Theo quy định tại Điều 14 BLDS 2005, “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự”. Còn khái niệm năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân đƣợc quy định tại Điều 86 BLDS 2005, theo đó “Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phù hợp với mục đích hoạt động của mình”. Cùng với năng lực hành vi dân sự, năng lực pháp luật dân sự của chủ thể hợp thành năng lực chủ thể nói chung. Năng lực pháp luật dân sự của một cá nhân là tiền đề, là khả năng và điều kiện cần thiết để xác lập quyền, nghĩa vụ của chủ thể và là thành phần không thể thiếu khi chủ thể đó tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự với tư cách là chủ thể hoặc người đại diện cho chủ thể của quan hệ
Thạc sỹ luật học, Giảng viên Khoa Luật Dân sự - Đại học Luật Thành phồ Hồ Chí Minh.
92
pháp luật đó. Một chủ thể không có khả năng đạt đƣợc các quyền và nghĩa vụ liên quan đến một loại giao dịch dân sự hoặc không thể trực tiếp bằng hành vi của mình (khi chủ thể là cá nhân) hoặc gián tiếp thông qua hành vi của người đại diện (khi chủ thể là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) để xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự thì không thể tham gia vào giao dịch dân sự đó. Do đó, họ không thể trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật và không có quyền, nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó.
Vì vậy, năng lực chủ thể của người tham gia vào giao dịch dân sự luôn là một trong những điều kiện đầu tiên và quan trọng nhất quyết định tính hiệu lực của một giao dịch dân sự. Cũng giống nhƣ pháp luật của đa số các quốc gia trên thế giới nhƣ Pháp, Đức, Nga,…111, năng lực chủ thể cũng đƣợc xem là một trong những yếu tố quyết định tính hiệu lực cuả giao dịch dân sự theo quy định của BLDS 2005. Theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 122 BLDS 2005, “Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự…”. Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 127 BLDS 2005 rằng các giao dịch dân sự không thỏa mãn một trong các điều kiện tại Điều 122 BLDS 2005 thì vô hiệu.
So với phạm vi xem xét năng lực chủ thể để xác định tính hiệu lực của một giao dịch dân sự theo pháp luật của các nước trên thế giới, Điều 122 BLDS 2005 xem xét năng lực chủ thể tham gia vào giao dịch dân sự ở một phạm vi hẹp hơn – chỉ xem xét năng lực hành vi dân sự mà không xét đến năng lực pháp luật dân sự. Mặc dù trên thực tế, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có thể áp dụng một điều kiện khác để giao dịch dân sự có hiệu lực đƣợc quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 122 BLDS 2005 đó là “Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật…”. Theo đó, “Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định” (Điều 128 BLDS 2015) để tuyên giao dịch vô hiệu. Bên cạnh đó, khi tuyên giao dịch vô hiệu, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có thể kết hợp một số quy phạm trong pháp luật chuyên ngành chẳng hạn khoản 1, Điều 9, Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định doanh nghiệp có nghĩa vụ “hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; bảo đảm điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật khi kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện”. Nhƣ vậy, trong trường hợp, chủ thể là pháp nhân xác lập, thực hiện giao dịch nằm ngoài phạm vi đăng ký kinh doanh, tức là vƣợt quá hay không có năng lực pháp luật thì cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có thể tuyên giao dịch đó vô hiệu hoặc không công nhận hiệu lực của giao dịch từ thời điểm giao kết. Tương tự, nghĩa vụ của doanh nghiệp được đề cập tại khoản 1, Điều 8, Luật Doanh nghiệp năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2015) rằng doanh nghiệp có nghĩa vụ “đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh khi kinh doanh những ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật và bảo đảm duy trì đủ điều kiện đầu tư kinh doanh đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh”.
111 Xem Điều 1108 BLDS Cộng hòa Pháp, Điều 171 đến Điều 174 BLDS Liên bang Nga – Điều 171 đến 174, Điều 131 – BLDS của Cộng hòa Liên bang Đức.
93
Tuy nhiên, việc áp dụng pháp luật nhƣ vậy là không thỏa đáng vì Luật Doanh nghiệp 2005 hay 2014 cũng chỉ quy định kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong Giấy Chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh nhƣ là một nghĩa vụ của doanh nghiệp chứ không phải là một quy phạm cấm. Bản thân cách áp dụng nhƣ vậy cũng chỉ giới hạn đối với một loại chủ thể duy nhất là doanh nghiệp chứ không bao hàm lên toàn bộ các các chủ thể khác khá đa dạng, phong phú (bao gồm Cá nhân, Pháp nhân, Hộ gia đình, Tổ hợp tác, Nhà nước). Trong một số trường hợp cụ thể đƣợc quy định trong pháp luật chuyên ngành, chủ thể của giao dịch dân sự còn phải đáp ứng một số điều kiện cụ thể khác112. Đối với nội dung này, pháp luật của đa số các quốc gia trên thế giới đều trực tiếp (thông qua quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự113) hay gián tiếp (thông qua quy định về giao dịch dân sự vô hiệu114) thừa nhận việc xem xét năng lực pháp luật của chủ thể nhƣ là một điều kiện bắt buộc để giao dịch dân sự có hiệu lực. Nhƣ vậy, xét về thực tiễn lập pháp thì việc bổ sung năng lực pháp luật của chủ thể, nhƣ điều kiện bắt buộc có hiệu lực của giao dịch, vào Dự thảo BLDS 2005 (sửa đổi) là hợp lý, phù hợp với xu hướng chung của nhiều quốc gia phát triển, cùng hệ thống dân luật.
Nếu như việc xác định năng lực pháp luật dân sự của “người tham gia vào giao dịch dân sự”115 trong trường hợp một cá nhân trực tiếp xác lập giao dịch với tư cách là một chủ thể của giao dịch dân sự (cá nhân nhân danh chính mình xác lập và thực hiện giao dịch dân sự) thường rất đơn giản vì năng lực pháp luật của chủ thể đã được thể hiện cụ thể ngay tại thời điểm xác lập giao dịch dân sự, thì việc xác định năng lực pháp luật của chủ thể khi chủ thể tham gia xác lập giao dịch chỉ là người đại diện và xác lập giao dịch dân sự với tƣ cách của một chủ thể khác (đại diện cho cá nhân khác, cho Pháp nhân, cho Hộ gia đình, cho Tổ hợp tác) có phần phức tạp hơn và thường các tranh chấp trên thực tế liên quan phổ biến đến các loại giao dịch này.
Trong một giao dịch dân sự có một bên chủ thể là pháp nhân thì pháp nhân đó không thể tự mình xác lập giao dịch dân sự mà phải thông qua một chủ thể thứ ba đó là người đại diện hợp pháp cho pháp nhân, có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền116. Xét về bản chất của hoạt động đại diện đƣợc quy định tại Khoản 1, Điều 139, BLDS 2005, người đại diện không nhân danh mình mà sẽ nhân danh và vì lợi ích của người được đại diện để thực hiện các công việc trong phạm vi thẩm quyền đại diện. Người đại diện có thể tham gia vào giao dịch dân sự nhưng không phải là chủ thể của giao dịch dân sự. Do đó, để xem xét một cách đầy đủ nhất năng lực pháp luật dân sự nói riêng và năng lực chủ thể nói chung của “người tham gia giao dịch”, khi xem xét tính hiệu lực của giao dịch dân sự, chúng ta cần phải xác định khả năng chủ thể có đƣợc các
112 Xem các quy định tại Điều 6, 7, 16 …của Luật Thương mại 2005 về thương nhân trong nước, thương nhân nước ngoài.
113 Xem Điều 131 BLDS Đức, Điều 1108 BLDS Cộng hòa Pháp.
114 Điều 173, Điều 174 BLDS Liên bang Nga.
115 Thuật ngữ đƣợc sử dụng tại điểm a, khoản, Điều 122 BLDS 2005.
116 Xem khoản 3, Điều 86 BLDS 2005.
94
quyền và gánh chịu các nghĩa vụ phát sinh từ hay liên quan đến giao dịch đó, tức là phải xem xét cả năng lực pháp luật của tất cả các chủ thể nêu trên.
Trên thực tế, các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do không đáp ứng được điều kiện về năng lực pháp luật của chủ thể thường rơi vào trường hợp người đại diện xác lập giao dịch dân sự không có năng lực pháp luật dân sự (không có thẩm quyền đại diện117 hoặc vƣợt quá phạm vi đại diện118) trong việc giao kết giao dịch dân sự, điều này xuất phát từ sự thiếu hiểu biết của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự về nội dung phân định quyền giữa các thiết chế trong công ty (giữa cá nhân Tổng Giám đốc và Hội Đồng quản trị, cá nhân chủ tịch Hội đồng thành viên với Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên với Tổng Giám đốc, Đại hội đồng cổ đông với Hội đồng Quản trị, Tổng giám đốc với chủ tịch Hội đồng Quản trị,…); thẩm quyền của Công ty với các thành viên là đại diện pháp luật của Công ty.
Tương ứng với mỗi loại hình công ty khác nhau được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2005, các quy định về người đại diện theo pháp luật của công ty cũng rất khác nhau, đó có thể là Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Chủ tịch Hội Đồng Quản trị hoặc các Thành viên hợp danh119. Bên cạnh đó, thông qua quy định trong điều lệ công ty và phù hợp với Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng cho phép các chủ thể kinh doanh được lựa chọn người đại diện sao cho phù hợp với cơ cấu tổ chức và hoạt động của chủ thể đó, cho phép lựa chọn người đại diện theo ủy quyền để xác lập giao dịch với các chủ thể khác, đồng thời, bằng các quy định cụ thể về quyền hạn của Hội đồng thành viên trong công ty TNHH, Quyền hạn của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần, quyền hạn của Hội đồng thành
117 “Điều 145 BLDS 2005 quy định: “Hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện: 1. Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người đại diện hoặc người được đại diện đồng ý. Người đã giao dịch với người không có quyền đại diện phải thông báo cho người được đại diện hoặc người đại diện của người đó để trả lời trong thời hạn ấn định; nếu hết thời hạn này mà không trả lời thì giao dịch đó không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, nhưng người không có quyền đại diện vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện.
2. Người đã giao dịch với người không có quyền đại diện có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc huỷ bỏ giao dịch dân sự đã xác lập và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện mà vẫn giao dịch”.
118 Điều 146 quy định: “Hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện: 1. Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người được đại diện đồng ý hoặc biết mà không phản đối; nếu không được sự đồng ý thì người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện.
2. Người đã giao dịch với người đại diện có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc huỷ bỏ giao dịch dân sự đối với phần vượt quá phạm vi đại diện hoặc toàn bộ giao dịch dân sự và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch.
3. Trong trường hợp người đại diện và người giao dịch với người đại diện cố ý xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vượt quá phạm vi đại diện mà gây thiệt hại cho người được đại diện thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại”
119 Xem Điều 46, 64, 67, 116, 137 Luật Doanh nghiệp 2005, tương tự tại các Điều 55, 75, 78, 157, 179 Luật Doanh nghiệp 2014
95
viên trong công ty hợp danh, quyền hạn của giám đốc, tổng giám đốc,…
Pháp luật đã đặt ra giới hạn về phạm vi đại diện của người đại diện trong một số trường hợp đặc biệt có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của công ty (Ví dụ: Quyết định đầu tƣ hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản đƣợc ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ khác120; Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và chuyển giao công nghệ;
thông qua hợp đồng vay, cho vay, bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản đƣợc ghi trong báo cáo tài chính tại thời điểm công bố gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty121,…). Trong các trường hợp như vậy, quyền hạn của người đại diện theo pháp luật sẽ bị giới hạn bởi quyền lực của các thiết chế này. Để tránh tình trạng hợp đồng vô hiệu do chủ thể thực hiện giao dịch không đáp ứng đƣợc yêu cầu về năng lực pháp luật dân sự, các chủ thể cần phải nắm đƣợc toàn bộ các quy định trên khi tham gia vào một giao dịch dân sự mà có một bên chủ thể là pháp nhân. Nhƣ vậy, thực tiễn lập pháp Việt Nam cũng đã gián tiếp thừa nhận tại BLDS 2005 và/hoặc quy định tại các luật chuyên ngành về khả năng tòa án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét hiệu lực của giao dịch dân sự khi người tham gia xác lập, thực hiện nhƣng không có năng lực pháp luật.
Thực tiễn có nhiều tranh chấp liên quan đến hoạt động của công ty, theo đó, tòa án tuyên vô hiệu hoặc sẽ không công nhận giao dịch nếu người xác lập thực hiện giao dịch không có năng lực pháp luật. Việc nghiên cứu hai bản án tại đây sẽ góp phần minh chứng sự cần thiết quy định năng lực pháp luật dân sự của chủ thể là điệu kiện bắt buộc để giao dịch dân sự có hiệu lực.