Điều 122 Dự thảo BLDS (sửa đổi) đã có những thay đổi nhất định về khái niệm tài sản đặc biệt là nội hàm của các loại tài sản cũng đƣợc xác định rõ ràng và phù hợp hơn. Để làm rõ hơn chúng ta cùng xem bảng so sánh sau:
BLDS 2005 Dự thảo BLDS (sửa đổi)
Điều 163. Tài sản
Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.
Điều 122. Tài sản
Tài sản có thể là vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ và các quyền tài sản khác.
Tài sản bao gồm bất động sản và động sản.
101 Mục 1 Điều 1 nghị định số 11/2012/NĐ-CP về sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định số 163/2006/NĐ- CP
86 Điều 174. Bất động sản và động sản 1. Bất động sản là các tài sản bao gồm:
a) Đất đai;
b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó;
c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai;
d) Các tài sản khác do pháp luật quy định.
2. Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.
Điều 124. Bất động sản và động sản 1. Bất động sản là các tài sản bao gồm:
a) Đất đai;
b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;
c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;
d) Vật quyền được xác lập đối với bất động sản;
đ) Các tài sản khác do pháp luật quy định.
2. Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.
Điều 125. Vật
Vật được định hình ở dạng thể rắn, thể lỏng, thể khí và các dạng khác mà con người có thể nắm giữ, chi phối.
Điều 181. Quyền tài sản
Quyền tài sản là quyền trị giá đƣợc bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ.
Điều 132. Quyền tài sản
1. Quyền tài sản là quyền trị giá đƣợc bằng tiền và có thể là đối tượng trong quan hệ dân sự, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền khác.
2. Quyền tài sản đối với đối tƣợng sở hữu trí tuệ đƣợc quy định trong Bộ luật này và pháp luật về sở hữu trí tuệ.
3. Quyền sử dụng đất đƣợc quy định trong Bộ luật này và Luật đất đai.
Theo quy định của dự thảo, “Tài sản có thể là vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ và các quyền tài sản khác. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản”.
Trước khi ban hành dự thảo, cũng có ý kiến cho rằng khái niệm tài sản nên được xây dựng theo hướng chỉ bao gồm vật và quyền. Theo đó nên xây dựng lại khái niệm tài sản tại Điều 163 BLDS 2005 nhƣ sau: “Tài sản là vật bao gồm bất động sản và động sản. Tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm vật quyền, trái quyền
87
và các quyền tài sản trong sở hữu trí tuệ.”102 Tuy nhiên, với đề xuất nhƣ trên thì
“tiền” và “giấy tờ có giá” cũng đƣợc coi là “vật” và việc này là không hợp lý bởi lẽ tiền hay giấy tờ có giá đều có những điểm khác biệt và không nên đồng nhất chúng với vật.
Khi xem xét các quy định về tài sản của Dự thảo chúng tôi nhận thấy có rất nhiều điểm mới đƣợc đề xuất trên cơ sở khắc phục tối đa những hạn chế về nội hàm của tài sản mà BLDS hiện hành quy định, cụ thể nhƣ sau:
3.1 Kết cấu lại phần quy định về tài sản và quyền sở hữu
BLDS 2005 đã quy định các vấn đề liên quan đến tài sản và quyền sở hữu tại phần thứ hai với 117 điều liên quan đến khái niệm tài sản; phân loại tài sản; khái niệm quyền sở hữu; hình thức sở hữu;... với cách kết cấu như vậy dường như nhà làm luật không coi quyền sở hữu và các vật quyền hạn chế là đối tƣợng của tài sản. Chính điều này đã tạo ra những hạn chế trong các quy định hiện hành liên quan đến quyền sở hữu và các vật quyền hạn chế khi tham gia vào các gia lưu dân sự. Ví dụ: Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu của toàn dân, do Nhà nước đại diện là chủ sở hữu và thống nhất việc quản lý nhƣng việc khai thác, sử dụng đất đai lại đƣợc tiến hành chủ yếu thông qua các tổ chức và cá nhân. Vì thế, để phát huy vai trò, giá trị của đất đai thì Nhà nước phải giao đất cho các chủ thể này sử dụng. Việc giao đất cho các chủ thể khác thì Nhà nước phải giao quyền và quyền này không thể là quyền sở hữu vì trên nguyên tắc chung cùng một loại tài sản chỉ có thể có một quyền sở hữu mà thôi. Ở Việt Nam quyền này đƣợc gọi là quyền sử dụng đất. Vậy quyền sử dụng đất103 có đƣợc coi là tài sản hay không? Và nếu chúng ta cho rằng quyền sử dụng đất là một loại tài sản thì các vật quyền hạn chế đối với tài sản khác có là tài sản hay không? Và liệu các vật quyền này có là quyền tài sản theo Điều 181 BLDS 2005 hay không? Chính việc không xuất phát từ lý thuyết vật quyền nên ở nước ta bản chất pháp lý của quyền sử dụng đất cho đến nay vẫn chƣa đƣợc xác định một cách chính xác.
Theo dự thảo hiện nay thì nhà làm luật đã kết cấu lại phần thứ hai của BLDS 2005. Theo đó, khái niệm, phân loại tài sản sẽ đƣợc tách biệt với các quy định về quyền sở hữu. Việc kết cấu lại cho thấy nhà làm luật đã áp dụng triệt để lý thuyết vật quyền vào việc xây dựng các quy định của pháp luật. Quyền sở hữu và các vật quyền khác được xem là một loại tài sản khi thao gia vào giao lưu dân sự với tư cách là một quyền tài sản. Phần này tác giả xin đƣợc để cập cụ thể hơn ở phần sau khi nói về sự thay đổi của khái niệm quyền tài sản.
3.2 Bổ sung khái niệm “vật”
Khái niệm về “vật” đƣợc dự thảo là rõ hơn về mặt kỹ thuật tại Điều 125, theo đó: “Vật được định hình ở dạng thể rắn, thể lỏng, thể khí và các dạng khác mà con người có thể nắm giữ, chi phối.”. Việc bổ sung này là rất cần thiết để làm rõ hơn về mặt kỹ thuật của khái niệm “vật” đang tham gia vào các giao lưu dân sự với tư cách là
102 Sơ thảo phần quy định chung – BLDS (sửa đổi) – Tài liệu phục vụ cho tọa đàm với IRZ – Cộng hòa liên bang Đức, tr.51.
103 Cũng có quan điểm cho rằng Quyền sử dụng đất đƣợc coi là tài sản với tƣ cách là Bất động sản theo quy định của Luật kinh doanh bất động sản 2005 (sửa đổi bổ sung 2014). Tuy nhiên, Luật kinh doanh bất động sản chỉ áp dụng đối với các loại bất động sản đƣợc đƣa vào kinh doanh nên không thể bao quát hết đƣợc
88
một trong những tài sản phổ biến, đa dạng nhất. Tuy vậy, sự diễn đạt về thuật ngữ pháp lý lại chƣa thật sự thuyết phục. Nhà làm luật đã sử dụng hai thuật ngữ chỉ hai đặc tính vật lý khác nhau của vật chất là “dạng” và “thể”.
“Dạng” là hình thể, kích cỡ bên ngoài, dựa vào đó để phân biệt sự khác nhau giữa các sự vật, hiện tƣợng.104 Xét cho cùng thì “dạng” không phải là cơ sở tồn tại của
“vật” vì hình thức không thể đồng nghĩa với vật thể. Khi nói về hình dạng của vật thể thì sự tồn tại của nó là vô hạn. Ví dụ: Vàng có thể tồn tại ở dạng hình tròn, hình vuông, hình chiếc lá... và tùy thuộc vào mục đích của người sử dụng thì nó có thể tồn tại ở rất nhiều hình dạng khác nhau. Vì tính chất vô hạn đó mà pháp luật không thể dựa vào “dạng” mà quyết định sự tồn tại của vật chất để bảo vệ các “vật” với tính chất là một tài sản.
“Thể” là trạng thái tồn tại của vật chất: thể rắn, thể khí, thể lỏng, thể dịch, biến thể, dịch thể, hỗn thể, sự thể105. Nhƣ vậy thể là là trạng thái vật lý của vật chất hữu hình, tùy thuộc vào điều kiện nhiệt độ, áp suất... mà vật chất có thể biến đổi trạng thái vật lý này.
Vì thế, việc dự thảo quy định đặc tính vật lý của vật là “dạng” nhƣ một hình thức tồn tại của tài sản là không phù hợp cần bỏ từ “dạng” trong khái niệm “vật” nhƣ vừa phân tích106.
Kiến nghị: Cần bỏ từ “dạng” trong khái niệm về vật để đảm bảo sự phù hợp hơn về mặt ngữ nghĩa cũng nhƣ bản chất của của vật – đối tƣợng của tài sản.
3.3 Thay đổi khái niệm về “quyền tài sản”
Một trong những thay đổi quan trọng và đƣợc mong đợi nhất của vấn đề tài sản chính là khái niệm về quyền tài sản. Điều 181 BLDS 2005 quy định “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”.
BLDS hiện hành có xây dựng khái niệm quyền nhân thân. Theo đó, quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác107. Luật không khẳng định rằng các quyền nhân thân không có giá trị tài sản. Thế nhƣng, các quyền nhân thân cụ thể đƣợc liệt kê ngay sau đó đều là các quyền mà trong luật Latinh đƣợc cho là có tính chất phi tài sản.
Mặt khác, trong khung cảnh của luật hiện hành, một quyền chỉ đƣợc coi là quyền tài sản, một khi nó không chỉ định giá đƣợc bằng tiền mà còn phải chuyển giao đƣợc trong giao lưu dân sự. Tất cả những điều đó cho phép kết luận rằng quyền tài sản không phải là quyền nhân thân. Nói chung, quyền có thể chuyển giao được cho người khác không phải là quyền nhân thân. Thế nhƣng các quyền này gọi chung là gì? Trong luật của các nước Latinh, câu trả lời là “quyền tài sản”; còn trong luật Việt Nam,
104 Nguyễn Nhƣ Ý (cb), Đại tƣ điển tiếng việt, Nxb đại học quốc gia thành phố HCM, HCM, 2013, tr.388
105 Nguyễn Nhƣ Ý (cb), nt, tr.1492
106 Xem thêm: Lê Minh Hùng, Những nội dung cơ bản của phần thứ hai “Quyền sở hữu và các vật quyền khác”
– Dự thảo BLDS (sửa đổi), tài liệu hội nghị triển khai việc lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo BLDS (sửa đổi) tháng 3/2015, tr.51-52.
107 Điều 26 BLDS 2005
89
quyền tài sản, do được hiểu theo một nghĩa rất hẹp, không đủ sức đảm đương vai trò đối trọng của quyền nhân thân để trở thành tên gọi chung của tất cả các quyền không phải là quyền nhân thân108.
Dự thảo đã làm rõ hơn nội hàm khái niệm quyền tài sản theo đó “Quyền tài sản là quyền trị giá đƣợc bằng tiền và có thể là đối tượng trong quan hệ dân sự, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền khác.
Quyền tài sản đối với đối tƣợng sở hữu trí tuệ đƣợc quy định trong Bộ luật này và pháp luật về sở hữu trí tuệ. Quyền sử dụng đất đƣợc quy định trong Bộ luật này và Luật đất đai.”109 Một điểm nổi bật mà chúng ta có thể thấy rõ đối với khái niệm tài sản này là luật đã loại điều kiện phi lý đã tồn tại trong BLDS trước đây, đó là quy định quyền tài sản phải thỏa mãn điều kiện là “có thể chuyển giao được” thay bằng điều kiện “có thể là đối tượng trong quan hệ dân sự”. Sự thay đổi này là một bước tiến trong việc mở rộng khái niệm tài sản, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn cũng nhƣ lý luận. Bởi lẽ, với quy định của BLDS hiện hành thì nhiều quyền tài sản thực sự sẽ không đƣợc thừa nhận là quyền tài sản bởi vì thiếu dấu hiệu “có thể chuyển giao được” trong giao lưu dân sự.
Ngoài ra, với kết cấu tại phần thứ hai BLDS 2005 thì dường như nhà làm luật đã tách biệt rõ hai nội dung về tài sản và quyền sở hữu. Theo đó, quyền sở hữu và các vật quyền hạn chế không là đối tƣợng của tài sản. Điều này làm đã dẫn đến việc không thể lý giải bản chất “tài sản” của quyền sở hữu cũng nhƣ các vật quyền hạn chế (ví dụ:
quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà...). Theo quy định mới của Dự thảo thì quyền sở hữu và các vật quyền khác cũng có thể là đối của tài sản dưới dạng quyền tài sản.
Điều này sẽ tạo một hành lang pháp lý cho phép lý giải, thừa nhận một số tài sản vướng mắc về mặt lý luận (quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà...) hay một số loại tài sản có giá trị thực nhƣng không đƣợc pháp luật thừa nhận (tài sản “ảo” hình thành trong mạng trực tuyến...) nhằm đáp ứng những nhu cầu mang tính khách quan trong xã hội.
3.4 Bổ sung tài sản là bất động sản
Khi bàn về nội dung tài sản là bất động sản theo quy định tại BLDS 2005 một tác giả đã nhận xét: “Khi kết hợp cách phân loại giữa vật và quyền với cách phân loại giữa bất động sản và động sản, luật Việt Nam lại không tạo ra khái niệm quyền tài sản mang tính chất bất động sản. Nếu ta thừa nhận rằng việc phân loại giữa động sản và bất động sản áp dụng đối với tất cả các loại tài sản, thì quyền tài sản trong luật Việt Nam đều là động sản, do không có quyền tài sản nào được ghi nhận trong danh sách bất động sản. Hình như, trong suy nghĩ của những người soạn thảo BLDS, chỉ vật mới là động sản hay bất động sản; quyền không phải là vật, bởi vậy, không thể đặt vấn đề liệu quyền là động sản hay bất động sản.”110 Tất nhiên, vấn đề sẽ phức tạp hơn đối với tài sản là quyền sử dụng đất, bởi lẽ pháp luật Việt Nam chỉ xây dựng các quy
108 Nguyễn Ngọc Điện, Cần xây dựng lại khái niệm “quyền tài sản” trong luật dân sự, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 3 năm 2005.
109 Điều 132 Dự thảo
110 Nguyễn Ngọc Điện, Cần xây dựng lại khái niệm “quyền tài sản” trong luật dân sự, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 3 năm 2005.
90
định dựa trên đối tƣợng quyền sử dụng đối với đất đai chứ không phải là quyền sở hữu. Nhƣ cách thức tiếp cận của BLDS 2005 thì khó có thể nói chính xác quyền sử dụng đất là bất động sản.
Việc phân loại tài sản thành động sản và bất động sản của Dự thảo là không mới so với thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng bởi lẽ đây là cách phân loại truyền thống và khá phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, việc mở rộng nội hàm của bất động sản mà cụ thể là xác định thêm các đối tƣợng “vật quyền được xác lập đối với bất động sản”là một loại bất động sản lại tương đối mới mẻ so với BLDS hiện hành.
Quy định này đã góp phần giải quyết những vấn đề phức tạp phát sinh xung quanh việc giải quyết các quan hệ dân sự liên quan đến vật quyền xác lập đối với bất động sản trong lý luận cũng nhƣ thực tiễn. Nhƣng ở một khía cạnh khác lại cho thấy quy định này còn khá khái quát, chung chung mà chƣa xác định cụ thể những vật quyền đƣợc xác lập đối với bất động sản là một loại tài sản. Quyền sử dụng đất đã đƣợc quy định là bất động sản sẽ giải quyết đƣợc nhiều vấn đề pháp lý phức tạp liên quan vì đặc tính đặc biệt của loại tài sản này trong thực tiễn và lý luận tồn tài nhiều năm. Nhƣng nếu xem tất cả vật quyền được xác lập đối với bất động sản là tài sản thì liệu các vật quyền không có giá trị về mặt kinh tế có đƣợc xem là bất động sản? Ví dụ: quyền sử dụng lối đi qua bất động sản liền kề là quyền địa dịch và theo quy định của Dự thảo là vật quyền đƣợc xác lập đối với bất động sản. Tuy nhiên nếu xem quyền này là tài sản bất động sản thì về mặt lý luận và thực tiễn không thể đáp ứng đƣợc yếu tố về mặt giá trị kinh tế của tài sản. Hay quyền sử dụng nhà ở có là bất động sản dưới dạng vật quyền được xác lập đối với bất động sản hay chỉ là một hình thức sử dụng tài sản cũng sẽ là vấn đề mà Dự thảo cần làm rõ.
Hơn nữa các loại vật quyền theo quy định của Dự thảo lại tương đối hạn hẹp tại Điều 183 bao gồm: Quyền địa dịch; Quyền hưởng dụng; Quyền bề mặt; Quyền ưu tiên và các quyền khác theo quy định của luật cho thấy nhà làm luật vẫn còn khá do dự khi bó hẹp nội hàm của các loại vật quyền. Chính điều này về lâu dài sẽ khiến pháp luật trở nên thiếu tính dự đoán và ổn định.
Kiến nghị: Cần làm rõ hơn nội hàm các vật quyền đƣợc xác lập đối với bất động sản là một quyền tài sản bất động sản, cụ thể cần xác định rõ vật quyền nào đƣợc xem là quyền tài sản, vật quyền này không đƣợc xem là quyền tài sản. Ngoài ra, chúng ta nên xem xét mở rộng thêm các vật quyền khác tại Điều 183 Dự thảo để đáp ứng nhiều hơn yêu cầu của thực tiễn cũng như tính dựu liệu của luật trong tương lai.
Tóm lại, những quy định mới về tài sản trong Dự thảo BLDS (sửa đổi) về cơ bản đã đáp ứng đƣợc những kỳ vọng của lý luận và thực tiễn. Những quy định trên đã cơ bản khắc phục những hạn chế và bất cập trong việc xác định của BLDS hiện hành.
Với những thay đổi trên, tác giả hy vọng BLDS sẽ đƣợc sửa đổi, bổ sung phù hợp và đáp ứng yêu cầu phát triển một xã hội dân sự ngày một nhanh chóng và hiện đại.