Những điểm mới trong Dự thảo về các quyền nhân thân cụ thể

Một phần của tài liệu Dự thảo bộ luật dân sự (sửa đổi 2015) (Trang 41 - 51)

Trong các quyền nhân thân đƣợc quy định trong BLDS 2005, có những quyền đƣợc Dự thảo giữ nguyên, không thay đổi; có những quyền đã đƣợc Dự thảo sửa đổi, bổ sung nên trong bài viết tác giả chỉ tập trung vào những quyền có sự thay đổi giữa BLDS 2005 và Dự thảo, nêu ra những điểm mới và đánh giá sự thay đổi này; các quyền không có sự thay đổi thì tác giả sẽ không đề cập đến.

a) Quyền đối với họ tên, thay đổi họ tên (Điều 26, 27 BLDS 2005 và Điều 31, 32 Dự thảo):

Dự thảo vẫn quy định quyền đối với họ, tên và quyền thay đổi họ, tên ở hai điều luật khác nhau (Điều 31 và Điều 32 Dự thảo) nhƣ BLDS 2005, nhƣng đã có những sửa đổi, bổ sung trong nội dung hai điều luật này so với hiện tại.

Cụ thể, Điều 31 Dự thảo quy định “quyền đối với họ, tên” đã bổ sung thêm một khoản mới đó là khoản 2, quy định rằng: “Họ của cá nhân đƣợc xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ; nếu không có thỏa thuận thì họ của con được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo tập quán. Trường hợp chưa xác định đƣợc cha đẻ, mẹ đẻ, thì họ của cá nhân do pháp luật về hộ tịch hoặc nuôi con nuôi quy định”. Quy định này trong BLDS 2005 không tồn tại, BLDS 2005 chỉ quy định rằng họ, tên của một người sẽ được xác định theo họ, tên khai sinh của người đó.

Nhưng quy định này không đủ để giải quyết các vướng mắc trên thực tế liên quan đến việc xác định họ cho đứa trẻ. Cho nên, cần thiết phải công nhận thỏa thuận của cha mẹ là ưu tiên hàng đầu, sau đó sẽ xác định theo tập quán địa phương.

Ngoài ra, khoản 3 Điều 31 Dự thảo cũng sửa đổi khoản 3 Điều 26 BLDS 2005 là “Việc đặt tên, sử dụng bí danh, bút danh không đƣợc trái với đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc”.5 Quy định hiện tại của BLDS 2005 chỉ mới đặt ra vấn đề bí danh, bút danh của một người gây thiệt hại cho người khác, nhưng thực tế đã phản ánh tình trạng rất phổ biến hiện nay là việc đặt tên cũng gây ảnh hưởng xấu cho xã hội, vì nội dung tên đó trái với đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục hay gây thiệt hại cho lợi ích quốc gia. Vì vậy, sửa đổi nhƣ Dự thảo là phù hợp.

Đối với “quyền thay đổi họ, tên”, Điều 32 Dự thảo có hai sự thay đổi quan trọng so với Điều 27 BLDS 2005 tương ứng. Một là, Dự thảo đã tách trường hợp “thay đổi họ cho con từ họ của cha sang họ của mẹ hoặc ngƣợc lại” (điểm d khoản 1 Điều 27 BLDS 2005) thành hai trường hợp cụ thể hơn là: “Thay đổi họ cho con đẻ từ họ của cha đẻ sang họ của mẹ đẻ hoặc ngƣợc lại” (điểm d khoản 1 Điều 32 Dự thảo) và “Thay đổi họ cho con nuôi từ họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ sang họ của cha nuôi hoặc mẹ nuôi”

(điểm đ khoản 1 Điều 32 Dự thảo). Tuy nhiên, việc sửa đổi này của Dự thảo gây ra một vấn đề là: tại điểm b khoản 1 Điều 32 có quy định trường hợp “theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi về việc thay đổi họ, tên cho con nuôi” – quy định này giữ nguyên từ BLDS 2005. Sau đó, điểm đ – là quy định mới của Dự thảo – lại quy định trường hợp

“thay đổi họ cho con nuôi từ họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ sang họ của cha nuôi hoặc mẹ nuôi”. Liệu rằng hai quy định này có phải là hai trường hợp khác nhau không? Vì tác giả cho rằng khi cha nuôi, mẹ nuôi yêu cầu thay đổi họ, tên của con nuôi, thì cũng bao

5 Phần in nghiêng là phần sửa đổi của Dự thảo so với BLDS 2005.

39

gồm cả trường hợp thay đổi họ của con nuôi từ họ cũ (là họ của cha đẻ, mẹ đẻ) sang họ của cha nuôi, mẹ nuôi. Nghĩa là, quy định của điểm b khoản 1 thực chất cũng bao gồm trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1, như vậy việc sửa đổi của Dự thảo là không cần thiết. Cho nên, nếu Dự thảo theo hướng bổ sung thêm điểm đ nhằm điều chỉnh một trường hợp khác thì cần xem xét lại câu chữ, cách quy định hiện nay dễ gây hiểu sai nhƣ tác giả vừa phân tích.

Hai là, Dự thảo bổ sung thêm một trường hợp thay đổi họ, tên tại điểm g, khoản 1 Điều 32, là “Thay đổi họ theo họ của vợ, của chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để phù hợp với pháp luật của nước mà vợ, chồng người nước ngoài là công dân hoặc lấy lại họ trước khi thay đổi họ theo họ của vợ, chồng là người nước ngoài”. BLDS 2005 hiện hành không tồn tại trường hợp này. Đây là sự thay đổi tiến bộ và phù hợp với thực tiễn, khi hoàn cảnh Luật Nuôi con nuôi của chúng ta đã có hiệu lực được vài năm và những đứa trẻ Việt Nam được người nước ngoài nhận nuôi ngày càng nhiều, thì bổ sung quy định này sẽ thuận tiện hơn cho việc nhận con nuôi.

b) Quyền xác định dân tộc (Điều 28 BLDS 2005 và Điều 33 Dự thảo):

Điều 33 Dự thảo quy định về quyền xác định lại dân tộc có ba sự thay đổi so với BLDS 2005:

Thứ nhất, Dự thảo bổ sung thêm quy định “Cá nhân có quyền xác định dân tộc của mình” vào khoản 1 Điều 33. Quy định này BLDS 2005 hiện hành không tồn tại.

Sự bổ sung này là cần thiết vì trước khi quy định nội dung quyền này như thế nào BLDS cần phải khẳng định đây là quyền mà cá nhân có, và cách quy định này cũng tương thích với các điều luật khác, trước hết cũng khẳng định quyền cá nhân có sau đó mới quy định cụ thể.

Thứ hai, khoản 1 Điều 28 BLDS 2005 quy định: “Cá nhân khi sinh ra đƣợc xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ. Trong trường hợp cha đẻ và mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của người con được xác định là dân tộc của cha đẻ hoặc dân tộc của mẹ đẻ theo tập quán hoặc theo thoả thuận của cha đẻ, mẹ đẻ”. Còn khoản 2 Điều 33 Dự thảo sửa đổi theo hướng là “… Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của con đƣợc xác định theo thỏa thuận của cha mẹ, nếu không có thỏa thuận thì xác định dân tộc của con theo tập quán. Việc xác định dân tộc của cá nhân bị bỏ rơi, cá nhân được nhận làm con nuôi được áp dụng theo pháp luật về hộ tịch và nuôi con nuôi”.6 Nhƣ vậy, theo Dự thảo thì căn cứ đầu tiên để xác định dân tộc cho con, trong trường hợp dân tộc của cha đẻ mẹ đẻ khác nhau, là

“thỏa thuận của cha mẹ”; khi không có thỏa thuận mới dựa vào tập quán. Và cách quy định này hoàn toàn ngƣợc lại với quy định của BLDS 2005 hiện tại, căn cứ vào tập quán trước mới đến thỏa thuận của cha mẹ. Tác giả ủng hộ quy định của Dự thảo hơn, vì dù sao đây cũng là con do cha mẹ sinh ra nên việc xác định dân tộc cho đứa trẻ nên tôn trọng thỏa thuận của cha mẹ trước hết. Bên cạnh đó, Dự thảo cũng lần đầu đề cập đến trường hợp xác định dân tộc cho cá nhân bị bỏ rơi, được nhận làm con nuôi giải quyết theo pháp luật về hộ tịch và nuôi con nuôi.

6 Phần in nghiêng là phần sửa đổi của Dự thảo so với BLDS 2005.

40

Thứ ba, Dự thảo cũng bổ sung thêm một khoản mới hoàn toàn so với BLDS 2005 là khoản 5 “Cấm lạm dụng việc xác định lại dân tộc để hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước”. Việc bổ sung thêm quy định này của Dự thảo là rất có ý nghĩa, phù hợp với thực tiễn và ngăn chặn đƣợc tình trạng thay đổi dân tộc để trục lợi chứ không phải vì ý thức phát huy, bảo vệ bản sắc, truyền thống của các dân tộc ít người...

c) Quyền được khai sinh, quyền được khai tử (Điều 29, 30 BLDS 2005 và Điều 34 Dự thảo):

Hai quyền này trong Dự thảo không có sự thay đổi gì về mặt nội dung, chỉ có thay đổi về hình thức. Nghĩa là, theo BLDS 2005 thì hai quyền này đƣợc quy định ở hai điều luật khác nhau là Điều 29 và Điều 30, còn Dự thảo đã gộp lại quy định chung hai quyền này trong một điều luật là Điều 34:

1. Cá nhân khi sinh ra có quyền được khai sinh.

2. Khi có người chết thì người thân thích, chủ nhà hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác nơi có người chết phải khai tử cho người đó.

3. Trẻ sơ sinh, nếu chết sau khi sinh thì phải được khai sinh và khai tử; nếu chết trước khi sinh hoặc sinh ra mà chết ngay thì không phải khai sinh và khai tử.

4. Việc khai sinh, khai tử do pháp luật về hộ tịch quy định.”

Đây là hai quyền có mối liên hệ chặt chẽ, gắn liền nhau nên việc quy định chung trong một điều luật là hoàn toàn thích hợp và giúp cho BLDS ngắn gọn hơn.

d) Quyền của cá nhân đối với hình ảnh (Điều 31 BLDS 2005 và Điều 36 Dự thảo):

Quyền của cá nhân đối với hình ảnh giữa BLDS 2005 và Dự thảo không có sự thay đổi nhiều, Dự thảo chỉ có một sự sửa đổi quan trọng là đã bỏ đi quy định tại khoản 3 Điều 31 BLDS 2005 là “Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh”. Việc không quy định điều này không có nghĩa là cho phép sử dụng hình ảnh của người khác, xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín người đó. Chỉ là thực trạng hiện nay khi công nghệ phát triển quá mạnh, con người sử dụng phương tiện truyền thông và mạng xã hội ngày càng phổ biến thì việc sử dụng (copy, down load, share…) hình ảnh của người khác trên internet là bộ phận không thể thiếu và không thể ngăn cản đƣợc. Tác giả cho rằng nên bỏ quy định này để phù hợp với thực tiễn, còn trong trường hợp chủ nhân của hình ảnh cho rằng có người sử dụng hình ảnh mình gây ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì có thể sử dụng “quyền đƣợc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín”

(Điều 37 BLDS 2005 và Điều 38 Dự thảo) để áp dụng các biện pháp bảo vệ. Vì vậy, quy định này không nên tồn tại trong điều luật về quyền của cá nhân đối với hình ảnh.

đ) Quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể (Điều 32 BLDS 2005 và Điều 37 Dự thảo):

Nếu trong Điều 32 BLDS 2005 chỉ quy định về một quyền là quyền đƣợc bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể thì Điều 37 Dự thảo quy định hai quyền:

quyền sống và quyền đƣợc bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể. Sự thay đổi này đã đƣợc thể hiện ngay từ chính tiêu đề của điều luật, và đây là lần đầu tiên BLDS quy định về “quyền sống” của cá nhân. Việc bổ sung “quyền sống” trong Dự

41

thảo là một điều rất tiến bộ, phù hợp với Hiến pháp 2013, các điều ƣớc quốc tế mà Việt Nam là thành viên, và phù hợp với sự phát triển của xã hội – khi thời điểm các quyền của con người cần được xem xét và công nhận ngày càng nhiều. Quy định tại khoản 1 Điều 37 của Dự thảo đã cụ thể hóa quy định của Điều 19 Hiến pháp 2013,7 thể hiện thông qua quyền đƣợc bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể – một quyền bộ phận của quyền sống.

Bên cạnh đó, Dự thảo cũng có một số sửa đổi liên quan đến quyền đƣợc bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể của cá nhân. Cụ thể:

Thứ nhất, khoản 3 Điều 32 BLDS 2005 quy định “Việc thực hiện phương pháp chữa bệnh mới trên cơ thể một người, việc gây mê, mổ, cắt bỏ, cấy ghép bộ phận của cơ thể phải được sự đồng ý của người đó; nếu người đó chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc là bệnh nhân bất tỉnh thì phải đƣợc cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người giám hộ của người đó đồ ý; trong trường hợp có nguy cơ đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân mà không chờ được ý kiến của những người trên thì phải có quyết định của người đứng đầu cơ sở y tế.” Và khoản 3 Điều 37 Dự thảo đã sửa đổi, bổ sung là: “Việc thực hiện kỹ thuật, phương pháp khám, chữa bệnh mới trên cơ thể người; việc gây mê, mổ, cắt bỏ, cấy ghép , bộ phận cơ thể người; việc thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất cứ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải được sự đồng ý của người đó; nếu người đó chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc là bệnh nhân bất tỉnh thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người giám hộ của người đó đồng ý; trường hợp có nguy cơ đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân mà không chờ được ý kiến của những người nêu trên thì phải có quyết định của người đứng đầu cơ sở y tế.”8

Thứ hai, khoản 4 Điều 32 BLDS 2005 quy định các trường hợp “mổ tử thi”, nhƣng Dự thảo sửa lại không dùng từ “mổ” mà dùng từ “khám nghiệm tử thi”. Cũng tại khoản 4 điều này, BLDS 2005 quy định trường hợp được mổ tử thi “theo quyết định của tổ chức y tế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp cần thiết”.

Nhƣng khoản 4 Điều 37 Dự thảo đã sửa đổi là “theo quyết định của người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp luật định”.9 Việc sửa đổi của Dự thảo trong trường hợp này là chính xác. Sử dụng thuật ngữ “khám nghiệm tử thi” phù hợp với pháp luật về y tế hơn, và quy định đƣợc mổ tử thi trong trường hợp cần thiết là quá chung chung, cảm tính, khó đánh giá được như thế nào là sự cần thiết, sẽ dẫn đến tùy tiện trong thực thi. Vì vậy, sửa đổi thành “trong trường hợp luật định” thì đúng đắn hơn – chỉ trong trường hợp cụ thể do pháp luật quy định mới đƣợc “khám nghiệm tử thi”.

e) Quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể và hiến xác (Điều 33, 34, 35 BLDS 2005 và Điều 39 Dự thảo):

Trước hết, về mặt kỹ thuật, Dự thảo đã gộp ba điều luật của BLDS 2005 quy định về quyền hiến bộ phận cơ thể (Điều 33), quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi

7 Điều 19 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ ạng trái luật”.

8 Phần in nghiêng là phần sửa đổi của Dự thảo so với BLDS 2005.

9 Phần in nghiêng là phần sửa đổi của Dự thảo so với BLDS 2005.

42

chết (Điều 34), quyền nhận bộ phận cơ thể người (Điều 35) thành một điều luật chung là Điều 39 quy định về quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể và hiến xác. Sự thay đổi này chắc chắn là cần thiết, dễ hiểu và logic hơn.

Trong quyền này, Dự thảo đã bổ sung một vấn đề quan trọng so với BLDS 2005 là việc hiến, nhận không chỉ với bộ phận cơ thể người, hay xác mà còn có hiến, nhận “mô”.10 Sự bổ sung này của Dự thảo hoàn toàn chính xác, phù hợp với Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006. Ngoài ra, Dự thảo còn bổ sung thêm vào Điều 39 quy định: “Tổ chức nghiên cứu khoa học có quyền nhận bộ phận cơ thể người, nhận xác để thử nghiệm y học, dược học và các nghiên cứu khoa học khác” (khoản 2); và “Thỏa thuận về hiến và nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác vì mục đích nhân đạo hoặc nghiên cứu y học, dƣợc học và các nghiên cứu khoa học khác đƣợc công nhận. Mọi thỏa thuận có mục đích khác trong sử dụng mô, bộ phận cơ thể người hoặc xác của người đã chết đều vô hiệu” (khoản 3). Tuy nhiên, tác giả cho rằng quy định liên quan đến “thỏa thuận về hiến và nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác” tại khoản 3 Điều 39 cần được sửa đổi ngắn gọn hơn nhưng vẫn thể hiện được mục đích quan trọng của việc hiến và nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác. Chẳng hạn có thể quy định theo hướng: “Việc hiến và nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác phải vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học; không nhằm mục đích thương mại”. Quy định như vậy đơn giản hơn nhƣng vẫn thể hiện đƣợc bản chất của quyền này tại Việt Nam và còn phù hợp với Điều 4 Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006.

Cuối cùng, bởi vì quyền này đã đƣợc quy định cụ thể, chi tiết trong một văn bản luật chuyên ngành là Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 nên Điều 39 Dự thảo bổ sung thêm khoản 4 quy định rằng “Việc hiến và nhận mô, bộ phận cơ thể, hiến xác đƣợc thực hiện theo Bộ luật này và Luật hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác” là hoàn toàn chính xác.

g) Quyền xác định lại giới tính (Điều 36 BLDS 2005 và Điều 40 Dự thảo):

Đây là quyền có sự thay đổi khá nhiều giữa BLDS 2005 và Dự thảo do kết quả của sự phát triển kinh tế, và nhu cầu của xã hội.

Trước hết, Dự thảo khẳng định “quyền xác định lại giới tính” chỉ dành cho cá nhân là người đã thành niên (tức đủ 18 tuổi trở lên). Ngoại lệ, đối với người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thực hiện quyền này thông qua yêu cầu của người đại diện theo pháp luật và chỉ trong các trường hợp do luật quy định (khoản 1, 2 Điều 40 Dự thảo). Sự thay đổi này hoàn toàn khác so với BLDS 2005. Điều 36 BLDS 2005 quy định chung là “Cá nhân có quyền đƣợc xác định lại giới tính”, không đƣa ra điều kiện về độ tuổi nên chúng ta hiểu rằng bất kì cá nhân ở độ tuổi nào, trong tình trạng nào cũng có thể thực hiện quyền này, vậy đối với những người trong tình trạng đặc biệt như chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì thực hiện ra sao? Do vậy, sửa đổi của Dự thảo là rất ý nghĩa và quan trọng.

Thứ hai, Dự thảo quy định việc xác định lại giới tính của cá nhân đƣợc thực

10 Theo khoản 1 Điều 3 Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác thì “ là tập hợp các tế bào cùng một loại hay nhiều loại khác nhau để thực hiện các chức năng nhất định của cơ thể người”.

Một phần của tài liệu Dự thảo bộ luật dân sự (sửa đổi 2015) (Trang 41 - 51)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(165 trang)