VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI THÍCH “GIAO DỊCH DÂN SỰ”

Một phần của tài liệu Dự thảo bộ luật dân sự (sửa đổi 2015) (Trang 115 - 120)

1. Sự cần thiết phải giải thích “giao dịch dân sự”

Nhƣ đã trình bày, thể hiện ý chí là nội dung căn bản của giao dịch dân sự, do vậy cần thiết phải phân tích được rằng với thời điểm nào, với trường hợp nào thì có thể thừa nhận đƣợc sự tồn tại của thể hiện ý chí. Thể hiện ý chí đƣợc đƣa ra bên ngoài bằng phương thức duy nhất là hành vi thể hiện, nên chúng ta phải xác định những tình

140 Hoặc “tự định đoạt riêng tƣ”

- 113 -

tiết cụ thể được thể hiện ra bên ngoài của các đương sự. Sau đó, phân tích những tình tiết thể hiện đó để xem xét nó có ý nghĩa nhƣ thế nào liên quan đến hậu quả pháp lý.

Nhìn từ góc độ lý luận, việc xác định thể hiện ý chí đƣợc thực hiện nhƣ trên, tuy nhiên, phương pháp và tiêu chuẩn giải thích sẽ khác nhau giữa các loại “giao dịch dân sự”. Nếu là giao dịch dân sự có sự thể hiện ý chí song phương giữa hai chủ thể (hành vi pháp lý song phương) như hợp đồng thì đồng thời phải xem xét đến sự tin cậy và tin tưởng của đối phương đó141. Nếu là hành vi pháp lý đơn phương như di chúc thì không cần xem xét đến việc bảo vệ sự tin cậy của đối phương. Bởi vậy, tôi cho rằng: “Giải thích giao dịch dân sự” không có ý nghĩa nhiều về mặt lý luận mà nên phải xem xét theo từng nguyên nhân cụ thể trong từng chế định nhƣ “giải thích hợp đồng”, “giải thích di chúc”

2. Giải thích hợp đồng142

Hợp đồng là phương thức phổ biến để các chủ thể tự xác lập các quan hệ pháp luật, trong đó có quy định quyền lợi và nghĩa vụ cho mình theo nguyên tắc tự do và tự trị riêng tƣ. Do đó, giải thích hợp đồng phải là việc xác định ý nghĩa trong việc thể hiện ý chí của chủ thể nhằm khẳng định đƣợc hậu quả pháp lý căn cứ theo hợp đồng (giải thích hợp đồng theo nghĩa hẹp).

Tuy nhiên, các đương sự chưa hẳn đã thỏa thuận cho mọi vấn đề liên quan trong hợp đồng. Các đương sự có thể đã thỏa thuận về đối tượng bán và giá trị ngang giá bằng tiền mà người mua phải chi trả, song các đương sự có thể chưa thỏa thuận về những vấn đề khác liên quan nhƣ kỳ hạn trả tiền mua hàng, cách xử lý khi hàng hóa có khuyết tật v.v. Nên trong trường hợp nếu chỉ theo thể hiện của đương sự để đưa vào nội dung hợp đồng, tòa án phải bổ sung những phần chƣa đƣợc làm rõ (giải thích hợp đồng mang tính bổ sung).

Dưới đây, tôi sẽ trình bày về tiêu chí và phương pháp giải thích hợp đồng theo từng giai đoạn nêu trên.

2.1. Giải thích hợp đồng theo nghĩa hẹp

Trong việc giải thích hợp đồng theo nghĩa hẹp cũng có một số cách tiếp cận khác nhau. Sự khác nhau này chủ yếu bởi có sự tranh luận giữa hai cách đánh giá về hành vi thể hiện. Theo đó, có một quan điểm coi trọng về ý nghĩa xã hội khi giải thích ý nghĩa của hành vi thể hiện (giải thích khách quan), quan điểm khác thì tuy coi trọng ý nghĩa đƣợc thể hiện trong hành vi thể hiện nhƣng lại coi trọng mối quan hệ giữa hành vi thể

141Ở đây cũng cần lưu ý, các hợp đồng có đền bù như hợp đồng mua bán và hợp đồng không có đền bù nhƣ hợp đồng tặng cho cũng khác nhau. Với những hợp đồng có đền bù, thì việc bù đắp ngang giá cho nhau là nền tảng và quyền lợi của mỗi bên đều phụ thuộc vào sự thực hiện nghĩa vụ của bên kia nên việc xem xét đến việc bảo vệ sự tin cậy của đối phương là không thể bỏ qua, song với các hợp đồng không có đền bù thì không cần nghĩ đến việc bảo vệ sự tin cậy của người được tặng cho bởi người này không có nghĩa vụ bù đắp ngang giá.

142 Trong phần bài viết này, tôi phân tích về giải thích hợp đồng đối với một loại hợp đồng điển hình nhất là hợp đồng có đền bù.

- 114 -

hiện với ý nghĩa chủ quan của các bên đương sự (giải thích theo ý nghĩa chủ quan của đương sự). Dưới đây xin đưa ra một số ví dụ phân tích vấn đề này:

Ví dụ 1: X đã đặt mua 10 gross giấy vệ sinh từ Y. Theo ý nghĩa thông thường, 10 gross = 120 dozen=12 cuộn * 120 = 1,400 cuộn. Tuy nhiên X và Y đều đã hiều nhầm rằng 1 gross là một gói có 6 cuộn giấy vệ sinh.

Ví dụ 2: X đã đặt mua 10 gross giấy vệ sinh từ Y. Theo ý nghĩa thông thường, 10 gross = 120 dozen=12 cuộn * 120 = 1,400 cuộn. X thì đã hiểu 10 gross là 120 dozen, nhƣng Y thì đã hiểu nhầm rằng 1 gross là một gói có 6 cuộn.

Ví dụ 3: X đã đặt mua 10 gross giấy vệ sinh từ Y. Theo ý nghĩa thông thường, 10 gross = 120 dozen=12 cuộn * 120 = 1,400 cuộn. Tuy nhiên,X đã hiểu nhầm rằng 1 gross là một gói có 6 cuộn giấy vệ sinh. Còn Y cũng đã hiểu nhầm rằng 1 gross là 10 dozen. Cho nên Y đã giao 100 dozen= 12 cuộn *10 cuộn*10= 1,200 cuốn cho X.

(Giải thích khách quan)

Quan điểm này coi trọng về ý nghĩa xã hội khi giải thích ý nghĩa của hành vi thể hiện. Nội dung hợp đồng là sự nhất trí về thể hiện ý chí giữa các đương sự giao kết hợp đồng. Sự thống nhất của thể hiện ý chí trước hết phải xem xét từ việc xác định ý nghĩa của nội dung đƣợc thể hiện ra bên ngoài qua hành vi thể hiện. Khi đó, nội dung thể hiện ý chí đã thể hiện ra bên ngoài phải đƣợc xem xét phù hợp theo ý nghĩa chung của xã hội. Theo cách hiểu này, không cần quan tâm đến ý nghĩa chủ quan của các đương sự, mà chỉ cần tham chiếu cách hiểu của xã hội nói chung.

Theo đó, với cách giải thích khách quan, tất cả ví dụ nêu trên đều mang lại một kết quả chung là khẳng định có thỏa thuận giữa X và Y với nội dung là X mua 1,400 cuốn giấy vệ sinh từ Y (nhưng cần xem xét đến việc áp dụng sự nhầm lẫn với người có ý chí chủ quan khác với nội dung đã thỏa thuận).

(Giái thích khách quan có sửa đổi)

Nếu theo cách giải thích khách quan nêu trên, có những trường hợp hai bên đương sự có ý chí thống nhất, nhƣng ý nghĩa khách quan của hành vi thể hiện không đồng nhất với ý chí của đương sự thì đương sự phải chịu sự ràng buộc từ ý nghĩa khách quan đã được thể hiện. Trong trường hợp đó, giải thích khách quan cần thiết phải sửa đổi một phần tiêu chí của mình để chấp nhận áp dụng ý nghĩa chủ quan mà hai bên đương sự đã thống nhất (Giải thích khách quan có sửa đổi).

Theo cách giải thích khách quan có sửa đổi, thì ví dụ 1 sẽ khẳng định sự xác lập của thỏa thuận mang nội dung là X đã mua 60 cuộn giấy vệ sinh từ Y.

Ngoài ra, ví dụ 2, và ví dụ 3 đều đƣợc khẳng định có thỏa thuận giữa X và Y với nội dung là X mua 1,400 cuộn giấy vệ sinh từ Y (nhƣng cần xem xét đến việc áp dụng sự nhầm lẫn với người có ý chí chủ quan khác với nội dung đã thỏa thuận).

(Giải thích hợp đồng theo ý nghĩa chủ quan của đương sự)

- 115 -

Quan điểm này tuy coi trọng ý nghĩa đƣợc thể hiện trong hành vi thể hiện, song cũng coi trọng mối quan hệ giữa hành vi thể hiện với ý nghĩa chủ quan của các bên đương sự.

Cách giải thích này dựa trên nền tảng tạo nên hợp đồng, chính là ý chí của các bên đương sự, và khi đó hợp đồng chỉ có ý nghĩa là phương tiện thể hiện ý chí của các bên.

Vì thế giải thích hợp đồng không có ý nghĩa nếu xa rời với ý định mà các đương sự đã tuyên bố hành vi thể hiện hợp đồng. Do đó, việc quan tâm đến ý định chủ quan của đương sự là cần thiết để làm tiêu chuẩn trong giải thích hơp đồng.

Nếu ý định chủ quan mà hai bên đã tuyên bố qua hành vi thể hiện giống nhau, thì dù cách giải thích khách quan nhìn từ quan điểm xã hội có không phù hợp với ý định chủ quan của hai bên đương sự thì ý định đó vẫn được xác định là nội dung hợp đồng.

Trường hợp nếu ý định mà hai bên hướng tới trong hành vi thể hiện không giống nhau thì lấy cách giải thích của bên nào có tính chính đáng trong xã hội làm nội dung hợp đồng. Nếu ý nghĩa của cả hai bên đều chính đáng, hoặc ý nghĩa của mỗi bên đều không chính đáng trong xã hội thì không thể lấy cách giải thích của bên nào làm nội dung.

Trong trường hợp này hợp đồng không được xác lập vì nội dung hợp đồng không được xác định.

Theo cách giải thích hợp đồng nhƣ vậy, ví dụ 1 sẽ khẳng định đƣợc sự xác lập của thỏa thuận mang nội dung là X đã mua 60 cuộn giấy vệ sinh từ Y.

Ví dụ 2, thì X đã hiểu 10 gross là 120 dozen. Đây là cách hiểu thông thường trong xã hội và cách hiểu này mang tính chính đáng hơn, nên khẳng định đƣợc sự thỏa thuận rằng X đã mua 1,400 cuộn giấy vệ sinh từ Y.

Ở ví dụ 3, cách hiểu về 1 gross của X và Y đều không phải theo ý nghĩa đƣợc hiểu trong xã hội và không có bên nào có tính chính đáng nên coi nhƣ giữa X và Y chƣa nhất trí về nội dung mua bán nên hợp đồng này chƣa đƣợc xác lập.

Con người hành động hợp lý thường thể hiện ý chí của mình bằng cách thức được xã hội nói chung lấy làm chuẩn mực và sẽ thể hiện hành vi theo cách thông thường trừ khi có hoàn cảnh đặc biệt. Nên cách lý giải dưới góc nhìn xã hội phải là tiêu chuẩn quan trọng. Tuy nhiên, nếu có hoàn cảnh đặc biệt như hai bên đương sự đang sinh hoạt trong xã hội bộ phận mà trong xã hội bộ phận đó ấn định/quy ƣớc những ý nghĩa khác qua hành vi thể hiện nhất định, hoặc tùy theo mối quan hệ từ trước đến này của hai bên đương sự đã tạo thành một cách giải thích khác với quan điểm chung của xã hội thì lúc này, ý nghĩa đó đƣợc phải thừa nhận một cách ƣu tiên.

Theo đó, ở ví dụ 3, nếu X và Y đã từng giao dịch mua bán giấy vệ sinh nhiều lần với nhau và lúc đó hai bên đã giao dịch trên cơ sở cách hiểu về 1 gross là 10 dozen thì cách hiểu của Y có tính chính đáng trong hoàn cảnh đặc biệt. Lúc này, chúng ta khẳng đinh sự thỏa thuận rằng X đã mua 1.200 cuộn giấy vệ sinh.

Tóm lại, từ cách nhận định nêu trên có thể hiểu rằng nội dung hợp đồng phải đƣợc xác định bằng cách sao cho phù hợp với mục đích kinh tế, xã hội mà các bên đương sự muốn đạt được trong hoàn cảnh cụ thể của hợp đồng đó. Nói khác là không đươc tạo ra một ý nghĩa thứ ba mà các bên đương sự không nghĩ đến.

2.2. Giải thích hợp đồng mang tính bổ sung

- 116 -

Nhƣ đã định nghĩa trên đây, giải thích hợp đồng mang tính bổ sung là giải thích của Tòa án nhằm bù đắp cho những thỏa thuận còn thiếu của các bên đương sự. Giải thích mang tính bổ sung này phải đƣợc thực hiện trong một khuôn khổ nhất định bởi hợp đồng là phương tiện thể hiện ý chí của các bên đương sự và qua đó xây dựng mối quan hệ pháp luật trong luật tƣ. Với ý nghĩa đó, giải thích này phải bám sát hai nguyên tắc:

1 giải thích mang tính bổ sung chỉ đƣợc thực hiện sau khi đã thực hiện hết mọi việc trong giải thích hợp đồng theo nghĩa hẹp nhƣ đã trình bày trên và ○2 giải thích loại này cũng không đƣợc mang lại một ý nghĩa hay nội dung ngoài phạm trù ý chí của các bên đương sự trong hoàn cảnh giao dịch hợp đồng cụ thể đó.

Mặt khác, giải thích hợp đồng mang tính bổ sung phải đƣợc thực hiện sao cho có thể duy trì và bảo vệ được những ý nghĩa và hậu quả pháp lý mà các bên đương sự đã thỏa thuận tại các nội dung chính trong hợp đồng. Mục đích mà các bên đương sự đã nhằm hướng tới trong hợp đồng, cũng như những nội dung mà các bên đương sự đã thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng đƣợc xác định trong quá trình thực hiện giải thích hợp đồng theo nghĩa hẹp nêu trên. Đây là cơ sở để giả định ý chí của các bên đương sự cho các vấn đề pháp lý khác trong hợp đồng. Đối với các vấn đề chƣa đƣợc đề cập đến trong hợp đồng, đúng là các bên đương sự chưa thể hiện ý chí về các vấn đề đó, nhưng từ những cơ sở trên, chúng ta có thể giả đinh ý chí của các bên đương sự. Ý chí giả định đó không những không trái với ý chí của đương sự mà phù hợp cho ý chí của các bên đương sự khi giả định các bên đương sự đã biết sự cần thiết để xác định về những vấn đề đó.

Cơ sở pháp lý cho việc giải thích hợp đồng mang tính bổ sung, mối quan hệ giữa quy phạm tùy nghi và tập quán với giải thích hợp đồng mang tính bổ sung.

Trong hợp đồng, các bên đương sự có thể tạo ra nội dung hợp đồng theo ý chí tự do của mình. Nội dung hợp đồng này chỉ không đƣợc trái với điều cấm của luật, đạo đức xã hội, các nguyên tắc cơ bản, đồng thời có thể áp dụng tập quán nếu các bên không có thỏa thuận (Điều 4, Điều 6 và Điều 12 dự thảo BLDS sửa đổi). Theo đó, việc giải thích hợp đồng phải đƣợc thực hiện đầu tiên và ƣu tiên hơn mọi cách thức khác và khi không còn cách để làm rõ những quy định cần thiết trong hợp đồng bằng phương pháp giải thích hợp đồng, thì có thể áp dụng tập quán, hoặc quy phạm tùy nghi. Nếu không có tập quán thì áp dụng quy phạm tùy nghi đươc quy định trong BLDS. Giải thích hợp đồng mang tính bổ sung, cũng nhƣ tập quán và quy phạm tùy nghi đều có vai trò bổ sung cho nội dung hợp đồng khi các bên đương sự không có sự thể hiện ý chí của mình. Nhƣng khác nhau ở chỗ, tập quán và quy phạm tùy nghi là chế định pháp lý đƣợc quy định trong luật để mang lại sự bổ sung cho nội dung hợp đồng. Vây, giải thích hợp đồng mang tính bổ sung có cơ sở pháp lý chính đáng nào để thưc hiện trước khi áp dụng tập quán và quy phạm tùy nghi?

Hợp đồng là hành vi pháp lý, thể hiện ý chí thống nhất của các bên đương sự để đạt được mục đích của mình, là phương tiện xây dựng quan hệ pháp luật trên cơ sở nguyên tắc tự do và tự trị riêng tƣ. Do đó, nếu chúng ta giải thích cho các nội dung khác với nội dung chính mà các bên đương sự đã thống nhất bằng thể hiện ý chí của mình trong của hợp đồng thì chúng ta sẽ có thể duy trì và bảo vệ đƣợc những ý nghĩa và hậu quả pháp lý mà các bên đương sự đã thỏa thuận trong hợp đồng. Lúc này, dù nội dung đã đƣợc bổ sung đó mang nội dung khác với tập quán hay quy phạm tùy nghi chăng nữa,

- 117 -

đó vẫn phù hợp với ý nghĩa và lợi ích mà các bên đương sự mong muốn. Tập quán và quy phạm tùy nghi là quy phạm đƣợc tồn tại ngoài hợp đồng, nên nếu có cơ sở pháp lý để cho phép chúng ta giải thích hợp đồng mang tính bổ sung thì chúng ta nên thực hiện tối đa.

Vậy, cơ sở pháp lý để giải thích hợp đồng mang tính bổ sung là gì? Theo tôi, Điều 5 dự thảo BLDS là cơ sơ pháp lý để tòa án có thể giải thích hợp đồng mang tính bổ sung.

Trong quá trình xác lập và thực hiên hợp đồng, các bên phải thiện chí, trung thực.

Ngoài những ý chí đƣợc thể hiện rõ ràng ra bên ngoài thành thỏa thuận minh bạch, các bên đương sự phải chấp nhận mọi việc được ràng buộc trong quy phạm này. Khi hợp đồng là phương tiện để thực hiện tự trị hoặc tự do trong lĩnh vực luật tư, tòa án phải giải thích hợp đồng sao cho mọi việc được giải quyết gần với ý chí của các bên đương sự, đồng thời cũng phải giải thích hợp đồng sao cho phù hợp với quy phạm này. Điều 5 tuy được mô tả như quy phạm bắt buộc áp dụng cho các bên đương sự, nhưng vì đó là quy phạm các bên đương sự bị ràng buộc thì tòa án cũng phải xử lý điều khoản này sao cho các bên đương sự bị ràng buộc. Điều 157 của BLDS Đức có quy định rằng “Hợp đồng phải đƣợc giải thích theo yêu cầu của thiện chí, trung thực, và xem xét đến thực tiễn tập quán” cũng có thể đƣợc tham chiếu.

 Tập quán và quy phạm tùy nghi (Bổ sung hợp đồng theo quy phạm hợp đồng)

 Phân biệt giữa quy phạm bắt buộc và quy phạm tùy nghi.

Trong các quy phạm của BLDS có quy phạm bắt buộc và quy phạm tùy nghi. Quy phạm bắt buộc làm cho mọi thỏa thuận có nội dung khác với quy phạm đó trở nên vô hiệu. Quy phạm tùy nghi là quy phạm đươc áp dụng không ưu tiên so với thỏa thuận có nội dung khác với quy phạm đó(thỏa thuận có hiệu lực ƣu tiên hơn so với quy phạm tùy nghi).

 Vai trò của quy phạm tùy nghi trong việc bổ sung hợp đồng.

Quy phạm tuy nghi đóng vai trò bổ sung cho hợp đồng sau khi không còn cách để làm rõ những quy định cần thiết trong hợp đồng bằng cách giải thích hợp đồng. Lúc đó, nội dung của quy phạm tùy nghi có thể đƣợc bổ sung thành nội dung trong hợp đồng.

 Vai trò của tập quán

Tập quán cũng là quy phạm đƣợc pháp luật thừa nhận để bổ sung vào hợp đồng khi có vấn đề pháp lý nào đó trong hợp đồng chƣa đƣợc thỏa thuận. Tập quán có vai trò mật thiết với sinh hoạt dân sự của đương sự hơn là quy phạm tùy nghi, nên theo tôi hiểu rằng tập quán nên phải đƣợc áp dụng ƣu tiên hơn quy phạm tùy nghi.

Một phần của tài liệu Dự thảo bộ luật dân sự (sửa đổi 2015) (Trang 115 - 120)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(165 trang)