Hình thức giao dịch dân sự theo quy định tại Bộ luật dân sự năm 1995, Bộ luật dân sự năm 2005 và thực tiễn áp dụng pháp luật

Một phần của tài liệu Dự thảo bộ luật dân sự (sửa đổi 2015) (Trang 105 - 109)

V. KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG

1. Hình thức giao dịch dân sự theo quy định tại Bộ luật dân sự năm 1995, Bộ luật dân sự năm 2005 và thực tiễn áp dụng pháp luật

Theo nghĩa thông thường, hình thức là “toàn thể nói chung những gì làm thành mặt bề ngoài của sự vật, cái chứa đựng biểu hiện nội dung”3. Một trong những đặc điểm của giao dịch dân sự là sự thống nhất giữa ý chí (yếu tố bên trong) và bày tỏ ý chí (sự thể hiện ý chí ra bên ngoài) của các chủ thể tham gia giao dịch dân sự. Sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí của các chủ thể được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: bằng lời nói, bằng hành vi, bằng văn bản.... Thông qua các hình thức này, nội dung thỏa thuận giữa các chủ thể mới đƣợc thể hiện, giúp cho các chủ thể tham gia giao dịch cũng nhƣ các chủ thể khác có liên quan biết đƣợc nội dung đã cam kết thỏa thuận; thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ nội dung mà họ đã cam kết thỏa thuận; là chứng cứ quan trọng trong tố tụng dân sự; kể cả trong một số trường hợp các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có thể kiểm tra, giám sát tính hợp pháp hoặc bất hợp pháp của giao dịch.

ThS. GVC. Khoa luật dân sự - Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.

1 Điều 1 BLDS năm 2005

2 10 vấn đề trọng tâm xin ý kiến nhân dân đối với dự thảo sửa đổi BLDS bao gồm: 1. Trách nhiệm của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc bảo vệ quyền dân sự. 2. Quyền nhân thân. 3. Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự. 4.

Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức. 5. Bảo vệ người thứ ba ngay tình trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu. 6. Hình thức sở hữu. 7. Thởi điểm xác lập quyền sở hữu và các vật quyền khác.

8. Điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi. 9. Lãi suất trong hợp đồng vay tài sản. 10. Thời hiệu

3 Từ điển tiếng việt, Nxb Giáo dục, 1994, Hà Nội, tr.427

103

Cả hai BLDS năm 1995 và năm 2005 đều quy định hình thức của giao dịch dân sự bao gồm4:

- Hình thức lời nói: chủ thể tuyên bố ý chí bằng lời nói (ví dụ: di chúc miệng) hoặc thỏa thuận nội dung hợp đồng bằng lời nói ( hợp đồng miệng).

- Hình thức bằng hành vi cụ thể: chủ thể bằng một hoặc một số hành vi cụ thể để thể hiện ý chí của mình.

- Hình thức bằng văn bản: sự thể hiện ý chí, nội dung mà các chủ thể thỏa thuận đƣợc thể hiện bằng văn bản và chủ thể ký tên vào văn bản đó. Trong những trường hợp pháp luật có quy định hoặc do sự lựa chọn, thỏa thuận của các chủ thể, văn bản của giao dịch dân sự còn đƣợc công chứng hoặc chứng thực.

BLDS năm 1995 quy định hình thức của giao dịch dân sự là một trong bốn điều kiện bắt buộc mà giao dịch phải đáp ứng để đảm bảo hiệu lực của giao dịch dân sự5. Ngoài ra BLDS năm 1995 còn quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không hạn chế6. Những quy định này đã cho thấy BLDS năm 1995 xem vi phạm điều kiện hình thức của giao dịch dân sự là loại vi phạm nghiêm trọng nên phải xử lý hậu quả pháp lý khi giao dịch dân sự vô hiệu tương tự như trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do mục đích và nội dung trái pháp luật, trái đạo đức xã hội và giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo. Nội dung các quy định trên đã thể hiện quan điểm cứng rắn, sự can thiệp khá sâu của Nhà nước vào giao dịch dân sự nhằm thực hiện sự quản lý, giám sát của Nhà nước. Sau 10 năm thực hiện, BLDS năm 1995 đã bộc lộ những khiếm khuyết, bất cập, thậm chí trở nên lạc hậu trước những thay đổi của đời sống xã hội nên việc sửa đổi, bổ sung BLDS năm 1995 là nhu cầu tất yếu. Quan điểm lập pháp về hình thức của giao dịch dân sự tại thời điểm này cũng đã có sự thay đổi theo hướng tự do hóa giao dịch dân sự, “việc dân sự cốt ở đôi bên”, tôn trọng sự tự do, tự nguyện, cam kết thỏa thuận của các chủ thể, giảm thiểu sự can thiệp của Nhà nước vào các quan hệ dân sự.

Trên cở sở những quan điểm này, BLDS năm 2005 quy định: trong trường hợp pháp luật không quy định cụ thể về hình thức của giao dịch thì các bên có thể tùy nghi lựa chọn,

“hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định”7. Ngoài ra, BLDS năm 2005 đã thay đổi thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu từ không hạn chế thời hạn (BLDS năm 1995) chuyển sang thời hạn 2 năm kể từ ngày giao dịch đƣợc xác lập8. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn pháp lý cho các chủ thể, cũng nhƣ bảo vệ trật tự pháp luật và lợi ích xã hội, BLDS năm 2005 và một số văn bản pháp luật khác (Luật nhà ở, Luật đất đai, Luật kinh doanh bảo hiểm...) quy định hình thức nhất định đối với một số giao dịch dân sự cụ thể.

Quy định điều kiện về hình thức là một trong những điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự đã đƣợc bàn luận rất nhiều trong quá trình sửa đổi BLDS năm 2005. Tựu

4 Điều 153 BLDS năm 1995 và Điều 124 BLDS năm 2005

5 Điều 131 BLDS năm 1995

6 Khoản 2 Điều 145 BLDS năm 1995

7 Khoản 2 Điều 122 BLDS năm 2005

8 Điều 136 BLDS năm 2005

104 chung có hai quan điểm:

Quan điểm thứ nhất: hình thức là điều kiện bắt buộc đối với hiệu lực của giao dịch dân sự là quy định không hợp lý, đó chỉ là sự thể hiện ý chí của các bên tham gia giao dịch theo các ký tự bằng “mực đen, trên giấy trắng” và việc công chứng, chứng thực chỉ là sự xác nhận sự kiện pháp lý giữa các bên. Pháp luật quy định vi phạm hình thức dẫn đến giao dịch dân sự vô hiệu sẽ tạo nên một khoảng cách nhất định giữa sự thống nhất ý chí thực sự giữa các bên và hiệu lực của giao dịch dân sự9.

Quan điểm thứ hai: vẫn giữ quy định bắt buộc về hình thức của giao dịch vì những những lý do:

- Nhằm lưu ý sự cẩn trọng cần thiết của các bên khi tham gia giao dịch dân sự - Nhằm bảo vệ trật tự công cộng

- Đó là công cụ hỗ trợ cho các chủ thể tham gia giao dịch dân sự trong việc kiểm tra tính hợp pháp nội dung của giao dịch...

Sự tranh luận không chỉ dừng lại ở việc quy định điều kiện về hình thức đối với hiệu lực của giao dịch dân sự mà còn thể hiện gay gắt hơn nữa đối với những quy định của BLDS về hậu quả pháp lý khi giao dịch dân sự vi phạm quy định về hình thức. Xin đƣợc trích dẫn quy định của BLDS năm 2005 nhƣ sau:

Điều 127. Giao dịch dân sự vô hiệu

Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu.

Điều 134. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu.

Điều 401. Hình thức hợp đồng dân sự

1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.

2. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.

Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường

9

105 hợp pháp luật có quy định khác.

Trước những mâu thuẫn “tiền hậu bất nhất” của BLDS năm 2005 về hậu quả pháp lý khi giao dịch dân sự vi phạm quy định về hình thức đã có tác giả nhận xét: “thái độ của người làm luật đối với sự vi phạm về hình thức giao dịch không rõ ràng. Có lúc, người làm luật khẳng định trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng, hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân thủ quy định đó. Nhưng lúc khác, người làm luật lại tỏ ra dễ dãi hợp đồng vi phạm về hình thức không vô hiệu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”10 Ngay cả Tòa án nhân dân tối cao cũng không có sự thống nhất khi hướng dẫn giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng (giao dịch dân sự) vi phạm về hình thức11. Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP có xem xét đến tình tiết thực tế là hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất có đƣợc thực hiện hay chƣa và mức độ thực hiện một phần hay toàn bộ để có cách giải quyết tương ứng; trong khi đó Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP lại không đề cập tình trạng hợp đồng đã đƣợc thực hiện hay chƣa thực hiện.

Theo quy định tại Điều 134 BLDS năm 2005, khi hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác buộc các bên thực hiện quy định về hình thức trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu. Đây là thủ tục bắt buộc áp dụng hay tùy nghi áp dụng khi Tòa án tiến hành giải quyết các vụ án dân sự? Qua việc nghiên cứu thực tiễn, chúng tôi thấy rằng có sự khác biệt giữa các quy định của BLDS năm 2005 với thực tiễn áp dụng pháp luật của Tòa án cũng nhƣ các quan điểm khoa học. Khi áp dụng pháp luật có tòa ấn định thời hạn khắc phục khiếm khuyết về hình thức, có tòa không ấn định thời gian để khắc phục và hoàn thiện về hình thức của giao dịch dân sự mà tuyên ngay hợp đồng vô hiệu12.

Về mặt khoa học lý luận, cũng tồn tại nhiều cách hiểu về việc ấn định thời hạn để hoàn thiện quy định về hình thức. Có quan điểm cho rằng, đây là quy định mang tính tùy nghi, tùy từng trường hợp mà Tòa án áp dụng việc ấn định thời hạn nếu xét thấy việc này mang lại hiệu quả chứ không bắt buộc trong mọi trường hợp. Ngược lại, có quan điểm cho rằng việc Tòa án ấn định thời hạn để hoàn thiện quy định về hình thức là bắt buộc, giao dịch dân sự chỉ vô hiệu khi kết thúc thời hạn ấn định mà một hoặc các bên không tuân thủ quyết định của Tòa án. Ngoài ra, Điều 139 BLDS năm 1995 cũng nhƣ Điều 134 BLDS năm 2005 không quy định cụ thể khoảng thời hạn mà Tòa án ấn định để thực hiện quy định hình thức của giao dịch dẫn đến các thẩm phán tùy nghi ấn định (trừ quy định thời hạn tại Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP). Quá nhiều vấn đề cần đƣợc giải quyết để tạo sự thống nhất từ lý luận đến thực tiễn xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật đƣợc kỳ vọng vào sự sửa đổi BLDS năm 2005.

10 Nguyễn Ngọc Điện, Hoàn thiện chế độ pháp lý về xác lập hợp đồng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (19/2009), tr.47

11 Xem Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP

12 Bản án số 38/2010/DS-ST ngày 22/9/2010 của TAND Quận 3 và Bản án số 29/2011/DS-PT ngày 12/1/2011 của TAND thành phố Hồ Chí Minh.

106

Một phần của tài liệu Dự thảo bộ luật dân sự (sửa đổi 2015) (Trang 105 - 109)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(165 trang)