Công tác GDSK cho người bệnh của NVYT qua phỏng vấn người bệnh

Một phần của tài liệu Thực trạng thực hiện công tác giáo dục sức khỏe của nhân viên y tế cho người bệnh nội trú và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2020 (Trang 53 - 56)

4.1. Thực trạng công tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh nội trú của nhân viên y tế

4.1.1. Công tác GDSK cho người bệnh của NVYT qua phỏng vấn người bệnh

41,9, Nữ: 58,1), tập trung vào độ tuổi từ 60 tuổi trở lên 86,3%, cán bộ viên chức hưu trí chiếm 48,8%, 51,2% sống ở thành thị, chủ yếu là đối tượng có bảo hiểm y tế 95,3% (10). Bệnh viện LKTƯ là bệnh viện khám chữa bệnh cho người cao tuổi trên toàn quốc nên 86,3% bệnh nhân tham gia nghiên cứu ở độ tuổi 60 trở lên là rất hợp lý, giai đoạn hiên nay chính sách bảo hiểm y tế gần đây phát triển mạnh nên người bệnh có BHYT 95,3% chiếm tỷ lệ rất cao. Đối tượng nghiên cứu có tỷ lệ mắc bệnh mạn tính cao và đa số là người cao tuổi có mắc các bệnh kèm theo, bên cạnh đó tình trạng lão hóa của con người tăng cao theo tuổi tác, tỷ lệ người cao tuổi dễ bị tổn thương và tỷ lệ cao mắc nhiều bệnh cùng một lúc, trong 213 người bệnh tham gia nghiêm cứu có 27,7% người bệnh mắc từ 2 bệnh kèm theo trở lên, 49,8% người bệnh mắc từ 3 bệnh kèm theo trở lên.

Chất lượng công tác GDSK: Sự phản hồi này rất quan trọng, họ cung cấp cho lãnh đạo bệnh viện, khoa phòng và NVYT trực tiếp GDSK biết được họ cần gì và phản hồi lại những ưu điểm cũng như mặt tồn tại để rút kinh nghiệm.

Thực hiện các văn bản quy định của BYT và của bệnh viện LKTƯ quy định người bệnh được NVYT tư vấn GDSK, nội dung tư vấn GDSK cho cá nhân người bệnh gồm: người bệnh được hướng dẫn tự theo dõi tình hình sức khỏe của mình, sử dụng thuốc an toàn, chế độ dinh dưỡng, chế độ vệ sinh, tập luyện phục hồi chức năng, hướng dẫn một số biện phát phòng chống trượt ngã trong khi nằm viện, hướng dẫn phòng bệnh và thay đổi thói quen xấu, lối sống không tích cực thành lối sống tích cực. Nghiên cứu phỏng vấn 213 người bệnh về các nội dung GDSK cho người bệnh: tỷ lệ 0,9% là tỷ lệ người bệnh không được hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn, tỷ lệ này thấp nhất trong số nội dung GDSK không được thực hiện, công tác hướng dẫn sử dụng thuốc là một trong những nhiệm vụ chuyên môn chính của điều dưỡng, tác giả Trần Thị Hương Trà -2018 tại bệnh viện LKTƯ cũng có tỷ lệ phát

HUPH

thuốc đúng giờ, đúng y lệnh và hướng dẫn sử dụng thuốc của điều dưỡng đạt tốt 89,6% (10).

Để cải thiện tình trạng này việc đào tạo kỹ năng, phương pháp GDSK cho NVYT là là rất quan trọng. Nếu NVYT biết động viên, khuyến khích để người bệnh yên tâm, hứng thú phản hồi, thì kết quả thu được từ phản hồi của người bệnh và người nhà sẽ cải thiện công tác GDSK trong bệnh viện đem hiệu quả và cải thiện chất lượng GDSK rõ rệt. Qua khảo sát của Nguyễn Phương Thảo thu được nhiều ý kiến của người bệnh trong đó nhiều người bệnh bày tỏ nguyện vọng GDSK sâu hơn về bệnh tật, góp ý tinh thần thái độ NVYT trong khi GDSK và CSVC, TTB cũng như hình thức GDSK mà người bệnh cho là phù hợp, dễ tiếp thu. Sự phản hồi các mô hình bệnh tật cũng ảnh hưởng rất lớn đến công tác giáo dục sức khỏe (6). Các nội dung hướng dẫn người bệnh tự theo dõi tình hình sức khỏe, dùng thuốc an toàn, chế độ ăn uống dinh dưỡng và tập PHCN được người bệnh cảm nhận ở mức rõ và rất rõ có tỷ lệ từ (49,0%, 23,0% đến 63,5%, 27,9%). Mức cảm nhận của người bệnh ở mức bình thường, không rõ và rất không rõ ở các nội dung GDSK trên như sau:

hướng dẫn theo dõi các dấu hiệu bất thường (21,4%; 5,6%; 1,0%); Hướng dẫn chế độ dinh dưỡng hợp lý (20,2%; 7,8%; 2,6%) và hướng dẫn nghỉ ngơi phù hợp, tập phục hồi chức năng sớm (22,0%; 4,7%; 1,0%), các tỷ lệ GDSK ở 3 nội dung này có cảm nhận của người bệnh thấp, nguyên nhân có thể do phần tài liệu và quy định nội dung bắt buộc phải tư vấn GDSK cho người bệnh của bệnh viện chưa có phần quy định này.

Tỷ lệ người bệnh cảm nhận rõ ở nội dung hướng dẫn vệ sinh cá nhân khi nằm viện đạt thấp 47,9%, còn 1% người bệnh rất không rõ trong nội dung này.

Hướng dẫn một số biện pháp phòng trượt ngã có 2,6% người bệnh rất không rõ và 46,3% người bệnh rõ ở nội dung này. NVYT tư vấn GDSK cho cá nhân người bệnh chưa tập trung vào một số nội dung hướng dẫn vệ sinh cá nhân, phòng trượt ngã đối với người cao tuổi, mà NVYT có tập trung vào các nội dung về bệnh và nhu cầu, tâm lý lo lắng về bệnh của bệnh nhân.

Theo tác giả Nguyễn Phương Thảo- 2018 bệnh viện E Hà Nội có tỷ lệ người bệnh được hướng dẫn cách chăm sóc chế độ sinh hoạt thấp hơn chỉ đạt 25,0% (6).

HUPH

Nội dung tư vấn và hướng dẫn chế độ ăn luôn là vấn đề trọng tâm được NVYT quan tân trong tư vấn GDSK. Ở nội dung này Nguyễn Phương Thảo có tỷ lệ thấp hơn chỉ đạt 25,43% (6).

Đa số các nội dung người bệnh đều được NVYT tư vấn GDSK, trong đó còn một số nội dung người bệnh chưa được NVYT tư vấn: nghiên cứu 213 bệnh nhân đưa ra kết quả: tỷ lệ 10,3% người bệnh không được NVYT hướng dẫn chế độ nghỉ ngơi phù hợp và tập phục hồi chức năng sớm , 10,8% người bệnh không được NVYT hướng dẫn một số biện pháp phòng trượt ngã, 14,1% người bệnh không được NVYT hướng dẫn cách phòng bệnh, 17,4% người bệnh không được NVYT hướng dẫn hướng dẫn thay đổi lối sống, thực hiện lối sống lành mạnh. Các nội dung có tỷ cao hơn không được NVYT tư vấn GDSK: hướng dẫn phòng bệnh và hướng dẫn thay đổi lối sống, đây là 2 nội dung NVYT thường hay chỉ tư vấn GDSK đối với bệnh nhân sắp ra viện, có thể nguyên nhân do phần tài liệu và quy định bắt buộc nội dung phải tư vấn GDSK cho người bệnh của bệnh viện chưa có phần quy định này.

Công tác phòng bệnh và thay đổi thói quen xấu thành lối sống tích cực cũng là nội dung rất quan trọng trong GDSK, tại thời điểm nghiên cứu tại bệnh viện LKTƯ có 44,3% người bệnh rõ trong hướng dẫn phòng bệnh, Ở nội dung thay đổi lối sống có 43,2% người bệnh cảm nhận ở mức rõ. Tỷ lệ này đạt thấp vì NVYT chú trọng và quan tâm đến tư vấn về bệnh, tỷ lệ này tương đồng với tác giả Nguyễn Phương Thảo -2018 bệnh viện E Hà Nội người bệnh được tư vấn cách phòng tránh điều trị đạt 43,10% (6)

Nghiên cứu đánh gia nhân viên y tế tư vấn GDSK cho cá nhân người bệnh theo 5 mức cảm nhận của người bệnh. Người bệnh cảm nhận các nội dung NVYT thực hiện quy trình GDSK đa số đạt ở mức rõ hay hài lòng, trong đó có 52,1%

người bệnh hài lòng với nội dung giúp người bệnh liên hệ với bản thân, 72,8%

người bệnh hài lòng với nội dung NVYT sử dụng ngôn ngữ đơn giản dễ hiểu.

Công tác tư vấn GDSK cho cá nhân người bệnh tại BV LKTƯ tại thời điểm nghiên cứu đã có một số kết quả nhất định mang lại sự hài lòng cho người bệnh và góp phần vào công tác chăm sóc và điều trị bệnh nhân.

HUPH

Một phần của tài liệu Thực trạng thực hiện công tác giáo dục sức khỏe của nhân viên y tế cho người bệnh nội trú và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện lão khoa trung ương năm 2020 (Trang 53 - 56)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(93 trang)