Quyền bí mật đời tƣ là quyền nhân thân bất khả xâm phạm của cá nhân. Về cơ bản có thể hiểu rằng quyền bí mật đời tƣ của cá nhân là quyền đƣợc bảo vệ về bí mật đời tƣ, nói cách khác không ai đƣợc quyền xâm phạm đến bí mật đời tƣ của cá nhân
* Giảng viên Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.
** Giảng viên Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.
53
khi chƣa đƣợc phép. Nhƣ vậy, có thể thấy rằng “quyền bí mật đời tƣ” đƣợc xây dựng trên khái niệm “bí mật đời tƣ”. Muốn xác định đƣợc phạm vi của “quyền bí mật đời tƣ” đòi hỏi chúng ta phải xác định khái niệm về “bí mật đời tƣ” là gì.
Theo dòng lịch sử, quy định về “quyền bi mật đời tƣ” đã đƣợc đề cập tới ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta. Theo đó, Hiến pháp 1946 có quy định: “
”1. Điều này đã cho thấy rằng, từ khi mới thành lập, Nhà nước ta đã quan tâm và bảo vệ cho quyền riêng tƣ của công dân.
Trải qua các thời kỳ phát triển khác nhau, các bản Hiến pháp của nước ta vẫn giữ quy định về việc bảo đảm quyền riêng tƣ của cá nhân với phạm vi bảo vệ ngày càng mở rộng hơn2. Tuy nhiên, có thể thấy rằng các bản Hiến pháp này chỉ quy định việc bảo vệ bí mật đời tƣ của công dân đối với thƣ tín, điện thoại, điện tín mà thôi, tức là phạm vi quyền bí mật đời tư còn tương đối hẹp.
Đến Hiến pháp 2013, quyền bí mật đời tƣ của cá nhân đã đƣợc tiếp cận theo cách khác, theo đó: “(1). Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình.Thông tin về đời sống riêng
toàn và (2.) Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác”3. Hiến pháp 2013 đã mở rộng hơn rất nhiều đối với quyền bí mật đời tƣ, theo đó không chỉ bao gồm thƣ tín, điện thoại, điện tín mà tất cả các vấn đề về đời sống riêng tƣ, bí mật cá nhân và bí mật gia đình đều đƣợc pháp luật bảo vệ.
Nhƣ vậy, có thể thấy rằng, Hiến pháp – văn bản pháp luật có giá trị cao nhất đã ghi nhận và bảo vệ cho quyền bí mật đời tƣ của công dân. Tuy nhiên, với tính chất của một văn bản nguồn, Hiến pháp chƣa đề cập rõ đến khái niệm quyền bí mật đời tƣ cũng nhƣ là các biện pháp cụ thể để bảo vệ bí mật đời tƣ mà sẽ do các quy định pháp luật chuyên ngành quy định, mà cụ thể ở đây đó là các quy định của pháp luật dân sự.
Liên hệ trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam, có thể thấy quyền bí mật đời tư được đề cập tương đối ít ỏi, chỉ tồn tại trong một vài quy định, cụ thể:
- Điều 25 Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989 quy định về trách nhiệm của thầy thuốc “… phải giữ bí mật về những điều có liên quan đến bệnh tật hoặc đời tư mà mình được biết về người bệnh”.
- Khoản 2 Điều 46 Luật giao dịch điện tử 2005 quy định “Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được sử dụng, cung cấp hoặc tiết lộ thông tin về bí mật đời
1 Điều 11 Hiến pháp 1946
2 Điều 28 Hiến pháp 1959: “Pháp luật bảo đảm nhà ở của công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà không bị xâm phạm, thư tín được giữ bí mật….”
Điều 71 Hiến pháp 1981: “…Bí mật thư tín, điện thoại, điện tín được bảo đảm…”
Điều 73 Hiến Pháp 1992: “… Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được bảo đảm an toàn và bí mật. Việc khám xét chỗ ở, việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện tín của công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật”.
3 Điều 21 Hiến pháp 2013.
54
tư hoặc thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà mình tiếp cận hoặc kiểm soát được trong giao dịch điện tử nếu không được sự đồng ý của họ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”
- Theo quy định tại Điều 31 BLDS 1995 và 2005 thì “Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác. Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh”. Mặc dù luật không quy định rõ đây có thuộc quyền bí mật đời tƣ hay không nhƣng chúng ta thấy rằng hình ảnh của cá nhân thuộc quyền sở hữu của chính cá nhân đó và việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được sự đồng ý của người đó, vì vậy đây cũng chính là quyền riêng tư của con người.
- BLDS 1995 chỉ quy định về quyền bí mật đời tư một cách tương đối ngắn gọn tại Điều 34, theo đó:
Quyền đối với bí mật đời tƣ của cá nhân đƣợc tôn trọng và đƣợc pháp luật bảo vệ.
Việc thu thập, công bố thông tin, tƣ liệu về đời tƣ của cá nhân phải được người đó đồng ý hoặc thân nhân của người đó đồng ý, nếu người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phải đƣợc thực hiện theo quy định của pháp luật.
Không ai đƣợc tự tiện bóc mở, thu giữ, tiêu huỷ thƣ tín, điện tín, nghe trộm điện thoại hoặc có hành vi khác nhằm ngăn chặn, cản trở đường liên lạc của người khác. Chỉ trong những trường hợp được pháp luật quy định và phải có lệnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới đƣợc tiến hành việc kiểm soát thƣ tín, điện thoại, điện tín của cá nhân.
- BLDS 2005 về cơ bản giữ nguyên quy định của BLDS 1995 về quyền bí mật đời tƣ, tuy nhiên có bổ sung vào phạm vi quyền bí mật đời tƣ đối với
“các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân”4.
Nhƣ vậy, BLDS 1995 và BLDS 2005 lần đầu tiên đã đề cập đến thuật ngữ “Quyền bí mật đời tư”, tuy nhiên trong cả hai Bộ luật vẫn chƣa nêu rõ khái niệm chính xác về quyền bí mật đời tƣ là gì cũng nhƣ phạm vi
4 Điều 38 BLDS 2005: “Quyền bí mật đời tư:
1. Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
2. Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
3. Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.
Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.”
55 của nó nhƣ thế nào.
- Dự thảo sửa đổi BLDS 2005 đã có sự thay đổi tương đối lớn trong cách tiếp cận quyền bí mật đời tƣ. Theo quy định tại Điều 41 Dự thảo thì công dân có quyền đƣợc bảo đảm an toàn về đời sống riêng tƣ, bí mật cá nhân, cụ thể:
Đời sống riêng tƣ, bí mật cá nhân là bất khả xâm phạm và đƣợc pháp luật bảo vệ, bảo đảm an toàn.
Việc thu thập, sử dụng, công khai thông tin, tƣ liệu liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý.
Thƣ tín, điện thoại, điện tín, các hình thức trao đổi thông tin riêng tƣ khác của cá nhân đƣợc bảo đảm an toàn và bí mật. Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thƣ tín, điện thoại, điện tín, các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật định.
Có thể thấy, Dự thảo sửa đổi BLDS đã không tiếp tục sử dụng thuật ngữ:
“Quyền bí mật đời tư” mà sử dụng thuật ngữ “Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân”. Sự thay đổi này là để phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013. Tuy nhiên, dự thảo vẫn chƣa đƣa ra đƣợc khái niệm thống nhất về đời sống riêng tƣ và bí mật cá nhân.
Nhƣ vậy, mặc dù đã có nhiều thay đổi, bổ sung trong quá trình hoàn thiện quy định pháp luật về quyền bí mật đời tƣ của cá nhân, tuy nhiên hiện nay vẫn chƣa có một văn bản nào hướng dẫn cụ thể, chi tiết như thế nào là “bí mật đời tư” hay “đời sống riêng tƣ, bí mật cá nhân” là gì? Do đó, chúng ta cũng không biết đƣợc rằng liệu việc thay đổi thuật ngữ trong dự thảo sửa đổi có làm thay đổi nội hàm của quyền bí mật đời tƣ hay không? Chính vì thế, cần thiết chúng ta phải nghiên cứu, tìm hiểu khái niệm của các thuật ngữ “bí mật đời tư” và “đời sống riêng tư, bí mật cá nhân”.
Hiện nay, khái niệm về “bí mật đời tư” đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu trong nước đưa ra với những lập luận, căn cứ khác nhau. Cụ thể:
- Có quan điểm cho rằng: “Bí mật đời tư có thể được hiểu là những gì gắn với nhân thân con người, là quyền cơ bản. Đó có thể là những thông tin về hình ảnh, cuộc sống gia đình, tên gọi, con cái, các mối quan hệ... gắn liền với một cá nhân mà người này không muốn cho người khác biết.
Những bí mật đời tư này chỉ có bản thân người đó biết hoặc những người thân thích, người có mối liên hệ với người đó biết và họ chưa từng công bố ra ngoài cho bất kỳ ai. “Bí mật đời tư” có thể hiểu là “chuyện trong nhà” của cá nhân nào đó. Ví dụ: con ngoài giá thú, di chúc, hình ảnh cá nhân, tình trạng sức khỏe, bệnh tật, các loại thư tín, điện thoại, điện tín…”5.
- Có quan điểm khác cho rằng: “…bí mật đời tư của cá nhân được hiểu trên hai phương diện: Một là, bí mật về đời sống tình cảm, tinh thần: Bí
5 http://danluat.thuvienphapluat.vn/quyen-bi-mat-doi-tu-bao-ve-quyen-bi-mat-doi-tu-126704.aspx
56
mật về đời sống tình cảm của cá nhân thể hiện tính chất đặc biệt riêng tư của cá nhân đó. Điều luật cấm công khai cho mọi người biết các mối quan hệ thực tại hoặc mang tính chất hình tượng mà cá nhân đó vốn có.
Hai là, bí mật về đời sống nghề nghiệp, vật chất của cá nhân thể hiện là những bí mật về hoạt động nghề nghiệp; tình trạng vật chất gắn liền với hoạt động đó”6.
- Theo quan điểm khác thì: “Bí mật đời tư là những thông tin, tư liệu (gọi chung là thông tin) về tinh thần, vật chất, quan hệ xã hội hoặc những thông tin khác liên quan đến cá nhân trong quá khứ cũng như trong hiện tại, được pháp luật bảo vệ và những thông tin đó được bảo mật bằng những biện pháp mà pháp luật thừa nhận”7.
Nhƣ vậy, có thể thấy rằng, mặc dù các học giả có cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm “bí mật đời tƣ”, tuy nhiên, nhìn chung lại hầu hết các tác giả đều đồng ý rằng bí mật đời tƣ là những thông tin liên quan và gắn liền với chính chủ thể đó, đó là những nội dung mang tính chất thầm kín của cá nhân và họ muốn giữ bí mật cho riêng họ, không muốn công khai cho người khác biết. Đó có thể là các thông tin liên quan đến các yếu tố nhƣ tinh thần, vật chất, các quan hệ xã hội.
Quan điểm của tác giả đồng ý với cách nhìn nhận khái niệm về “bí mật đời tƣ”
nhƣ ở trên. Bởi lẽ, để hiểu đƣợc khái niệm “bí mật đời tƣ” là gì chúng ta chỉ cần đi vào hai khái niệm là “bí mật” và “đời tƣ”. Theo đó, “bí mật” là những thông tin đƣợc giữ kín, không đƣợc tiết lộ ra ngoài. Còn “đời tƣ” ở đây là một từ Hán – Việt, trong đó
“đời” ở đây là đời sống, cuộc sống hằng này, còn “tƣ” nghĩa là riêng, thuộc về một cá nhân nhất định8.
Nhƣ vậy, có nghĩa là yếu tố đầu tiên để cầu thành “bí mật đầu tƣ” chính là tính bí mật, tức là việc thông tin đƣợc giữ kín, không tiết lộ ra bên ngoài.
Tuy nhiên, tác giả cho rằng tính “bí mật” trong khái niệm “bí mật đời tƣ” chỉ mang tính tương đối. Điều này có nghĩa là, cùng một nội dung vụ việc có tính chất như nhau, đối với người này có thể là bí mật, nhưng đối với người khác thì đây chỉ là một thông tin bình thường, có thể công bố rộng rãi. Chẳng hạn: cùng là mối quan hệ tình cảm nhƣng đối với A thì đây là bí mật đời tƣ vì A không muốn ai biết mình đã có người yêu. Ngược lại, đối với B thì đây không phải là bí mật đời tư vì B luôn muốn công bố cho mọi người biết tình trạng quan hệ của mình như thế nào.
Hay nói cách khác, bất cứ cá nhân nào, nhất là người của công chúng như văn nghệ sĩ mà xuất hiện ở nơi công cộng (nhƣ cách hiểu nói trên) và có lời nói, hành động hoặc không hành động gắn liền với việc làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt một sự việc, sự kiện nào đó thì những gì liên quan đến họ không còn là bí mật đời tƣ nữa. Ví dụ:
Nghệ sĩ C nói về một vấn đề riêng tư tại nhà riêng và lưu giữ tại nhà đó thì người khác muốn sử dụng để đăng báo phải xin phép nghệ sĩ đó. Thế nhƣng nếu những thông tin đó, nghệ sĩ ấy công khai tại quảng trường, nhà hát thì không còn là bí mật đời tư nữa
6http://dqlaw.wordpress.com/category/nghien-c%E1%BB%A9u/dan-s%E1%BB%B1-kinh-doanh th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i/
7 Lê Thị Diễm Phương, Nguyễn Hồ Bích Hằng, “Bảo vệ quyền bí mật đời tư bằng biện pháp dân sự”, Hội thảo khoa học Bảo vệ quyền con người bằng biện pháp dân sự Tháng 11/2012.
8 TTKHXH & Nhân văn quốc gia, Từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa Sài Gòn, năm 2006, tr1261
57
và nếu người khác thu thập, công bố mà không có ý kiến của người đó thì không xem là xâm phạm bí mật đời tƣ9.
Tuy nhiên, chúng ta không thể hiểu theo hướng nếu thông tin được công khai một cách hợp pháp thì không được coi là “bí mật đời tư”. Chẳng hạn trường hợp một phiên tòa xét xử dân sự công khai nhƣ vụ án ly hôn…, thì những thông tin trong diễn biến phiên tòa có liên quan đến đời sống riêng tƣ của cá nhân thì có đƣợc coi là “bí mật đời tƣ” hay không?
Đối với vấn đề này, hiện đang có hai quan điểm trái chiều:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng, việc sử dụng thông tin này không bị coi là xâm phạm bí mật đời tƣ, hay nói cách khác những thông tin mà Tòa án đã nêu trong khi xét xử không phải là bí mật đời tƣ nữa. Bởi lẽ theo nguyên tắc của BLTTDS thì phiên tòa phải đƣợc xét xử công khai, trừ một vài trường hợp ngoại lệ. Tuy nhiên thì dù không xét xử công khai nhƣng Tòa án vẫn phải tuyên bố công khai10. Do đó, những thông tin này đã mang tính “công khai”, tức là không thể còn là “bí mật” đƣợc nữa.
- Quan điểm thứ hai cho rằng, cần phân biệt sự công khai thông tin tại Toà án giữa một vụ án dân sự với một vụ án hình sự. Trong vụ án hình sự, những thông tin đó liên quan đến người phạm tội, họ đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và chịu hình phạt do Nhà nước qui định nên những thông tin này có thể đƣợc công khai để nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Đối với những thông tin trong vụ án ly hôn nói riêng và vụ án dân sự nói chung, đó là thông tin liên quan đến bản thân đương sự, không ảnh hưởng gì đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hay lợi ích của người khác nên các đương sự có quyền không công khai những thông tin này. Trường hợp này cần phải hiểu là công khai thông tin tại Toà án không đồng nghĩa với việc mất tính bảo mật của thông tin đó. Ví dụ: anh A xin ly hôn với vợ là chị B, tại phiên toà, anh thừa nhận rằng quan hệ sinh lý giữa hai vợ chồng không hoà hợp (anh bị mắc bệnh…) nên Toà án đã đồng ý cho ly hôn. Sau đó, những lời trình bày của anh A tại phiên toà được công khai, dư luận đàm tiếu…- trường hợp này cũng cần xác định rằng mặc dù thông tin đó đƣợc công khai tại phiên toà nhƣng vẫn đƣợc coi là bí mật đời tƣ11.
Quan điểm của tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai, tức là trong vụ án dân sự thì việc Tòa án xét xử công khai không làm mất đi quyền của cá nhân đối với “bí mật đời tư”. Bởi lẽ, mục đích của việc xét xử công khai là để mọi người hiểu được tại sao Tòa án lại phán xét nhƣ vậy, đánh giá sự phán xét của Tòa án có hợp tình, hợp lý hay không, chứ không phải với mục đich công khai thông tin đời sống của các bên. Mặt
9 http://luatminhkhue.vn/dan-su-1/rac-roi-chuyen-bi-mat-doi-tu-ca-nhan.aspx
10 Điều 15 BLTTDS: “Xét xử công khai:
1. Việc xét xử vụ án dân sự của Tòa án được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định.
2. Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân theo yêu cầu chính đáng của đương sự thì Tòa án xét xử kín, nhưng phải tuyên án công khai.”
11 http://www.songnhac.vn/giai-tri/297-psau-canh-ga/2016-the-nao-la-bi-mat-doi-tu.html