III. GÓP Ý CHO DỰ THẢO BỘ LUẬT DÂN SỰ SỬA ĐỔI VỀ MỘT SỐ VẤN
1. Về quy định liên quan đến “giải thích hành vi pháp lý” (Điều 138 Dự thảo)
Nhƣ đã trình bày “giải thích giao dich dân sự” không có ý nghĩa lý luận nhiều mà cần thiết phải xem xét theo từng nguyên nhân cụ thể trong từng chế định địhành vi
- 118 -
pháp luật nhƣ “giải thích hợp đồng”, “giải thích di chúc”… Theo đó, quy định về giải thích giao dịch dân sự này nên chuyển sang một vị trí phù hợp trong phần quy định chung về hợp đồng. Điều này đã đƣợc chứng minh gián tiếp khi khoản 3 Điều 138 Dự thảo đã viện dẫn Điều 674 để giải thích về di chúc.
2. Về nội dung “giải thích hợp đồng”
Nhƣ đã trình bày về ý nghĩa và cách thức tiến hành giải thích hợp đồng trong phần trên, tôi cho rằng điều 138 nên phải tạo ra một điều khoản (khoản 1) quy định về giải thích hợp đồng phải nhấn mạnh rằng giải thích hợp đồng là việc xác định ý nghĩa trong việc thể hiện ý chí của các bên đương sự. Nội dung hợp đồng phải được xác đinh bằng cách sao cho phù hợp với mục đích kinh tế, xã hội mà các bên đương sự muốn đạt được trong hoàn cảnh cụ thể của hợp đồng. Nói khác là không đươc tạo ra một ý nghĩa thứ ba mà các bên đương sự không nghĩ đến.
Giải thích hợp đồng không phải là công cụ để tìm ra hoặc thực thi sự công bằng chung, hoặc sự hợp lý chung. Hợp đồng với ý nghĩa là phương tiện để xác lập và thực hiện quan hệ pháp luật trong luật tƣ đƣợc chỉ đạo bởi quyền tự do dân sự và nguyên tắc tự trị riêng tƣ, nên vai trò của giải thích hợp đồng nên và chỉ nên đƣợc phát huy với ý nghĩa nêu trên. Pháp luật dân sự đã chuẩn bị sẵn những quy phạm khác để cƣỡng chế điểu chỉnh nội dung thể hiện ý chí của các bên bằng các chế định nhƣ các điều cấm của luật, quy phạm bắt buộc, đạo đức xã hội... Nếu pháp luật muốn lấy cái gọi là lẽ công bằng trong quy phạm pháp lý cƣỡng chế thì nên phải xây dựng một quy định riêng trên cơ sở lý luận pháp lý đã đƣợc nghiên cứu sâu sắc. Còn về sự hợp lý, có thể nói, con người khi tham gia giao dịch dân sự theo nghĩa rộng thường quyết định hành vi của mình theo sự lựa chọn của chính bản thân. Và mỗi sự lƣa chọn đó dựa trên cơ sở tính hợp lý của mỗi người trong từng hoàn cảnh cụ thể. Do đó, chúng ta nên tôn trọng sự lựa chọn của các bên. Đây chính là tinh thần và nguyên tắc rất quan trọng là cơ sở đƣợc nêu lên trong Khoản 1 Điều 2.
Về Khoản 1 điều 138 trong dự thảo nên phải làm rõ về xuất phát điểm khi giải thích hợp đồng theo nghĩa hẹp. Giải thích hợp đồng là giải thích khi các bên đã có nội dung đƣợc nhất trí. Nếu không có sự nhất trí thì hợp đồng chƣa đƣợc xác lập. Vấn đề quan trọng là sự nhất trí đó đã đƣợc khẳng định theo nội dung đƣợc hiểu qua hành vi thể hiện ra bên ngoài theo cách hiểu chung của xã hội, hay theo nhất trí trong ý chí chủ quan của các bên đã tuyên bố trong hành vi thể hiện. Tại đây, cần xem xét vấn đề rằng chúng ta nên coi trọng ý nghĩa đƣợc xác định qua hành vi thể hiện ra bên ngoài, hay coi trọng ý nghĩa chủ quan của các bên? Đây chính là vấn đề pháp lý trong luật nội dung liên quan đến giải thích hợp đồng. Còn những vấn đề nhƣ nội dung đƣợc thỏa thuận “không rõ ràng”, “khó hiểu”, “đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác” thì đó là những vấn đề phải đƣợc xác minh qua các chứng cứ để khẳng định rằng các bên đã có nhất trí với nội dung nhƣ thế nào. Tóm lại, đó là vấn đề về luật thủ tục.Vì vây, Khoản 1 (trong dự thảo )không cần thiết phải đề cập đến vấn đề này, thay vào đó, chỉ cần giữ đƣợc tinh thần của đoạn sau là “mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên với ngôn từ đƣợc sử dụng…” và xin đề xuất quy định nhƣ sau:
“1. Trong trường hợp giao dịch dân sự(hợp đồng) có sự khác biệt giữa ý chí chủ quan của các bên đã đươc thống nhất với ý nghĩa thông thường có thể được hiểu thông qua
- 119 -
hành vi thể hiện thì việc giải thích được thực hiện theo thứ tự như sau:”
Về điểm a Khoản 1, tôi tán thành với tinh thần quy định này bởi khi các bên đương sự trong hợp đồng đã có nhất trí về một nội dung trong chủ quan của các đương sự thì không có lý do gì mà bắt các bên theo một quy phạm khác ngoài ý chí đó dù các bên thể hiện ra hành vi bên ngoài với ý nghĩa khác (theo ngôn từ và các hành vi khác đƣợc coi là hành vi thể hiện). Theo ý nghĩa này, vế câu thứ hai “khi có điều khoản không rõ ràng thì không chỉ dựa vào ngôn từ của hành vi pháp lý mà còn phải căn cứ vào ý chí chung của các bên để giải thích điều khoản đó” không cần thiết giữ lại vì câu thứ nhất của điểm a) Khoản 1 đã nói hết ý nghĩa rằng khi các bên đương sự đã có nhất trí về một nội dung trong chủ quan thí đó chính là ý chí đích thực và không phải xem xét đến ý nghĩa ngôn từ của hành vi thể hiện.
Tiếp đó, Điểm a Khoản 1 có quy định: “Khi một điều khoản có thể hiểu theo nhiều nghĩa thì phải chọn nghĩa nào làm cho điều khoản đó khi thực hiện có lợi nhất cho các bên”. Xin đƣợc nhắc lại, giải thích hợp đồng theo nghĩa hẹp chính là việc xác định nội dung hợp đồng thông qua việc xác định ý nghĩa của ý chí đã đƣợc thể hiện. Cho nên không được mang một ý nghĩa nào khác ngoài ý nghĩa mà các bên đương sự đã thể hiện. Theo đó, câu này không nên quy định theo ý nghĩa lấy “lợi” làm tiêu chí để giải thích hợp đồng nếu yếu tố “có lợi” đó nằm ngoài ý chí thể hiện của các bên. Không ai được phép mang ý nghĩa nào khác ngoài ý chí đã được thể hiện bởi các bên đương sự.
Đó sẽ là sự can thiệp vào quyền tự do trong việc xác lập hành vi pháp luật của các bên.
Còn những câu quy định về giải thích theo ngôn từ hoặc hành vi thể hiện thì nên phải có một điểm riêng để quy định tiêu chí giái thích hợp đồng trong trường hợp không thấy đƣợc sự thống nhất trong ý chí chủ quan. Lúc này, ý nghĩa của ý chí của hai bên đã bố trí vào hành vi thể hiện không giống nhau. Ở đây, vấn đề đặt ra lại việc lựa chọn xem lấy ý nghĩa của bên nào đề làm nội dung hợp đồng? Dự thảo dường như chưa đề cập về giải pháp trong trường hợp này. Xin dưa ra một giải pháp như đã đề cập trong phần lý luận: “Nếu ý nghĩa mà hai bên đã tuyên bố vào hành vi thể hiện không giống nhau thì lấy ý nghĩa của bên nào có tính chính đáng trong xã hội làm nội dung hợp đồng trừ khi có hoản cảnh đặc biệt”.
Khi chúng ta đã thực hiện hết mọi việc giải thích hợp đồng theo nghĩa hẹp, mà vẫn còn những điều khoản (quy phạm) chƣa đƣợc quy định thì lúc đó vai trò của giải thích hợp đồng mang tính bổ sung đƣợc sử dụng. Điều quan trọng ở đây là giải thích mang tính bổ sung này chỉ đƣợc phát huy đối với những quy phạm mà các bên chƣa thể hiện ý chí. Với vấn đề này, dự thảo nên tách để quy định thành một điểm riêng. Điểm b Khoản 1 quy định: “Theo nghĩa phù hợp với mục đích của giao dịch dân sự”. Nếu câu này đƣợc sửa thành “Sau khi giải thích ý nghĩa của ý chí thống nhất đã được thể hiện giữa các bên mà vẫn thiếu một số điều khoản hoặc quy phạm thì có thể giải thích bổ sung điều khoản đó cho phù hợp với mục đích của ý chí thống nhất mà các bên hướng về hành vi pháp lý đó” thì đó sẽ là một quy định phù hợp về giải thích hợp đồng mang tính bổ sung.
Bên cạnh đó, theo Dự thảo, điềm c Khoản 1 có quy định: “Theo tập quán nơi giao dịch dân sự đƣợc xác lập”. Theo cách quy định này, tập quán này không đƣợc coi là tập quán pháp (tập quán mà pháp luật thừa nhận nhƣ nguồn luật) nhƣ đƣợc quy định tại Điều 11 dự thảo. Mà đây là tập quán đƣợc tồn tại tại một nơi cụ thể đƣợc lấy làm tiêu chuẩn thực tiễn cho một số loại giao dịch nhất định. Tập quán loại này có thể sử dụng
- 120 -
đƣợc trong quá trình giải thích hợp đồng mang tính bổ sung để làm một trong những cơ sở để tìm hiểu ý chí của các bên trong hoàn cảnh giao dịch hợp đồng cụ thể đó.
Song, nếu tập quán ở đây là tập quán pháp nhƣ quy định ở Điều 11 dự thảo thì không thể là cơ sở để giải thích hợp đồng mang tính bổ sung, bởi nhƣ đã trình bày, giải thích hợp đồng mang tính bổ sung không mang lại một ý nghĩa hay nội dung ngoài phạm trù ý chí của các bên đương sự trong hoàn cảnh giao dịch hợp đồng cụ thể. Giải thích hợp đồng mang tính bổ sung chỉ là công việc tìm ý chí giả định phù hợp cho lợi ích và mục đích trong ý chí đã đƣợc thể hiện.
Về khoản 2 Điều 138, khoản này đƣợc quy định mới nhƣ sau: “Trong trường hợp bên mạnh thế đưa vào giao dịch dân sự nội dung bất lợi cho bên yếu thế hoặc nội dung điều khoản không rõ ràng thì khi giải thích giao dịch dân sự phải theo hướng có lợi cho bên yếu thế”. Quy định này thể hiện rõ mục đích sửa đổi hợp đồng theo một ý chí nhất định, bất chấp nội dung hợp đồng đã đƣợc xác lập theo ý chí thể hiện của các bên đương sự. Như đã trình bày, giải thích hợp đồng không phải là công cụ để tìm ra hoặc thực hiện lẽ công bằng chung hoặc hợp lý chung. Hợp đồng là phương tiện để xác lập và thực hiện quan hệ pháp luật trong luật tƣ đƣợc chỉ đạo bởi quyền tự do dân sự và nguyên tắc tự trị riêng.
Mặt khác, các khái niệm nhƣ “bên mạnh thế”, “bên yếu thế” là những khái niệm không rõ ràng. Nếu chúng ta có thể tiếp nhận tích cực hơn khái niệm này, chúng ta nhận thấy đƣợc trong thế giới của giao dịch dân sự đã có những chế định nôm na để bảo vệ những hoản cảnh tương tự như chế định để bảo vệ những người năng lực hành vi dân sự kém, hoặc là chế định để làm cho hành vi pháp lý vô hiệu khi hành vi pháp lý đó đƣợc xác lập bằng đe dọa hay lừa đảo. Nếu cần những chế định bảo vệ “bên yếu thế” thì pháp luật nên sử dụng trí óc một cách thận trọng để xây dựng pháp luật bằng cách dựa trên những lý luận cụ thể và sâu sắc, trên cơ sở các yếu tố cấu thành cụ thể chi tiết. Ví dụ, chúng ta có thể xây dựng luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nhằm bảo vệ những chủ thể có đặc tính rõ ràng với những giao dịch cá biệt phù hợp cho những mục đích bảo vệ lợi ích cụ thể của người tiêu dùng. Trong khi đó, BLDS là luật cơ bản của luật tƣ, là thế giới pháp lý mang tính nguyên tắc về tất cả hoạt động của cộng đồng dân sự theo nghĩa rộng. Theo đó, mọi người có năng lực pháp luật bình đẳng, cùng nhau đƣa ra trí tuệ hợp lý để lựa chọn những hành vi của mình để xây dựng xã hội phát triền. Chính sự tin cậy vào tính hợp lý trong sự lựa chon của mọi người là nền tảng của BLDS.
Về khoản 4 điều 138 dự thảo, lẽ ra quy định này phải nêu về việc áp dung tập quán (tâp quán theo ý nghĩa của luật tập quán) và quy phạm tùy nghi trước khi nói về việc giải thích theo “ lẽ công bằng và hợp lý”. Khi giải thích hợp đồng theo nghĩa hẹp và giải thích hợp đồng mang tính bổ sung, nếu có điều khoản, quy phạm hợp đồng nào chƣa xác định đƣợc nội dung, pháp luật (theo cách hiểu phổ biến) sẽ bổ sung quy phạm còn thiếu bằng cách áp dụng tập quán và/hoặc quy phạm tùy nghi. Về thứ tự áp dụng giữa tập quán và quy phạm tuy nghi, cũng nhƣ sự tồn tại về quy định thực định về quy phạm tùy nghi sẽ trình bày ở phần tiếp theo.
Về việc giải thích công bằng và hợp lý, nhƣ đã trình bày trên, giải thích hợp đồng không phải là công cụ để tìm ra hoặc thực thi sự công bằng chung, hoặc sự hợp lý chung. Hợp đồng với ý nghĩa là phương tiện để xác lập và thực hiện quan hệ pháp luật trong luật tƣ đƣợc chỉ đạo bởi quyền tự do dân sự và nguyên tắc tự trị riêng tƣ, nên vai
- 121 -
trò của giải thích hợp đồng nên và chỉ nên đƣợc phát huy với ý nghĩa nêu trên. Pháp luật dân sự đã chuẩn bị sẵn những quy phạm khác để cƣỡng chế điểu chỉnh nội dung thể hiện ý chí của các bên bằng các chế định nhƣ các điều cấm của luật, quy phạm bắt buộc, đạo đức xã hội và các nguyên tác cơ bản của pháp luật dân sự. Do đó, chúng ta nên giải quyết bằng cách áp dụng các quy định trên, bằng cách làm sâu sắc thêm việc nghiên cứu giải thích pháp luật về các quy định này trên phương diện lý luận phù hợp với những thực tiến.