Tình huống tranh chấp thứ nhất (theo đơn khởi kiện, phần nhận thấy và xét thấy trong bản án được đề cập):
Ngày 14/02/2006, nhân danh nghĩa của Công ty Cổ Phần Full Power (sau đây gọi tắt là “Full Power”) và lợi dụng vai trò là người đại diện theo pháp luật của Công ty Cổ Phần Full Power, ông Chen Li Hsun và vợ là bà Thi Mẫn Hồng, Giám đốc đại diện theo pháp luật của Công ty Cổ phần xây dựng thương mại Phú Mỹ (sau đây gọi tắt là “Phú Mỹ”) đã cấu kết với nhau nhằm chiếm đoạt tài sản của Full Power bằng cách các bên tiến hành ký kết Hợp đồng hợp tác kinh doanh với nội dung Full Power và Phú Mỹ sẽ góp vốn để nhận chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất đối với 34.737,7 m2 đất tọa lạc tại 52/1 đường 400, ấp Cây Dầu, phường Tân Phú, quận 9, thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi tắt là “Khu Đất Hợp Tác”).
Full Power và Phú Mỹ đã ký đƣợc Hợp đồng hợp tác kinh doanh ngày 14/02/2006 nhƣng chƣa đƣợc Đại hội đồng cổ đông chấp thuận (sau đây gọi tắt là “Hợp Đồng”. Theo
120 Xem Điều 64, 96 Luật Doanh nghiệp 2005, tương ứng với các Điều 75, 135 Luật Doanh nghiệp 2014.
121 Xem Điều 47, 64, 135 Luật Doanh nghiệp 2005 tương ứng với các Điều 56, 75, 177 Luật Doanh nghiệp 2014.
96
Hợp Đồng có tổng giá trị góp vốn của hai bên là 47.000.000.000 đồng, trong đó Full Power có nghĩa vụ góp 40.000.000.000 đồng và Phú Mỹ góp 7.000.000.000 đồng. Toàn bộ Hợp Đồng và các đợt chuyển tiền đều không đƣợc Đại hội đồng cổ đông thông qua.
Ông Chen Li Hsun cũng không thông báo cho Full Power biết việc Phú Mỹ là công ty mà vợ của ông là cổ đông lớn và là người đại diện theo pháp luật.
Năm 2009, các cổ đông Full Power đã phát hiện và yêu cầu xử lý sai phạm nói trên. Ngày 19/9/2009, tại đại hội đồng cổ đông bất thường, các cổ đông đã chấp thuận thông qua Hợp Đồng nêu trên với tổng giá trị đầu tƣ là 68.924.000.000 đồng. Đồng thời Full Power tiến hành kiểm tra lại toàn bộ sổ sách, chứng từ giữa Full Power và Phú Mỹ.
Trên cơ sở kiểm tra, Full Power phát hiện những vấn đề sau:
(1) Khi thực hiện Hợp Đồng trên thực tế, Full Power đã chuyển cho Phú Mỹ tổng số tiền là 68.924.000.000 đồng. Do đó, Full Power cho rằng mình đã góp thừa 28.924.000.000 đồng; và
(2) Giá chuyển nhƣợng Khu Đất Hợp Tác là 35.000.000.000 đồng nhƣng Phú Mỹ lập chứng từ kê khai 40.000.000.000 đồng. Bên cạnh đó, Full Power cho rằng Phú Mỹ đã không góp vốn vào việc nhận chuyển nhƣợng thửa đất mà Phú Mỹ đã dùng toàn bộ số tiền của Full Power để nhận chuyển nhƣợng từ Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu tổng hợp và Đầu tƣ thành phố Hồ Chí Minh.
Full Power đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án (i) buộc Phú Mỹ phải làm thủ tục chuyển nhƣợng lại quyền sử dụng Khu Đất Hợp Tác cho mình với giá 35.000.000.000 đồng; đồng thời (ii) buộc Phú Mỹ phải hoàn trả cho mình tổng số tiền là 33.924.000.000 đồng.
Cấp sơ thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu của Full Power, buộc Phú Mỹ phải trả lại cho Full Power số tiền 28.942.000.000 đồng nhƣng không chấp nhận yêu cầu trả khoản tiền chênh lệch 5.000.000.000 đồng cũng nhƣ không chấp nhận yêu cầu của Full Power trong việc buộc Phú Mỹ phải làm thủ tục chuyển nhƣợng lại Khu Đất Hợp Tác với 35.000.000.000 đồng.
Cấp phúc thẩm cho rằng, các bên không chỉ dừng lại ở việc đầu tƣ vào quyền sử dụng đất mà tiếp tục đầu tƣ toàn bộ dự án xây dựng khu dân cƣ với phần vốn góp của Full Power là 630.000.000.000 đồng, chiếm tỷ lệ 90%, nhƣng đến nay vẫn chƣa góp đủ vốn thực hiện dự án. Các bên chƣa chính thức kết thúc dự án mà cấp sơ thẩm lại tách riêng một phần của Hợp Đồng để buộc bị đơn trả lại tiền nhận thừa cho nguyên đơn là phiến diện, thiếu căn cứ. Cấp thúc thẩm đã bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Full Power.
Nhận định của cấp sơ thẩm (TAND thành phố Hồ Chí Minh) và cấp phúc thẩm (Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh) cùng cho rằng: mặc dù Hợp Đồng giữa Full Power và Phú Mỹ bị vô hiệu kể từ thời điểm ký kết Hợp Đồng nhƣng sau
97
đó đã đƣợc đại hội đồng cổ đông xem xét thông qua vào ngày 19/9/2009 nên không bị coi là vô hiệu122.
Tình huống tranh chấp thứ hai (theo đơn khởi kiện, phần nhận thấy và xét thấy trong bản án được đề cập):
Công ty TNHH Thành Ngọc Hoàng Nam (sau đây gọi là “Công Ty Thành Ngọc Hoàng Nam”) thành lập từ năm 2011. Theo đó, Công Ty Thành Ngọc Hoàng Nam có số vốn điều lệ 1.950.000.000 đồng, với các thành viên góp vốn gồm (1) Bà Võ Thị Cẩm Thạch cam kết góp 390.000.000 đồng, tương ứng 20% Vốn điều lệ (thực tế đã góp được 292.500.000 đồng tương ứng 15% Vốn điều lệ); (2) Ông Giềng Sức Hùng cam kết góp 585.000.000 đồng, tương ứng 30% Vốn điều lệ (thực tế đã góp được 487.500.000 đồng tương ứng 25% Vốn điều lệ); và (3) Ông Nguyễn Ngọc Thuyết cam kết góp 975.000.000 đồng, tương ứng 50% Vốn điều lệ (thực tế đã góp đủ số vốn cam kết chiếm 50% Vốn điều lệ). Đồng thời Ông Thuyết đƣợc giữ chức vụ Giám đốc, kiêm chủ tịch Hội đồng thành viên và là người đại diện theo pháp luật của Công ty Thành Ngọc Hoàng Nam.
Trong quá trình hoạt động của Công ty Thành Ngọc Hoàng Nam, ông Thuyết đã không báo cáo minh bạch, rõ ràng các khoản thu, chị, lợi nhuận và có những vi phạm nghiêm trọng trong quản lý, điều hành doanh nghiệp. Do đó, Hội đồng thành viên Công ty Thành Ngọc Hoàng Nam đã họp ngày 29/7/2013 thống nhất trƣng cầu cơ quan kiểm toán độc lập để xác định các khoản doanh thu, lợi nhuận phải chia cho các thành viên và tiến hành giải thể Công ty Thành Ngọc Hoàng Nam.
Tuy nhiên, từ sau khi tiến hành họp Hội đồng thành viên cho đến khi Bà Thạch khởi kiện tại Tòa án, ông Thuyết vẫn tổ chức cho Công ty Thành Ngọc Hoàng Nam hoạt động, kinh doanh bình thường. Kết luận kiểm toán của Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C nêu rõ báo cáo tài chính của Công ty Thành Ngọc Hoàng Nam không trung thực, thiếu chính xác và rất nhiều khoản chi không chứng từ hợp pháp. Hành vi này vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của các thành viên khác.
Căn cứ vào kết luận kiểm toán và báo cáo lợi nhuận của ông Thuyết thì tổng lợi nhuận của Công ty Thành Ngọc Hoàng Nam qua các năm tài chính 2012 và 2013 là 2.985.500.000 đồng. Bao gồm: Lợi nhuận của năm 2012 là 365.511.678 đồng, năm 2013 là 1.005.367.612 đồng và các khoản chi phí kinh doanh không có chứng từ của năm 2012 là: 1.097.819 đồng và năm 2013 là 525.900.000 đồng.
Bà Thạch và ông Hùng đã nộp đơn khởi kiện ông Thuyết tại Tòa án cấp sơ thẩm (TAND Tp.Hồ Chí Minh), yêu cầu:
(1) Yêu cầu thanh toán phần lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp của họ đã góp vào Công ty Thành Ngọc Hoàng Nam; và
122 Bản án số 03/2014/KDTM-PT ngày 24/01/2014 của Tòa phúc thẩm, Tòa án nhân dân tối cao tại Tp.Hồ Chí Minh về việc tranh chấp hợp đồng hợp tác kinh doanh.
98
(2) Yêu cầu ông Thuyết, người đại diện theo pháp luật của Công ty Thành Ngọc Hoàng Nam tiến hành các thủ tục giải thể Công ty.
Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Bà Thạch và yêu cầu độc lập của Ông Hùng về việc phân chia lợi nhuận cho (1) Bà Thạch 88.412.636 đồng; cho (2) Ông Hùng 150.687.727 đồng. Ông Thuyết với tƣ cách Giám đốc, người đại diện theo pháp luật của Công ty Thành Ngọc Hoàng Nam có trách nhiệm thanh toán các khoản lợi nhuận nêu trên cho Bà Thạch và Ông Hùng. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Thạch và yêu cầu độc lập của Ông Hùng về việc giải thể Công ty Thành Ngọc Hoàng Nam.
Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng: Đối chiếu với Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) thì vụ án trên có hai mối quan hệ pháp luật. “Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty” và “tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt dồng, giải thể…của công ty”. Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng đối với yêu cầu thứ hai (2) nêu trên về việc giải thể Công ty Thành Ngọc Hoàng Nam, Tòa án cấp sơ thẩm xác định Ông Thuyết là bị đơn trong vụ án là hoàn toàn đúng pháp luật. Tuy nhiên, đối với yêu cầu thứ nhất (1) nêu trên về việc phân chia lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của Công ty Thành Ngọc Hoàng Nam, Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng do đây là trách nhiệm của Công ty Thành Ngọc Hoàng Nam, ông Thuyết không có thẩm quyền, nên Công ty Thành Ngọc Hoàng Nam này mới là bị đơn trong mối quan hệ pháp luật này.
Thế nhƣng, Tòa án cấp sơ thẩm xác định mối quan hệ pháp luật là “Tranh chấp thành viên công ty” và xác định ông Thuyết (giám đốc Công ty Thành Ngọc Hoàng Nam, người đại diện theo pháp luật) là bị đơn trong vụ án dẫn đến quyết định buộc ông Thuyết có nghĩa vụ thanh toán phần lợi nhuận cho bà Thạch và ông Hùng và phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là không đúng quy định pháp luật, là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Thuyết.
Ngoài ra, tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có gửi cho Hội đồng xét xử văn bản thỏa thuận giữa nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nhưng nội dung thỏa thuận vẫn là ông Thuyết chia lợi nhuận. Xét thấy sự thỏa thuận này không phù hợp pháp luật nhƣ nhận định trên. Nên Hội đồng xét xử không thể ghi nhận sự thỏa thuận này.
Do vậy, Hội đồng xét xử cần thiết áp dụng khoản 2 Điều 277 Bộ luật Tố tụng dân sự hủy toàn bộ Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm, chuyển hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục chung123.