.4.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng

Sử dụng công thức tính cỡ mẫu ƣớc lƣợng cho một tỷ lệ:

: Số lƣợng mẫu cần khảo sát

Giá trị thu được từ bảng Z là 1,96, tương ứng với mức ý nghĩa thống kê Tỷ lệ ước lượng được lựa chọn theo kết quả nghiên cứu tại khoa Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2019 của tác giả Trần Phước Lâm là 0,77 Sai số biến thiên cho phép là 0,05.

Thay các số ta có cỡ mẫu n = 273 và cỡ mẫu cho nghiên cứu là 278

2.4.2 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính

- Phỏng vấn sâu 05 cuộc bao gồm:

01 Chủ tịch công đoàn kiêm Phó Giám đốc bệnh viện

01 Lãnh đạo khoa lâm sàng khối nội

01 Lãnh đạo khoa lâm sàng khối ngoại

01 Điều dưỡng trưởng khối nội

01 Điều dưỡng trưởng khối ngoại

- Thảo luận nhóm chia làm 02 nhóm :

Phương pháp chọn mẫu

Theo danh sách nhân viên của phòng tổ chức, có tổng cộng 410 nhân viên ở 11 khoa khối ngoại và 510 nhân viên ở 13 khoa khối nội Việc chọn ngẫu nhiên sẽ được thực hiện theo hệ thống danh sách ở từng khoa từ trên xuống theo hệ số k.

=3 và chọn khi đủ số lƣợng 278 phiếu

Thực hiện phỏng vấn sâu có chủ đích gồm 05 cuộc bao gồm:

- 01 Chủ tịch công đoàn kiêm Phó Giám đốc bệnh viện

- 01 Lãnh đạo khoa lâm sàng khối nội

- 01 Lãnh đạo khoa lâm sàng khối ngoại

- 01 Điều dưỡng trưởng khối nội

- 01 Điều dưỡng trưởng khối ngoại

Thực hiện 02 cuộc thảo luận nhóm và chia thành 02 nhóm nhƣ sau:

Phương pháp thu thập số liệu

Nghiên cứu viên (NCV) xin phép Ban lãnh đạo bệnh viện, Hội đồng khoa học bệnh viện để thực hiện nghiên cứu tại Bệnh viện Đà Nẵng

2.6.2 Thu thập số liệu định lượng

Bước 1: Nghiên cứu viên tập huấn cho 2 thành viên phòng Quản lý chất lƣợng về nội dung, quy trình của bộ công cụ thu thập số liệu

Bước 2: NCV điện thoại đến điều dưỡng trưởng các khoa lâm sàng và thông báo về thời gian thực hiện phát phiếu khảo sát nhân viên

Bước 3: Nghiên cứu viên phối hợp với hai thành viên từ phòng Quản lý chất lượng đến từng khoa lâm sàng để phát phiếu, sau khi đã xác định thời gian cụ thể Đồng thời, nghiên cứu viên chuẩn bị bộ câu hỏi đầy đủ để phát cho từng khoa.

Bước 4: Nghiên cứu viên tổng hợp từng phiếu ở các khoa và kiểm phiếu theo số lƣợng đã phát và kiểm tra phiếu có hợp lệ không

2.6.3 Thu thập số liệu định tính

Nghiên cứu viên sẽ gửi email và tin nhắn Zalo cho đối tượng phỏng vấn để thông báo về mục đích của cuộc phỏng vấn và xin lịch hẹn để thực hiện phỏng vấn.

Sau khi đối tượng đồng ý tham gia phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, NCV sẽ mượn phòng và chuẩn bị đầy đủ các thủ tục cần thiết cho cuộc phỏng vấn.

Bước 3: Thực hiện phỏng vấn sâu với NCV bằng cách sử dụng bộ câu hỏi đã chuẩn bị sẵn Trong quá trình phỏng vấn, cần xin phép để ghi âm hoặc ghi chép lại nhằm nâng cao tính khách quan cho nghiên cứu.

Bước 4: Nhóm nghiên cứu viên (NCV) cùng hai thành viên từ phòng Quản lý chất lượng tiến hành thảo luận tại phòng giao ban của bệnh viện, sử dụng bộ câu hỏi đã chuẩn bị sẵn Trong quá trình thảo luận, NCV xin phép ghi âm và ghi chép để phục vụ cho nghiên cứu.

Biến số của nghiên cứu

2.7.1 Biến số của nghiên cứu định lượng

- Thông tin chung của NVYT

- Về môi trường làm việc;

- Lãnh đạo trực tiếp, đồng nghiệp;

- Quy chế nội bộ, tiền lương, phúc lợi;

- Công việc, cơ hội học tập và thăng tiến;

- Hài lòng chung về bệnh viện/ khoa

2.7.2 Các chủ đề nghiên cứu định tính

- Yếu tố môi trường bên trong

- Yếu tố môi trường bên ngoài

-Yếu tố đặc điểm của NVYT.

Bộ công cụ và tiêu chí đánh giá

2.8.1 Bộ công cụ thu thập số liệu

Công cụ định lượng thu thập được sử dụng là bộ câu hỏi phỏng vấn NVYT Sau khi hoàn thành bộ câu hỏi, tác giả đã chọn ngẫu nhiên 04 NVYT, bao gồm 01 bác sĩ khoa nội, 01 bác sĩ khoa ngoại, 01 điều dưỡng khoa ngoại và 01 điều dưỡng khoa nội, để khảo sát Mục đích là để xác định những điểm chưa phù hợp hoặc khó hiểu trong bộ câu hỏi Kết quả cho thấy tất cả đều hiểu rõ và không cần điều chỉnh gì thêm.

Do đó tác giả sử dụng bộ câu hỏi này là chính thức để thu thập số liệu cho nghiên cứu này

- Bộ công cụ định tính đƣợc xây dựng dựa trên khung lý thuyết của nghiên cứu

2.8.2 Tiêu chí đánh giá sự hài lòng

Dựa theo hướng dẫn của Quyết định số 3869/ QĐ-BYT ngày 28/8/2019 của

Bộ Y tế về việc hướng dẫn cách tính dựa theo thang đo 5 mức độ và được chia như sau:

Rất không hài lòng : 1 Không

Thang đo hài lòng của nhân viên y tế (NVYT) bao gồm 44 câu hỏi, được phân thành 5 tiêu chí đánh giá Điểm số dao động từ 44 (thấp nhất) đến 220 (cao nhất) Cách tính điểm được quy định rõ ràng.

- Nhóm không hài lòng: Từ 44 điểm đến dưới 176 điểm

- Nhóm hài lòng: Từ 176 điểm đến 220 điểm

Bảng 1.1 Quy định điểm chuẩn đánh giá sự hài lòng với công việc

STT Tên tiêu chí Số tiểu mục Điểm tối thiểu - Điểm tối đa

Hài lòng Chƣa hài lòng

1 Về môi trường làm việc(cơ sở vật chất,trang thiết bị, phương tiện phòng hộ cá nhân)

(36 – 44 hài lòng; 45: rất hài lòng)

2 Về lãnh đạo, đồng nghiệp 9 9 - 45 ≥ 36

(36 – 44 hài lòng; 45: rất hài lòng)

3 Quy chế nội bộ, lương, phúc lợi

(48 – 60 hài lòng; 61: rất hài lòng)

4 Công việc, học tập và thăng tiến

5 Hài lòng chung về bệnh viện

(28 – 34 hài lòng; 35: rất hài lòng)

Phân tích số liệu

- Số liệu định lƣợng sẽ đƣợc nhóm nghiên cứu thu thập, kiểm tra lại và làm sạch lại thông tin trước khi nhập liệu

- Nhóm nghiên cứu sử dụng phần mềm Epidata 3.1 để nhập liệu và sử dụng phần mềm SPSS 25 để phân tích số liệu

- Thống kê mô tả đặc điểm của NVYT về chuyên môn đào tạo, trình độ, tuổi, giới tính đối với sự hài lòng chung về công việc

Thống kê mô tả cho thấy tỷ lệ hài lòng và điểm hài lòng trung bình của nhân viên y tế (NVYT) về các khía cạnh như môi trường làm việc, quan hệ đồng nghiệp, lương và phúc lợi, cơ hội học tập và thăng tiến, cũng như mức độ hài lòng chung về bệnh viện.

Phân tích thống kê nhằm tìm hiểu mối liên hệ giữa các yếu tố như tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn cao nhất, chuyên môn đào tạo, số lần trực trong tháng, số năm công tác tại bệnh viện, vị trí công tác hiện tại và các nhiệm vụ kiêm nhiệm với mức độ hài lòng chung trong công việc.

Các dữ liệu định tính đƣợc phân tích theo chủ đề nghiên cứu.

Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu này đã được Hội đồng đạo đức Trường Đại học Y tế công cộng phê duyệt theo Quyết định số 72/2022/YTCC-HD3, xác nhận sự chấp thuận về các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh.

Nghiên cứu được thực hiện với sự chấp thuận của Ban lãnh đạo Bệnh viện Đà Nẵng và Hội đồng khoa học Các đối tượng tham gia hoàn toàn tự nguyện và có quyền từ chối tham gia mà không ảnh hưởng đến quyền lợi và trách nhiệm của họ.

Tại 26 nơi công tác, người tham gia có quyền từ chối trả lời nếu không muốn Tất cả thông tin và dữ liệu thu thập sẽ được bảo mật và chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung của nhân viên y tế

Bảng 3.1 Thông tin của NVYT tham gia khảo sát

Thông tin cá nhân Tần số

Chuyên môn đào tạo chính

Số năm công tác trong ngành Y

Kết quả khảo sát cho thấy, trong số nhân viên y tế tham gia, nữ giới chiếm 69,8% và nam giới chiếm 30,2% Độ tuổi chủ yếu là từ 31 đến 40 tuổi, chiếm 41,4%, trong khi nhóm trên 41 tuổi chiếm 23,4% Về chuyên môn, điều dưỡng chiếm 61,9% và bác sĩ chiếm 38,1% Trình độ học vấn chủ yếu là đại học với 48,9%, trong khi trung cấp chỉ chiếm 5,8% Thời gian công tác trong ngành y tế, nhóm có trên 7 năm kinh nghiệm chiếm 64,0%, còn nhóm có từ 1 đến 3 năm kinh nghiệm chiếm 16,5%.

Bảng 3.2: Thông tin về công việc và vị trí công tác của NVYT tham gia khảo sát Thông tin về công việc và vị trí công tác

Tần số (n = 278) Tỷ lệ (%) Thời gian công tác tại bệnh viện hiện nay

Phạm vi hoạt động chuyên môn

Kiêm nhiệm từ 3 công việc trở lên 19 6,8

Vị trí công việc hiện tại

Nhân viên biên chế/HĐ dài hạn 253 91,0

Bảng 3.2 mô tả công việc và vị trí làm việc của nhân viên, trong đó 66,2% nhân viên y tế có kinh nghiệm trên 7 năm, trong khi chỉ 2,2% có thời gian làm việc dưới 1 năm.

Tại HUPH, khối nội chiếm 63,7%, cao hơn khối ngoại với 36,3% Trong số đó, tỷ lệ không kiêm nhiệm là 77,0%, kiêm nhiệm 2 công việc là 16,2%, và kiêm nhiệm 3 công việc trở lên chỉ chiếm 6,8%, chủ yếu là ban lãnh đạo khoa Về số lần trực, 68,0% thực hiện từ 5-8 lần mỗi tháng, trong khi 12,6% trực trên 8 lần và 19,4% trực dưới 4 lần mỗi tháng.

Sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế tại bệnh viện Đà Nẵng

3.2.1 Sự hài lòng về môi trường làm việc

Môi trường làm việc lý tưởng cho phép nhân viên phát huy tối đa khả năng, cống hiến cho công việc và cảm thấy hài lòng Để đánh giá môi trường này, có thể dựa vào các tiêu chí cụ thể và kết quả đạt được.

Bảng 3.3 Các tiêu chí của yếu tố môi trường làm việc

Mức độ hài lòng n'8 (%) Rất không hài lòng

1 Phòng làm việc sạch sẽ, thoáng mát

2 Trang thiết bị phục vụ cho công việc hàng ngày

Có phòng trực cho NVYT 0

4 Phân chia thời gian làm việc hợp lý

5 Trang bị phòng hộ cho

NVYT ( quần áo, khẩu trang, găng tay) đầy đủ

6 Môi trường học tập để 2 4 40 135 97

Mức độ hài lòng n'8 (%) Rất không hài lòng

NVYT cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ

7 Môi trường làm việc đảm bảo an toàn cho NVYT

8 Bệnh viện đảm bảo an ninh, trật tự cho NVYT làm việc

9 NVYT đƣợc tôn trọng trong quá trình chăm sóc người bệnh

Theo Bảng 3.3, nhân viên y tế (NVYT) thể hiện sự hài lòng cao nhất với phòng làm việc sạch sẽ, gọn gàng (91,4%) Tiếp theo, bệnh viện đảm bảo an ninh, trật tự cho NVYT làm việc đạt 88,9% Các tiêu chí khác bao gồm có phòng trực cho NVYT và môi trường làm việc an toàn (87,4%), phân chia thời gian trực hợp lý (84,9%), môi trường học tập hỗ trợ cập nhật kiến thức (83,5%), trang bị bảo hộ và phương tiện phòng hộ cá nhân đầy đủ (80,6%) Cuối cùng, tiêu chí có trang thiết bị phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh đầy đủ đạt tỷ lệ thấp nhất là 50,7%.

Theo khảo sát, 41,7% nhân viên y tế (NVYT) rất hài lòng về phòng trực, trong khi 45,7% hài lòng và 7,0% không hài lòng Đối với phòng làm việc, 37,4% NVYT rất hài lòng, 54,0% hài lòng và 8,7% không hài lòng Về việc phân chia thời gian trực và làm việc ngoài giờ, 34,2% NVYT rất hài lòng, 50,7% hài lòng, 14,4% không hài lòng và 0,7% rất không hài lòng.

Theo khảo sát về sự hài lòng của nhân viên y tế (NVYT) tại HUPH, có 29,5% NVYT rất hài lòng với phòng hộ cá nhân, trong khi 51,1% hài lòng, 19,0% không hài lòng và 0,4% rất không hài lòng Về trang thiết bị phục vụ công việc, 50,7% NVYT hài lòng, 14,7% không hài lòng và 34,5% rất không hài lòng Đối với an ninh trật tự, 37,8% NVYT rất hài lòng, 51,1% hài lòng, 10,8% không hài lòng và 0,4% rất không hài lòng Môi trường làm việc an toàn được 37,4% NVYT đánh giá rất hài lòng, 50,0% hài lòng và 12,6% không hài lòng Về môi trường học tập, 34,9% NVYT rất hài lòng với điều kiện cập nhật kiến thức, 48,6% hài lòng, 15,8% không hài lòng và 0,7% rất không hài lòng Cuối cùng, về sự tôn trọng và hợp tác từ người bệnh và người nhà, 25,9% NVYT rất hài lòng, 54,7% hài lòng và 19,4% không hài lòng.

Sự hài lòng của nhân viên y tế về môi trường làm việc được đánh giá qua 9 tiêu chí với 5 mức độ khác nhau Trong đó, mức độ hài lòng bao gồm: hài lòng và rất hài lòng, trong khi mức độ không hài lòng được phân chia thành bình thường, không hài lòng và rất không hài lòng Điểm số hài lòng được xác định từ 36 đến 45 điểm, trong khi điểm số dưới 36 được coi là không hài lòng.

Bảng 3.4 Tỷ lệ hài lòng chung của NVYT đối với môi trường làm việc

Nội dung Tuần suất (n = 278) Tỷ lệ (%)

Biểu đồ 3.1.Tỷ lệ hài lòng chung của NVYT về môi trường làm việc

Qua biểu đồ 3.1 cho thấy tỷ lệ NVYT hài lòng về môi trường làm việc 73% và không hài lòng về môi trường làm việc 27%

3.2.2 Sự hài lòng về lãnh đạo trực tiếp, đồng nghiệp tại bệnh viện Đà Nẵng

Người lãnh đạo lý tưởng cần có năng lực, công bằng và khuyến khích phản hồi từ nhân viên Nhân viên sẽ cảm thấy hài lòng khi nhận được sự quan tâm và đối xử công bằng từ lãnh đạo, cùng với sự hỗ trợ từ đồng nghiệp, giúp công việc ngày càng hoàn thiện hơn.

Bảng 3.5 Các tiêu chí về lãnh đạo trực tiếp, đồng nghiệp

Mức độ hài lòng n= 278(%) Rất không hài lòng

1 Năng lực xử lý, điều hành, giải quyết công việc của lãnh đạo

2 Phân công công việc của lãnh 0 4 23 119 132

Hài lòng Không hài lòng

Mức độ hài lòng n= 278(%) Rất không hài lòng

Rất hài lòng đạo phù hợp 0,0 1,4 8,3 42,8 47,5

3 Sự quan tâm, tôn trọng, đối xử bình đẳng của lãnh đạo đối với

4 Lãnh đạo lắng nghe và tiếp thu ý kiến

5 Lãnh đạo khích lệ, động viên nhân viên

6 Đồng nghiệp giúp đỡ nhau để hoàn thành nhiệm vụ

7 Nơi làm việc thân thiện, đoàn kết

8 Chia sẽ kinh nghiệp từ đồng nghiệp và giúp đỡ nhau trong công việc

9 Đồng nghiệp quan tâm giúp đỡ nhau trong cuộc sống,

Bảng 3.5 Thể hiện về sự hài lòng đối với lãnh đạo trực tiếp, đồng nghiệp Có

Trong môi trường làm việc, có 9 tiêu chí đánh giá quan trọng, trong đó đồng nghiệp chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ nhau chiếm 93,1% Tiêu chí về ý thức hợp tác để hoàn thành công việc và tạo ra môi trường làm việc thân thiện, đoàn kết đạt 92,8% Đồng nghiệp quan tâm và giúp đỡ lẫn nhau cũng rất quan trọng, với tỷ lệ 92,1% Lãnh đạo có năng lực xử lý, điều hành và giải quyết công việc chiếm 91,4%, trong khi việc phân công công việc phù hợp và động viên nhân viên hoàn thành nhiệm vụ cũng là yếu tố không thể thiếu.

Lãnh đạo thể hiện sự quan tâm và tôn trọng đối với nhân viên y tế (NVYT) với tỷ lệ đạt 90,3% Đặc biệt, 88,8% nhân viên cảm nhận được sự đối xử bình đẳng từ lãnh đạo Tuy nhiên, tỷ lệ lãnh đạo công nhận sự đóng góp của NVYT chỉ đạt 87,4%, cho thấy cần cải thiện trong việc ghi nhận những nỗ lực của họ.

Theo khảo sát, 48,2% nhân viên y tế (NVYT) rất hài lòng với năng lực xử lý và điều hành của lãnh đạo, trong khi 43,2% hài lòng và 8,7% không hài lòng Về việc phân công công việc phù hợp với chuyên môn, 47,5% NVYT rất hài lòng, 42,8% hài lòng và 9,7% không hài lòng Đối với sự quan tâm và tôn trọng từ lãnh đạo, 47,1% NVYT rất hài lòng, 41,7% hài lòng và 11,2% không hài lòng Lãnh đạo lắng nghe ý kiến của nhân viên cũng nhận được 47,1% sự hài lòng rất cao, 40,3% hài lòng và 12,6% không hài lòng Về động viên khích lệ nhân viên, 45,3% NVYT rất hài lòng, 45,0% hài lòng và 9,8% không hài lòng Sự hợp tác giữa đồng nghiệp được đánh giá cao với 44,6% rất hài lòng, 48,2% hài lòng và 7,2% không hài lòng Môi trường làm việc thân thiện có 45,0% NVYT rất hài lòng, 47,8% hài lòng và 6,9% không hài lòng Đồng nghiệp chia sẻ kinh nghiệm và giúp đỡ nhau trong công việc có 47,8% rất hài lòng, 45,3% hài lòng và 6,9% không hài lòng Cuối cùng, sự quan tâm và giúp đỡ giữa đồng nghiệp trong cuộc sống nhận được 46,8% sự hài lòng rất cao, 45,3% hài lòng và 7,5% không hài lòng.

Sự hài lòng của nhân viên y tế (NVYT) về lãnh đạo trực tiếp và đồng nghiệp được đánh giá qua 9 tiêu chí, với 5 mức độ đánh giá Trong đó, mức độ hài lòng bao gồm: hài lòng và rất hài lòng, trong khi mức độ không hài lòng gồm bình thường, không hài lòng và rất không hài lòng Mức độ hài lòng được coi là đạt.

36 -45 điểm; Không hài lòng: Dưới 36 điểm

Bảng 3.6 Tỷ lệ hài lòng chung về lãnh đạo trực tiếp, đồng nghiệp đối với NVYT

Nội dung Tuần suất (n = 278) Tỷ lệ (%)

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ hài lòng chung về lãnh đạo trực tiếp, đồng nghiệp đối với NVYT

Biểu đồ 3.2 cho ta kết quả có 14% NVYT không hài lòng và 86% NVYT hài lòng về lãnh đạo, đồng nghiệp

3.2.3 Sự hài lòng về quy chế nội bộ, tiền lương, phúc lợi đối với bệnh viện Đà Nẵng

Lương, thưởng và phúc lợi là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống của nhân viên y tế Mục tiêu đạt được thu nhập cao không chỉ là động lực để nhân viên y tế phát triển trình độ và khả năng làm việc mà còn thể hiện rõ qua các số liệu thống kê.

Hài lòng Không hài lòng

Bảng 3.7 Các tiêu chí về quy chế nội bộ, tiền lương và phúc lợi

Mức độ hài lòng n= 278 (%) Rất không hài lòng

1 Quy định, quy chế làm việc nội bộ rõ ràng và công khai

2 Môi trường làm việc dân chủ 0

3 Chi tiêu công bằng, hợp lý công khai

4 Phân phối quỹ phúc lợi công bằng, công khai

5 Mức lương tương xứng so với năng lực cống hiến

6 Phụ cấp nghề và độc hại so với cống hiến

7 Thưởng và thu nhập tăng thêm so với cống hiến

8 Phân chia thu nhập tăng thêm công bằng

9 BHXH, BHYT đóng đầy đủ và khám sức khỏe định kỳ

10 Tổ chức tham quan nghĩ dƣỡng đầy đủ

11 Phong trào thể thao, văn nghệ tích cực

Kết quả khảo sát cho thấy 89,2% nhân viên y tế hài lòng với môi trường làm việc tại khoa/bệnh viện dân chủ Các quy định và quy chế làm việc của bệnh viện được công khai rõ ràng, đạt 87,8% Quy chế chi tiêu nội bộ và hoạt động công đoàn cũng tích cực với tỷ lệ 87,4% Bệnh viện đảm bảo đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế đầy đủ, chiếm 87,2% Ngoài ra, 80,2% nhân viên cho biết bệnh viện tổ chức tham quan nghỉ dưỡng đầy đủ Tỷ lệ phân chia thu nhập tăng thêm được đánh giá công bằng là 75,9%, trong khi mức lương tương xứng với năng lực cống hiến đạt 74,8% Cuối cùng, chế độ phụ cấp nghề và độc hại cùng với thu nhập tăng thêm so với cống hiến có tỷ lệ thấp nhất, chỉ đạt 71,7%.

Theo quy định về quy chế làm việc nội bộ của bệnh viện, có 41,0% nhân viên y tế (NVYT) rất hài lòng, 46,8% hài lòng và 12,2% không hài lòng Về môi trường làm việc tại khoa/bệnh viện, 39,6% NVYT rất hài lòng, 49,6% hài lòng và 10,8% không hài lòng.

Quy chế chi tiêu nội bộ công bằng, công khai có 39,9% NVYT rất hài lòng; 47,1% NVYT hài lòng; 12,6% NVYT không hài lòng và 0,4% NVYT rất không hài lòng

Theo khảo sát, 37,4% nhân viên y tế (NVYT) rất hài lòng với việc phân phối quỹ phúc lợi công bằng công khai, trong khi 50,0% hài lòng và 12,4% không hài lòng Về mức lương tương xứng với năng lực cống hiến, có 25,9% NVYT rất hài lòng, 48,9% hài lòng, 24,9% không hài lòng và 0,4% rất không hài lòng Đối với chế độ phụ cấp nghề và độc hại, 26,3% NVYT rất hài lòng, 45,7% hài lòng, 27,0% không hài lòng và 1,1% rất không hài lòng Về thưởng và thu nhập tăng thêm xứng đáng so với cống hiến, 28,4% NVYT rất hài lòng, 43,3% hài lòng, 28,1% không hài lòng và 0,4% rất không hài lòng Cuối cùng, cách chia thu nhập tăng thêm công bằng, hợp lý và công khai nhận được 30,9% NVYT rất hài lòng, 45,0% hài lòng, 23,0% không hài lòng và 1,1% rất không hài lòng.

Bệnh viện đảm bảo đóng BHXH và BHYT đầy đủ, với 36,7% nhân viên y tế (NVYT) rất hài lòng và 50,0% hài lòng Tổ chức tham quan nghỉ dưỡng cũng nhận được sự hài lòng từ 33,1% NVYT rất hài lòng và 47,1% hài lòng Phong trào văn nghệ, thể thao tích cực có 32,4% NVYT rất hài lòng, trong khi 50,7% hài lòng Hoạt động của công đoàn bệnh viện được đánh giá tích cực, với 40,3% NVYT rất hài lòng.

47,1% NVYT hài lòng; 12,3% NVYT không hài lòng và 0,4% NVYT rất không hài lòng

Một số yếu tố ảnh hưởng đến hài lòng công việc của NVYT

Thông qua các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, thông tin thu thập được phân loại thành ba nhóm yếu tố ảnh hưởng: môi trường bên ngoài, môi trường bên trong và đặc điểm của nhân viên y tế.

3.3.1 Nhóm yếu tố môi trường bên ngoài

Kết quả phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm chỉ ra rằng một số yếu tố môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhân viên y tế bao gồm đặc thù của ngành y, mức lương và tính độc hại của nghề, cùng với các quy định quản lý từ Bộ Y tế.

Ngành y là một lĩnh vực đặc thù, tập trung vào việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người, đòi hỏi chuyên môn cao và y đức lớn Nhân viên y tế (NVYT) thường làm việc trong môi trường nguy hiểm và độc hại, điều này ảnh hưởng lớn đến tâm lý và sự hài lòng trong công việc Do đó, cần có sự hỗ trợ và cảm thông từ xã hội, cùng với các chính sách ưu tiên cho NVYT, những người làm việc không ngừng nghỉ, kể cả vào ngày lễ và Tết, nhưng mức lương vẫn chưa tương xứng với cống hiến của họ, dẫn đến khó khăn trong việc trang trải cuộc sống.

Làm việc trong lĩnh vực y tế yêu cầu nhân viên y tế (NVYT) có trình độ chuyên môn cao để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng của người dân Mặc dù bệnh nhân và người nhà mong muốn được ưu tiên và chăm sóc tốt nhất, nhưng NVYT không thể đáp ứng mọi nhu cầu, tạo ra áp lực lớn cho họ NVYT phải chi nhiều chi phí để nâng cao trình độ chuyên môn, nhưng không có chính sách hỗ trợ, lương vẫn như người chưa học, và chưa có quy định bảo vệ bác sĩ trước pháp luật cũng như trước sự tấn công từ người nhà bệnh nhân.

Mức lương của nhân viên y tế, bao gồm bác sĩ và điều dưỡng, hiện nay vẫn thấp hơn so với nhiều ngành nghề khác Tuy nhiên, công việc trong lĩnh vực y tế yêu cầu nhân viên phải liên tục học tập và nâng cao trình độ chuyên môn để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giữ chân và thu hút nhân viên y tế có trình độ và tay nghề cao.

Theo Thông tư số 22/2013/TT-BYT, nhân viên y tế (NVYT) cần cập nhật kiến thức liên tục, nếu không hoàn thành đủ 48 tiết học trong 2 năm sẽ bị thu hồi chứng chỉ hành nghề Do đó, bệnh viện hỗ trợ cho NVYT đi học, nhưng chi phí học phí và sinh hoạt vẫn do nhân viên tự túc, đồng thời họ cũng phải tự sắp xếp công việc của mình.

3.3.2 Nhóm yếu tố môi trường bên trong

Môi trường bên trong của cơ quan phát triển mạnh phụ thuộc vào nguồn lực và năng lực của chính cơ quan đó Kết quả từ phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhân viên y tế hiện nay bao gồm sự quan tâm của lãnh đạo, môi trường làm việc, phân công công việc và áp lực công việc.

Quan tâm của ban lãnh đạo

Quá tải bệnh nhân ở các khoa lâm sàng là vấn đề thường xuyên, do đó, sự quan tâm của lãnh đạo bệnh viện có ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng của nhân viên y tế Cụ thể, việc di chuyển bệnh nhân từ khoa quá tải sang các khoa ít hơn và tăng cường duyệt mổ hàng ngày cho khối ngoại sẽ giúp giảm thời gian chờ đợi Bên cạnh đó, việc mở rộng thêm phòng siêu âm tim và siêu âm bụng cũng góp phần hạn chế tình trạng quá tải Lãnh đạo bệnh viện mong muốn phát triển chuyên khoa sâu và nhiều trung tâm, vì vậy đã đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh nhân và môi trường làm việc tốt hơn cho nhân viên y tế.

Hiện nay, cơ chế đấu thầu mua hóa chất và trang thiết bị phục vụ bệnh nhân đang gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, ban giám đốc đã nỗ lực tìm kiếm mọi nguồn lực cần thiết để cải thiện dịch vụ cho người bệnh "Ban giám đốc đã chỉ đạo, điều hành và huy động mọi nguồn lực cần thiết để có những trang thiết bị cũng như hóa chất phục vụ người bệnh, đồng thời giảm áp lực cho nhân viên" (PVS - BGĐ).

Kết quả từ PVS và TLN cho thấy nhiều điều dưỡng không hài lòng với cơ sở vật chất và hạ tầng tại bệnh viện Cụ thể, khu nhà G đang xuống cấp với thiếu phòng trực và phòng làm việc nhỏ, không đủ cho số lượng nhân viên Phòng bệnh chật hẹp, nhà vệ sinh xuống cấp, và môi trường nằm viện không thoải mái, khiến bệnh nhân thêm mệt mỏi Điều này đôi khi dẫn đến việc bệnh nhân nổi nóng và la mắng nhân viên, tạo thêm áp lực cho đội ngũ y tế.

Nhiều khoa lâm sàng trong bệnh viện có phòng trực riêng cho nhân viên y tế, nhưng diện tích phòng lại rất nhỏ so với số lượng người Một nhân viên chia sẻ: “Phòng trực của chúng tôi đã được cải tạo thành phòng bệnh, tôi cảm thấy vui nhưng cũng lo lắng vì nếu kéo dài, tôi không an tâm khi làm việc nhiều mà không có chỗ nghỉ ngơi.”

Trong thời tiết nắng nóng, mật độ người bệnh và người nhà đông đúc gây khó chịu cho cả bệnh nhân lẫn nhân viên y tế Phòng điều dưỡng không có điều hòa, khiến công việc trở nên căng thẳng và vất vả hơn Áp lực công việc gia tăng trong điều kiện này là một thách thức lớn cho nhân viên y tế.

Bệnh viện Đà Nẵng, tuyến cuối của miền Trung - Tây Nguyên, tiếp nhận nhiều bệnh nhân nặng trong bối cảnh dịch bệnh Nhân viên y tế (NVYT) phải chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân mà không có người nhà bên cạnh, dẫn đến áp lực công việc lớn Nhiều nhân viên bị nhiễm bệnh và cách ly, gây thiếu hụt nhân lực Kết quả cho thấy điều dưỡng luôn trong tình trạng quá tải, thường xuyên làm thêm giờ để đảm bảo tiến độ công việc Mỗi ngày, khoa tiếp nhận khoảng 30 - 40 bệnh nhân, và NVYT phải chăm sóc toàn diện cho những người không có người thân Việc giao tiếp với bệnh nhân thường quá ngắn, dễ dẫn đến hiểu lầm trong ứng xử Một điều dưỡng chia sẻ: “Một ngày tôi chăm sóc có lúc lên đến 20-30 bệnh đi lại được, có lúc chăm sóc toàn diện từ 6 đến 8 bệnh nhân nặng.” Từ khi dịch bùng phát, nhân sự trong khoa thường xuyên được luân chuyển để hỗ trợ chống dịch và tiêm chủng, làm tăng thêm áp lực công việc.

50 khoa đều do mấy anh chị còn lại đảm nhiệm, quá tải và áp lực nên NVYT không hài lòng”(PVS- ĐDT)

Trong thời gian dịch bệnh, nhân viên y tế phải đảm nhận nhiều nhiệm vụ, từ việc chăm sóc bệnh nhân đến việc trả lời điện thoại cho người nhà, dẫn đến tình trạng căng thẳng và không có thời gian nghỉ ngơi Mặc dù hiện nay dịch đã ổn định và người nhà được phép vào chăm sóc bệnh nhân, nhưng số lượng vẫn chỉ bằng một nửa so với quy định, khiến công việc của nhân viên y tế vẫn còn nhiều vất vả và áp lực khi phải quản lý cả bệnh nhân lẫn người nhà.

Điều dưỡng không chỉ phải đối mặt với áp lực từ bệnh nhân và người nhà, mà còn phải chịu đựng áp lực từ các thủ tục hành chính, sổ sách và hồ sơ ngày càng nhiều, khiến khối lượng công việc ngày càng gia tăng.

Cơ cấu tổ chức và phân công công việc

BÀN LUẬN

Sự hài lòng về công việc của NVYT

4.1.1 Thông tin về NVYT tham gia nghiên cứu

Trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn ra trong năm qua, mặc dù khối lượng công việc tăng lên, nhưng thu nhập lại giảm, điều này đã tác động mạnh mẽ đến tâm lý và đời sống của nhiều nhân viên y tế Do đó, đánh giá này phản ánh cảm nhận của nhân viên y tế về công việc của họ.

Nghiên cứu được thực hiện trên 278 nhân viên y tế (bao gồm bác sĩ và điều dưỡng) tại Bệnh viện Đà Nẵng cho thấy phần lớn nhân viên y tế có độ tuổi từ 31 đến 40 (41,4%) và dưới 30 tuổi (35,3%), cho thấy đây là đội ngũ trẻ và năng động, có khả năng cống hiến nhiều trong thời kỳ dịch bệnh So với nghiên cứu của Đỗ Văn Cường tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2020, tỷ lệ nhân viên y tế trong độ tuổi 31 đến 40 tương đương (42,1%), nhưng tỷ lệ dưới 30 tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn nhiều (35,3% so với 53,7%) Đối với giới tính, có sự chênh lệch rõ rệt với 69,8% là nữ và 30,2% là nam Về trình độ học vấn, 48,9% có trình độ đại học, 21,2% có trình độ sau đại học, 24,1% có trình độ cao đẳng và 5,8% có trình độ trung cấp Chuyên môn đào tạo cho thấy điều dưỡng chiếm đa số (61,9%) so với bác sĩ (38,1%).

Hầu hết đối tượng tham gia nghiên cứu có thời gian công tác trên 7 năm, chiếm 64,0%, trong khi đó, khoảng 16,5% nhân viên y tế có thời gian công tác dưới 3 năm Điều này ảnh hưởng đến công tác nhân sự và việc duy trì đội ngũ nhân sự.

Khoảng 16,2% nhân viên y tế (NVYT) kiêm nhiệm hai công việc, trong khi 6,8% kiêm nhiệm ba công việc Đối tượng kiêm nhiệm nhiều công việc chủ yếu là lãnh đạo khoa và ban giám đốc, do đó không ảnh hưởng nhiều đến mức độ hài lòng Bên cạnh đó, 12,6% NVYT trực hơn 8 lần mỗi tháng, điều này có thể tác động đến thời gian dành cho gia đình.

Để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của nhân dân, việc nâng cao trình độ chuyên môn thông qua các hoạt động học tập là rất quan trọng.

4.1.2 Sự hài lòng của NVYT về môi trường làm việc

Tại bệnh viện Đà Nẵng, tiêu chí về môi trường làm việc có mức độ hài lòng thấp nhất liên quan đến trang thiết bị phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh, với chỉ 50,7% nhân viên y tế (NVYT) cảm thấy hài lòng và 34,5% rất không hài lòng Sự không hài lòng này gia tăng do ảnh hưởng của dịch Covid-19, khi môi trường làm việc thay đổi, khối lượng công việc tăng lên và áp lực gia tăng, trong khi trang thiết bị vẫn còn hạn chế.

Môi trường làm việc tại bệnh viện Đà Nẵng được đánh giá là sạch sẽ và gọn gàng, nhưng chưa thực sự khang trang do nhu cầu bệnh nhân cao, dẫn đến việc thu hẹp không gian làm việc Thái độ của bệnh nhân và người nhà đối với nhân viên y tế (NVYT) trong quá trình điều trị đạt 80,6%, phần lớn do hạn chế ra vào của người nhà trong thời gian dịch bệnh NVYT, đặc biệt là điều dưỡng, phải đảm nhiệm nhiều công việc, do đó cần sự thông cảm từ bệnh nhân và người nhà Mặc dù có những khó khăn, 75% NVYT vẫn hài lòng với môi trường làm việc, cao hơn so với 67,7% trong nghiên cứu của Trần Phước Lâm (2019), cho thấy sự quan tâm của ban giám đốc và trưởng các khoa đối với điều kiện làm việc của nhân viên.

Nghiên cứu của Đỗ Văn Cường (2020) cho thấy tỷ lệ hài lòng chung về môi trường làm việc chỉ đạt 57,4%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ hài lòng của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đà Nẵng, đạt 73% Cả hai kết quả đều được đo lường bằng cùng một bộ công cụ.

Bệnh viện Đà Nẵng đã thực hiện các biện pháp y tế trong thời gian chưa có dịch Covid-19, tuy nhiên, trong thời gian dịch xảy ra, tỷ lệ thực hiện tại bệnh viện này đã giảm xuống chỉ còn 95% so với năm 2021.

Môi trường làm việc lý tưởng là ước mơ của mọi nhân viên và là mục tiêu phấn đấu của các nhà lãnh đạo, không phân biệt lĩnh vực, quy mô hay nguồn lực tài chính.

Việc xây dựng một môi trường làm việc lý tưởng tại HUPH là cần thiết để tăng cường sự gắn kết của nhân viên và thu hút nhân tài.

4.1.3 Sự hài lòng về lãnh đạo trực tiếp, đồng nghiệp

Tại Bệnh viện Đà Nẵng, đánh giá về lãnh đạo cho thấy 87,4% nhân viên chưa cảm thấy được công nhận đóng góp ý kiến, trong khi 93,1% hài lòng với sự chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ lẫn nhau trong công việc Mức độ hài lòng chung về lãnh đạo trực tiếp và đồng nghiệp đạt 86% Tuy nhiên, một số ý kiến cho thấy nhân viên chưa hoàn toàn hài lòng với lãnh đạo ở khoa Do đó, ban lãnh đạo khoa cần lắng nghe ý kiến và đánh giá lại công tác tổ chức quản lý, phân công công việc, cũng như tăng cường sự phối hợp giữa các đồng nghiệp.

Nghiên cứu của Trần Phước Lâm (2019) cho thấy rằng tỷ lệ nhân viên y tế (NVYT) hài lòng về lãnh đạo chỉ đạt 77,4%, thấp hơn so với 86% nhân viên y tế tại Bệnh viện Đà Nẵng.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hài lòng về lãnh đạo tại bệnh viện Tâm Trí Đồng Tháp đạt 20,3%, thấp hơn so với kết quả hiện tại Sự khác biệt này có thể do trong những năm gần đây, các cơ quan quản lý nhà nước trong ngành y tế và lãnh đạo các cơ sở y tế đã chú trọng nâng cao năng lực quản lý và thực hiện chính sách khen thưởng kịp thời cho nhân viên y tế khi hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Chất lượng mối quan hệ giữa lãnh đạo và nhân viên ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng của nhân viên Nhân viên có mối quan hệ tốt với lãnh đạo thường cảm thấy hài lòng hơn với công việc của mình Do đó, vai trò của lãnh đạo có tác động tích cực đến mức độ hài lòng chung trong tổ chức.

4.1.4 Sự hài lòng về quy chế nội bộ, tiền lương, phúc lợi

Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của NVYT

Nghiên cứu định tính chỉ ra ba nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc, bao gồm môi trường bên trong, môi trường bên ngoài và đặc điểm cá nhân của nhân viên y tế Kết quả này tương quan với nghiên cứu của Bella Savitsky, Irina Radomislensky, Tova Hendel (2021), cho thấy rằng nhiều nhân viên y tế thiếu phương tiện phòng hộ cá nhân, trang thiết bị phục vụ bệnh nhân, đồng thời phải đối mặt với khối lượng công việc tăng cao.

4.2.1 Nhóm yếu tố môi trường bên ngoài

Môi trường bên ngoài của bệnh viện bao gồm các yếu tố và điều kiện ảnh hưởng đến hoạt động và hiệu quả của bệnh viện Sự tương tác giữa bệnh viện và các yếu tố này giúp tối ưu hóa việc khai thác nguồn lực Các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhân viên y tế (NVYT) bao gồm quy định của Bộ Y tế, đặc thù ngành Y, và chế độ lương, phúc lợi Ngành Y là một nghề đặc thù, gắn liền với sức khỏe và sinh mạng con người, do đó NVYT thường phải đối mặt với áp lực công việc lớn, như tăng ca, trực đêm, và phải đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ cùng lúc Họ cũng phải cân bằng giữa công việc và áp lực từ gia đình cũng như bệnh nhân Để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh, NVYT cần thường xuyên cập nhật kiến thức và chuyên môn, vì vậy việc phân chia công việc và hỗ trợ lẫn nhau là rất cần thiết.

Lương và phụ cấp: Sự quy định lương và phụ cấp độc hại theo khung của Bộ

Ngành y tế hiện đang gặp nhiều khó khăn, với thời gian học tập và làm việc kéo dài nhưng không tương xứng với công sức mà nhân viên y tế (NVYT) bỏ ra, dẫn đến sự không hài lòng Trong bối cảnh dịch bệnh diễn ra, NVYT đã nỗ lực hết mình để chống dịch nhưng vẫn chưa nhận được chế độ hỗ trợ phù hợp.

Nghiên cứu cho thấy sự tương đồng với nghiên cứu của Huixuan Zhou và cộng sự (2018), chỉ ra rằng nhân viên y tế không hài lòng về công việc, mức lương và khối lượng công việc Đồng thời, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thuận (2020) cũng nhấn mạnh rằng hài lòng trong công việc của điều dưỡng liên quan đến các yếu tố như lương, phụ cấp độc hại, môi trường làm việc và cơ hội thăng tiến, tất cả đều ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhân viên y tế.

4.2.2 Nhóm môi trường bên trong

Một số yếu tố môi trường bên trong ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhân viên y tế (NVYT) bao gồm sự quan tâm của lãnh đạo bệnh viện/khoa, các chính sách và quy định về nhân sự, cơ cấu tổ chức và phân công công việc, cũng như điều kiện môi trường làm việc và áp lực công việc Hầu hết các yếu tố này có tác động tiêu cực đến sự hài lòng công việc của NVYT và cần được cải thiện, ngoại trừ sự quan tâm của lãnh đạo.

Ban giám đốc đã chú trọng đến chính sách cải thiện đời sống nhân viên y tế, tuy nhiên, trang thiết bị y tế, máy móc và hóa chất hiện tại không đủ đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh Việc máy hỏng phải chờ đấu thầu và trình lên cấp trên dẫn đến tình trạng bệnh nhân phải chờ lâu, gây bức xúc và có thể phải chuyển sang bệnh viện tư để điều trị Điều này tạo ra khó khăn cho nhân viên y tế trong việc giải thích tình hình cho người nhà bệnh nhân.

Số lượng nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng đang thiếu hụt do hai năm dịch bệnh, khiến bệnh viện chưa tổ chức thi tuyển Áp lực công việc cao đã dẫn đến việc nhiều nhân viên xin chuyển công tác Việc tuyển dụng nhân viên mới cũng gặp khó khăn vì cần thời gian thích nghi và đào tạo Để giải quyết vấn đề này, bệnh viện đã xây dựng đề án vị trí việc làm và bảng mô tả công việc theo chức danh.

60 nghề nghiệp trên cơ sở đó để tuyển dụng cho phù hợp không ảnh hưởng tới thu nhập của NVYT mà vẫn đảm bảo đƣợc tiến độ công việc

Môi trường làm việc và khối lượng công việc: Máy hỏng bệnh nhân nằm chờ 2 đến

Trong ba ngày chờ đợi để chụp phim MRI, bệnh nhân phải đối mặt với thời tiết nắng nóng và sự đông đúc của người nhà trong phòng chật chội, gây khó chịu và áp lực cho nhân viên y tế (NVYT) Số lượng giường bệnh hạn chế khiến NVYT phải sắp xếp giường và xe một cách hợp lý để đảm bảo tiêu chí chống dịch, trong khi họ phải di chuyển nhiều nơi và thực hiện nhiều công việc liên tục, dẫn đến mất thời gian và sức lực Hiện nay, NVYT không chỉ tập trung vào chuyên môn mà còn phải quản lý người nhà bằng thẻ ra vào và nhắc nhở họ đeo khẩu trang, khiến họ luôn trong trạng thái căng thẳng và mệt mỏi với khối lượng công việc ngày càng gia tăng.

Nghiên cứu của Trần Phước Lâm (2019) chỉ ra rằng sự hài lòng trong công việc của nhân viên y tế (NVYT) liên quan chặt chẽ đến môi trường làm việc, lương và phúc lợi, cũng như vị trí công việc Tương tự, nghiên cứu của Phạm Thị Phương Thảo và cộng sự (2015) cho thấy hài lòng của điều dưỡng viên có mối liên hệ đồng biến với tính chất công việc, cơ hội đào tạo, thăng tiến và mối quan hệ với đồng nghiệp Do đó, để nâng cao sự hài lòng nghề nghiệp của điều dưỡng, cần chú trọng hỗ trợ các yếu tố nội bộ trong cơ sở y tế.

Nghiên cứu của Catharina Roth và cộng sự (2022) tại các bệnh viện ở Đức chỉ ra rằng điều kiện làm việc và chế độ đãi ngộ có ảnh hưởng đáng kể đến sự hài lòng trong công việc và khả năng giữ chân nhân viên.

4.2.3 Nhóm yếu tố đặc điểm nhân viên y tế

Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên y tế (NVYT) bao gồm tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, vị trí công tác, kinh nghiệm làm việc, mức thu nhập, nhu cầu và mục tiêu cá nhân Nếu những yếu tố này không được đáp ứng hoặc không phù hợp với mong đợi của NVYT, sẽ dẫn đến mức độ hài lòng công việc thấp.

Sự khác biệt về giới tính, chuyên môn và vị trí làm việc có ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của nhân viên y tế Chẳng hạn, nhân viên nữ trong lĩnh vực điều dưỡng thường phải làm ca đêm, điều này có thể tác động đến sự hài lòng trong công việc của họ.

HUPH hoặc tăng ca khiến nhân viên có ít thời gian cho gia đình và bản thân Nhân viên trẻ thường có nhu cầu cao hơn về học tập, giải trí và thu nhập, trong khi nhân viên lớn tuổi thường không muốn làm ca đêm để có thể làm việc hành chính Nếu không được đáp ứng, điều này có thể dẫn đến sự không hài lòng và xin chuyển nơi khác Đối với một số nhân viên y tế, thu nhập chính là lương và tiền trực, nhưng mức thu nhập hiện tại chưa đủ để đáp ứng nhu cầu cuộc sống và công sức đã bỏ ra Bác sĩ có thể làm thêm hoặc mở phòng khám để tăng thu nhập, nhưng điều dưỡng thường gặp khó khăn trong việc làm thêm do trách nhiệm gia đình Do đó, nguồn thu nhập là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc và chất lượng chăm sóc bệnh nhân.

Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Thắng (2015) chỉ ra rằng hài lòng trong công việc bị ảnh hưởng bởi thời gian làm việc, vị trí công tác và cơ hội học tập, thăng tiến, trong khi giới tính và độ tuổi ít có tác động Tương tự, nghiên cứu của Trần Thủy Hương và cộng sự (2018) khẳng định rằng tuổi, giới tính, mức thu nhập và điều kiện làm việc đều có ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhân viên.

Nghiên cứu của Galanis P (2021) chỉ ra rằng trong bối cảnh dịch Covid-19, nhu cầu và mục tiêu cá nhân, khối lượng công việc, cũng như thời gian làm việc đều có tác động đến mức độ hài lòng của nhân viên y tế.

Hạn chế của nghiên cứu

Nghiên cứu chỉ tập trung vào các khoa lâm sàng khối ngoại và khối nội, do đó chưa phản ánh đầy đủ mức độ hài lòng của nhân viên y tế (NVYT) trong toàn bệnh viện Đối tượng nghiên cứu bao gồm bác sĩ và điều dưỡng, nên chưa đánh giá được sự khác biệt giữa các nhóm NVYT.

- Nghiên cứu chƣa thu thập thông tin đƣợc trên đối tƣợng đã nghỉ việc

- Khảo sát hài lòng có nhiều câu hỏi nhạy cảm, nên việc trả lời của đối tƣợng không khách quan, không dám thừa nhận

- Nghiên cứu xảy ra trong tình hình dịch Covid-19 nên chƣa có nhiều kết quả để so sánh tương xứng

- Nghiên cứu chƣa thu thập đủ số mẫu nhƣ dự kiến chỉ thu đƣợc 278 trong đó mẫu tối thiểu 273

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Spector PE. Job satisfaction: Application, assessment, causes and consequences. Thousand Oaks, CA: SAGE 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Job satisfaction: Application, assessment, causes and consequences
Tác giả: Spector PE
Nhà XB: SAGE
Năm: 1997
2. Meng R, Li J, Zhang Y, Yu Y, Luo Y, Liu X, et al. Evaluation of Patient and Medical Staff Satisfaction regarding Healthcare Services in Wuhan Public Hospitals. International journal of environmental research and public health.2018;15(4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation of Patient and Medical Staff Satisfaction regarding Healthcare Services in Wuhan Public Hospitals
Tác giả: Meng R, Li J, Zhang Y, Yu Y, Luo Y, Liu X
Nhà XB: International journal of environmental research and public health
Năm: 2018
3. Đinh Xuân Bình. Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên y tế tại bệnh viện Đa khoa Nông Nghiệp [Luận văn thạc sỹ quản lý bệnh viện]2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên y tế tại bệnh viện Đa khoa Nông Nghiệp
Tác giả: Đinh Xuân Bình
Năm: 2019
4. Đỗ Văn Cường. Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên y tế ở các khoa lâm sàng và cận lâm sàng tại Bệnh viện Đại Học Y Hà Nội và một số yếu tố ảnh hưởng [Luận văn thạc sỹ quản lý bệnh viện,]2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên y tế ở các khoa lâm sàng và cận lâm sàng tại Bệnh viện Đại Học Y Hà Nội và một số yếu tố ảnh hưởng
Tác giả: Đỗ Văn Cường
Nhà XB: Luận văn thạc sỹ quản lý bệnh viện
Năm: 2020
5. Bệnh viện Đà Nẵng. Kế hoạch số: 876/KH- BVĐN, ngày 19 tháng 7 năm 2021, về việc triển khai thiết lập Bệnh viện Dã chiến số 01 giai đoạn I để thu dung điều trị bệnh nhân Covid -19. 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số: 876/KH- BVĐN, ngày 19 tháng 7 năm 2021, về việc triển khai thiết lập Bệnh viện Dã chiến số 01 giai đoạn I để thu dung điều trị bệnh nhân Covid -19
Tác giả: Bệnh viện Đà Nẵng
Năm: 2021
7. Nghị định số 56/2011/NĐ-CP: Quy định chế độ phụ cấp ƣu đãi theo nghề đối với công chức, viên chức công tác tại các cơ sở y tế công lập, (2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 56/2011/NĐ-CP: Quy định chế độ phụ cấp ƣu đãi theo nghề đối với công chức, viên chức công tác tại các cơ sở y tế công lập
Năm: 2011
9. WHO. Health and Care Worker Deaths during COVID-19. World Health Organization. 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Health and Care Worker Deaths during COVID-19
Tác giả: WHO
Nhà XB: World Health Organization
Năm: 2021
10. Bộ Y tế. Thực trạng đào tạo nhân lực y tế tình hình nhân lực điều dƣỡng, nhân viên chăm sóc trong nước và xu hướng thế giới. Cục khoa học công nghệ và Đào tạo, Hòa Bình 2020. 2020:10.HUPH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng đào tạo nhân lực y tế tình hình nhân lực điều dƣỡng, nhân viên chăm sóc trong nước và xu hướng thế giới
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Cục khoa học công nghệ và Đào tạo
Năm: 2020
8. Nghị Quyết 46/NQ-TW ngày 23 tháng 2 năm 2005 về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, năm 2005. (2005) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w