Hạn chế năng lực hành vi dân sự đối với cá nhân, cần thiết hay không cần thiết?

Một phần của tài liệu Dự thảo bộ luật dân sự (sửa đổi 2015) (Trang 51 - 55)

Trước hết, cần xác định, mặc dù Khoản 1 Điều 28 Dự thảo BLDS 2015 không đề cập một cách cụ thể những ai có thể bị tuyên bố hạn chế NLHVDS (ngoài điều kiện bị nghiện ma túy và có hành vi phá tán tài sản), tuy nhiên, cần xác định rằng tình trạng này chỉ áp dụng đối với người đã thành niên (từ đủ 18 tuổi trở lên). Lý do rất đơn giản vì rằng với nhóm đối tượng này, nếu là người chưa thành niên đã được chăm sóc và bảo vệ bởi cha, mẹ hoặc người giam hộ, do đó việc tuyên bố hạn chế NLHV để kiểm soát các giao dịch về tài sản của người này là không cần thiết đặt ra, dù rằng người chƣa thành niên vẫn có thể bị rơi vào tình trạng nghiện ma túy hoặc các chất kích thích khác (thậm chí đây là nhóm đối tƣợng dễ bị nghiện nhất trong thực tiễn xã hội).

Vậy, người bị hạn chế NLHVDS là những người đã thành niên. Luật Dân sự Việt Nam đặt họ vào trong tình trạng hạn chế NLHVDS tức là tình trạng phải đƣợc bảo vệ bởi người khác (là người đại diện) trong việc tham gia vào các giao dịch. Câu hỏi đặt ra là mục đích của việc tuyên bố hạn chế NLHVDS là để làm gì? Ngay câu đầu tiên của quy định đã xác định “Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình”, nhƣ vậy, mục đích của tuyên bố hạn chế NLHVDS rất rõ ràng, đó là nhằm ngăn chặn hành vi ”phá tán tài sản của gia đình”. Để hiểu rõ về bản chất của quy định này, ta cần phân tích một vài dữ kiện. Thứ nhất ”phá tán tài sản”

là gì? Bản thân từ ”phá tán” không đƣợc định nghĩa trong từ điển tiếng Việt, tuy nhiên có thể suy ra từ định nghĩa về ”phá”. ”Phá” là làm cho tan vỡ, hƣ hỏng, cho không còn tồn tại nhƣ cũ nữa4. Theo cách định nghĩa này, có thể hiểu phá tán tài sản của gia đình là việc người bị nghiện ma túy làm tiêu tán đi tài sản của gia đình để thỏa mãn cơn nghiện của mình, làm cho tài sản nhanh chóng bị tiêu tán hết. Thứ hai, việc ”phá tán”

4 Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học Vietlex, NXB Đà Nẵng, 2010

49

ti sản tác động đến tài sản của ai? Câu trả lời khá rõ ràng, đó là tài sản của ”gia đình”.

Để ngăn chặn hành vi phá tán tài sản của gia đình là mục đích của việc tuyên bố hạn chế NLHVDS đối với cá nhân.

Nhƣ vậy, mục đích của tuyên bố hạn chế NLHVDS đối với cá nhân là nhằm đặt các giao dịch về tài sản của người bị hạn chế NLHVDS dưới sự kiểm soát của người đại diện. Khoản 2 Điều 28 Dự thảo quy định ” . Người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện do Toà án quyết định.

Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ hành vi nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật có quy định khác”. Nếu sự kiểm soát đặt ra đối với tất cả các giao dịch về tài sản (bao gồm cả tài sản của chính người bị nghiện và cả tài sản của gia đình) thì sự “lo lắng” của nhà làm luật thể hiện ở khoản 1 chỉ là lo lắng cho sự “phá tán tài sản của gia đình”. Có thể thấy, với các quy định này, tinh thần của điều luật là không rõ ràng. Tuy nhiên điều đáng bàn ở đây là sự cần thiết của chế định tuyên bố hạn hế NLHVDS của cá nhân để nhằm mục đích bảo vệ tài sản của gia đình (chứ không phải là tài sản riêng của bản thân người bị nghiện). Có thể phân tích qua vài khía cạnh nhƣ sau:

Thứ nhất, nếu người bị nghiện ma túy hoặc các chất kích khác là người thành niên đã kết hôn và quan hệ hôn nhân vẫn đang duy trì. Trong thời kỳ hôn nhân tồn tại cả tài sản riêng và tài sản chung của vợ chồng, tài sản “của gia đình” theo tinh thần của Điều 28 Dự thảo ắt hẳn phải là tài sản chung của vợ chồng. Nếu người nghiện ma túy xác lập các giao dịch liên quan đến tài sản chung mà không đƣợc sự đồng ý của vợ, chồng của mình thì theo quy định tại Điều 13 Nghị định 126/CP (2014) hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì “Trong trường hợp vợ hoặc chồng định đoạt tài sản chung vi phạm quy định tại Khoản 2 Điều 35 của Luật Hôn nhân và gia đình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu”5. Như vậy, trong trường hợp này chồng, vợ của người bị nghiên ma túy có thể lấy lại tài sản chung của vợ chồng từ hiệu lực của quyết định tuyên bố vô hiệu của Tòa án, không cần phải yêu cầu tuyên bố hạn chế NLHVDS. Còn nếu giao dịch về tài sản của người bị nghiện là việc vay mượn tài sản để phục vụ cho việc thỏa mãn cơn nghiện thì nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch này hoàn toàn không liên quan đến nhu cầu chung của gia đình nên chỉ có thể xem đó là nghĩa vụ riêng và phải đảm bảo thanh toán bằng tài sản riêng của người đó. Như vậy, suy cho cùng, việc một người trong số hai vợ chồng lâm vào tình trạng bị nghiện ma túy hoặc các chất kích thích khác thì người chồng hoặc vợ còn lại hoàn toàn có thể bảo vệ sự an toàn cho tài sản của gia đình bằng các công cụ pháp lý hiện có mà không cần dùng đến quy định về tuyên bố hạn chế NLHVDS.

5 Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về việc Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung 1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.

50

Thứ hai, trường hợp người đã thành niên lâm vào tình trạng nghiện ma túy hoặc các chất kích thích khác là người chưa kết hôn và còn sống chung với gia đình (cha, mẹ, anh, chị em...). Nếu người này xác lập các giao dịch tài sản trên tài sản của gia đình (cụ thể là tài sản của cha, mẹ hoặc anh, chị, em), chỉ cần là tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác và không được sự đồng ý của chủ sở hữu trong việc xác lập giao dịch thì chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản tùy từng trường hợp trong khuôn khổ áp dụng Điều 257 hoặc 258 BLDS 2005 (Điều 187 Dự thảo BLDS 2015). Cũng tương tự như giải pháp đối với trường hợp vay, mượn tài sản nêu trên, nếu người bị nghiện đi vay, mƣợn tài sản thì nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng vay, mƣợn này là nghĩa vụ riêng và bên có quyền chỉ có thể yêu cầu thực hiện nghĩa vụ từ người vay mà cũng không thể động đến tài sản của gia đình.

Từ hai trường hợp đã phân tích trên. Có thể thấy rằng với các quy định hiện hành (và quy định trong dự thảo BLDS 2015) đã có thể giúp bảo vệ tốt tài sản của gia đình trong trường hợp một thành viên trong gia đình rơi vào tình trạng bị nghiện ma túy hoặc các chất kích thích khác. Và rằng, quy định về việc tuyên bố một người bị hạn chế NLHVDS hoàn toàn không cần thiết nếu đặt ra với mục đích như trên. Người thứ ba giao dịch về tài sản với người bị nghiện ma túy dù có ý định trục lợi từ tình trạng bị nghiện của người này hay không đều bị đặt trong tình trạng phải biết rằng người mình đang giao dịch là người bị nghiện (để có quyết định cho hay không cho vay mượn tài sản để thỏa mãn cơn nghiện) và có quyền xác lập các giao dịch về tài sản hay không.

Yêu cầu này là hoàn toàn bình thường đối với một chủ thể trong giao dịch dân sự để tránh tình trạng rủi ro do giao dịch mang lại.

Các phân tích trên đây chỉ đúng với những giao dịch về tài sản của “gia đình”

theo cách quy định của luật Dân sự. Ngoài các tài sản này, thực tế tài sản riêng của người bị nghiện sẽ là tài sản đầu tiên “ra đi” trong bối cảnh nghiện của người này.

Vậy có cần thiết phải bảo vệ tài sản của người này bằng việc đặt người này trong tình trạng bị hạn chế NLHVDS ? thứ nhất, cần hình dung tình trạng bị nghiện ma túy hoặc các chất kích thích khác không phải là tình trạng “khiếm khuyết” về thể chất và tinh thần mà chỉ là “ham thích đến mức thành thói quen khó bỏ”6. Điều đó có nghĩa là, tình trạng bị nghiện này có thể chấm dứt do sự nỗ lực của chính người nghiện và nó là kết quả của hành vi (sử dụng ma túy) của người này. Có nghĩa là nó là kết quả của hành vi hoàn toàn chủ quan của người nghiện. Người này đã tự đặt mình vào tình trạng bị nghiện. Thứ hai, rất quan trọng, tình trạng bị nghiện và cần đặt trong tuyên bố hạn chế NLHVDS chỉ cần thiết đặt ra đối với người đã thành niên. Một người đã thành niên, hoàn toàn tỉnh táo lúc bắt đầu quyết định sử dụng ma túy hoặc các chất kích thích khác, vậy người này phải tự chịu trách nhiệm với hành vi mà mình thực hiện, bao gồm luôn cả hành vi tự đặt mình vào tình trạng bị nghiện.

Từ các phân tích này có thể thấy, hoàn toàn không cần thiết phải tuyên bố hạn chế NLHVDS của một người với mục đích là để bảo vệ tài sản của chính người đó trong các giao dịch với người khác.

Tóm lại, để bảo vệ khối tài sản của gia đình, tài sản chung của vợ, chồng của người bị nghiện, trên cơ sở các quy định khác của BLDS và luật Hôn nhân và gia đình

6 Hoàng Phê, Từ điển Tiếng Việt 2010, NXB Đà Nẵng, Tr. 874.

51

ta đã có thể đạt được mục đích này. Còn việc bảo vệ tài sản của chính bản thân người nghiện ma túy hoặc các chất kích thích khác thì thật sự không cần thiết vì người này là người đầu tiên phải tự chịu trách nhiệm với các giao dịch mà mình thực hiện trong điều kiện là người đã thành niên và không bị mắc các bệnh hoặc không ổ trong tình trạng bị các khiếm khuyết về thể chất và tinh thần để cần thiết đƣợc bảo vệ bằng các quy định của pháp luật về tuyên bố hạn chế NLHVDS. Do đó, theo quan điểm chủ quan, chúng tôi cho rằng các quy định về tuyên bố hạn chế NLHVDS không cần thiết đƣợc đặt ra trong Dự thảo BLDS 2015 để không bị thừa và cũng để pháp luật Việt Nam không có một tình trạng NLHVDS xa lạ với pháp luật của các nước khác.

Mặt khác, chúng tôi cho rằng, quy định mới của Dự thảo tại Điều 29 về tình trạng NLHV của người có khó khăn về nhận thức, làm chủ hành vi của mình (như nhóm khuyết tật về thể chất do câm, mù, điếc, hoặc kết hợp các tình trạng khiếm khuyết này) thực sự cần thiết đặt trong tình trạng cần đƣợc bảo vệ về quyền và lợi ích hợp pháp. Tuy nhiên, quy định tại Điều 29 khoản 1 Dự thảo có vẻ chƣa rõ ràng lắm vì

“Người do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình nhƣng chƣa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của họ, người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, tổ chức y tế có thẩm quyền xác nhận người đó là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”, quy định này mới chỉ nói một nửa vấn đề, đó là “tổ chức ý tế có thẩm quyền xác nhận người đó...”, xác nhận này không phải là mục đích cuối cùng mà phải là “để được Tòa án cử người đại diện” tham gia vào các giao dịch mà người này cần xác lập.

52

QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ

Nguyễn Thị Hoài Trâm* Huỳnh Quang Thuận**

Một phần của tài liệu Dự thảo bộ luật dân sự (sửa đổi 2015) (Trang 51 - 55)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(165 trang)