III. GÓP Ý CHO DỰ THẢO BỘ LUẬT DÂN SỰ SỬA ĐỔI VỀ MỘT SỐ VẤN
2. Góp ý về các vấn đề liên quan đến tập quán và quy phạm tùy nghi
2.1. Những tồn tại trong quy định về tập quán và quy phạm tùy nghi trong Dự thảo Dự thảo hiện nay chƣa làm rõ về một số vấn đề về quy phạm tùy nghi cũng nhƣ về tập quán nhƣ sau:
○
1Chƣa định nghĩa về quy phạm bắt buộc và quy phạm tùy nghi, cũng nhƣ vai trò pháp lý của hai loại quy phạm đó.
Điều 4 dự thảo quy định về cam kết và thỏa thuận phải “không vi phạm điều cấm của luật”. Ở đây, nên phải làm rõ ràng quy phạm bắt buộc có đƣợc bao gồm trong
“điều cấm của luật” hay không. Quy phạm bắt buộc là quy phạm mà theo đó, mọi chủ thể có nghĩa vụ phải tuân theo chứ không phải luôn đƣợc tồn tại với dạng cấm một hành vi nào đó. Bên cạnh đó, chúng ta nên phải làm rõ (bằng cách giải thích pháp luật theo lý luận hoặc bằng cách xây dựng Luật) ý nghĩa và bản chất của quy phạm bắt buộc và xác định những quy phạm nào là quy phạm bắt buộc. Đồng thời, nên phải bổ sung quy định về vị trí của quy phạm tùy nghi trong BLDS để khẳng định vai trò của quy phạm tùy nghi.
○
2 Chƣa quy định về thứ tự ƣu tiên đƣợc áp dụng giữa quy phạm tùy nghi và tập quán.
Theo cách quy định của mục 1 và mục 2, thứ tự ƣu tiên đƣợc áp dụng giữa quy phạm tùy nghi và tập quán chƣa đƣợc quy định rõ ràng. Theo đó, chúng ta có thể hiểu rằng, khi có những vấn đề nào mà các bên đương sự chưa thể hiện ý chí hoặc không thể khẳng định nội dung hợp đồng thông qua giải thích hợp đồng theo nghĩa hẹp và giải thích hợp đồng mang tính bổ sung, quy phạm tùy nghi đƣợc áp dụng đầu tiên, và sau đó tập quán mới có thể đƣợc áp dụng. Tuy nhiên, tôi nghĩ quy định hiện nay chƣa thực sự rõ ràng đến mức chúng ta có thể giải nghĩa đƣợc một cách cụ thể nhƣ vậy.
Ngƣợc lại, dù có thể lý giải nhƣ vậy nhƣng cũng cần thiết phải quy định rõ ràng lại về vấn đề này. Khi đó, ý nghĩa của tập quán nên phải được xem xét theo hướng áp dụng ƣu tiên so với quy phạm tùy nghi, bởi tập quán là tiêu chuẩn hoặc tiêu chí xử sự gần gũi và thân cận với các bên đương sự hơn quy phạm tùy nghi.
Nhƣ đã đề cập nhiều lần, giải thích hợp đồng là phạm trù để xác định nội dung của ý chí đã đƣợc thể hiện trong hợp đồng. Nên tuy vai trò của tập quán và quy phạm tùy nghi mang tính bổ sung cho hợp đồng, nhƣng không phải là có vai trò giải thích hợp đồng bởi vì tập quán và quy phạm tùy nghi đƣợc áp dụng do sức mạnh của quy phạm
- 122 - pháp luật mang lại.143
143 Các tài liệu tham khảo:
1. Shinomiya Kazuo, Noumi Yoshihisa,Bài giảng luật học “Quy định chung Luật dân sự”, NXB KOUBUNSHA,2010.
2. Sakuma Takeshi, Cơ sở của Luật Dân sự“Quy định chung”, NXB YUHIKAKU, 2008
3. Uchida Takashi, Luât Dân sự 1 “Quy định chung, Vật quyền chung”, NXB Đại học Tokyo, 2008 4. Các biên bản thảo luận của Tiểu ban luật dân sự, Hội đồng lập pháp, Bộ Tƣ pháp Nhật Bản.
5. Trường đại học luật thành phố Hồ Chí Minh,Giáo trình “Những quy định chung về luật dân sự”,NXBHồng Đức-Hội luật gia VN,2012.
123
BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH KHI GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU
Lê Thị Diễm Phương
Giao dịch dân sự là một trong những quan hệ dân sự phổ biến và thường xuyên nhất, đây cũng chính là một trong những công cụ hữu hiệu để các chủ thể tìm kiếm và trao đổi lợi ích với nhau. Nhƣng thực tế cho thấy, đôi khi cũng có những chủ thể đã xác lập, thực hiện một giao dịch dân sự nhƣng lại không đạt đƣợc lợi ích mà mình mong muốn mặc dù khi tham gia giao dịch họ thực hiện với tinh thần thiện chí, ngay thẳng, trung thực nhƣng họ không biết hoặc không thể biết giao dịch mà mình xác lập là không có căn cứ pháp luật.
Thông thường, dưới góc độ pháp luật các chủ thể này được xác định là người thứ ba ngay tình.
Theo quy định tại Điều 189 BLDS 2005: Người thứ ba ngay tình trước hết là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật đối với tài sản nhƣng ngay tình. Theo quy định của pháp luật thì chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là người chiếm hữu mà không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật144. Về bản chất, người thứ ba ngay tình không biết hoặc không thể biết việc chiếm hữu tài sản của mình là không có căn cứ pháp luật.
Về nguyên tắc, khi giao dịch bị tuyên bố vô hiệu thì giao dịch không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Hậu quả là giao dịch “quay về”
trạng thái ban đầu, các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận145. Tuy nhiên, pháp luật có quy định hậu quả khác trong trường hợp giao dịch có người thứ ba ngay tình. Đây là trường hợp các chủ thể tham gia giao dịch chiếm hữu tài sản nhưng không biết hoặc không thể biết việc chiếm hữu của mình là không có căn cứ pháp luật. Điều này có nghĩa họ không biết rằng giao dịch mình tham gia có thể vô hiệu. Họ tin tưởng người xác lập giao dịch với mình là chủ sở hữu. Trong giao dịch họ hoàn toàn ngay thẳng, trung thực. Vì vậy, pháp luật công nhận giao dịch với người thứ ba ngay tình vẫn có hiệu lực trong một số trường hợp đặc biệt và việc bảo vệ họ như vậy là cần thiết nên cần có những quy định pháp luật để hoàn thiện hơn về vấn đề này.
Theo quy định tại Điều 138 BLDS 2005:
1. Trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 257 của Bộ luật này.
2. Trong trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ
Thạc sỹ luật học, Giảng viên Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.
144 Điều 189 BLDS 2005
145 Điều 137 BLDS 2005
124
quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa”.
Với quy định này thì điều kiện để người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi trong giao dịch dân sự vô hiệu đó là:
Thứ nhất, trước khi người thứ ba tham gia vào giao dịch dân sự thì đã có một giao dịch dân sự trước được xác lập, thực hiện nhưng giao dịch dân sự trước đó đã bị vô hiệu.
Ví dụ: A và B giao kết hợp đồng mua bán nhà (có công chứng), nhƣng thực chất các bên tiến hành giao dịch tặng cho nhà. B bán nhà, chuyển quyền sở hữu nhà cho C và C hiện là người sử dụng hợp pháp căn nhà. Thực chất, giao dịch giữa A và B là giao dịch vô hiệu do giả tạo146. Chính vì vậy, có thể dẫn đến giao dịch giữa B và C sẽ vô hiệu (nếu nhƣ trong trường hợp hợp đồng bị che dấu là tặng cho không được hợp thức hoá về hình thức).
Thứ hai, người thứ ba xác lập giao dịch phải ngay tình. Thông thường, trường hợp này thường xảy ra đối với với những tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu như: máy tính, đồng hồ, điện thoại di động, ti vi… Đối với những trường hợp tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu như xe máy, xe ô tô v.v.. thì đa phần người thứ ba buộc phải biết tài sản có hợp pháp hay không. Lúc này, người thứ ba tham gia giao dịch nếu không ngay tình và phải trả lại tài sản.
Ví dụ: A và B giao dịch thông qua hợp đồng mua bán xe máy. B giao cho A xe máy nhƣng xe không bất kỳ giấy tờ nào chứng minh quyền sở hữu của B (Thực chất chiếc xe này B mua từ D và D trộm xe của E) . Tuy nhiên, vì ham rẻ A vẫn chấp nhận việc giao dịch giữa hai bên. Trong trường hợp này, A không là người thứ ba ngay tình khi có tranh chấp xảy ra bởi đối với những loại tài sản phải đăng ký quyền sở hữu thì bắt buộc khi trở thành đối tƣợng của một giao dịch dân sự hai bên chủ thể phải thực hiện những thủ tục nhƣ sang tên, đổi chủ giấy tờ xe… mà xe không có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu sẽ không hoàn tất đƣợc thủ tục này. Chính vì vậy, giao dịch mua bán không có hiệu lực pháp luật và bị vô hiệu. Khi xảy ra tranh chấp giữa chủ sở hữu xe máy đó và B thì A không đƣợc pháp luật bảo vệ vì không ngay tình và phải trả lại tài sản nếu chủ sở hữu tiến hành việc kiện đòi lại tài sản.
Tuy nhiên, nếu đối tượng của giao dịch là bất động sản thì cũng có những trường hợp, người thứ ba không thể biết được giao dịch có đối tượng là tài sản mà mình chiếm hữu đã không hợp pháp. Ví dụ: Cũng theo tình huống trên, C là người thứ ba ngay tình vì theo khách quan thì C không thể biết giao dịch trước đó giữa A và B đã tồn tại yếu tố giả tạo. Trên thực tế, C chỉ biết căn nhà lúc C giao dịch về mặt pháp lý là hợp pháp. Tức là trong trường hợp này, người thứ ba không biết hoặc không thể biết rằng mình tham gia vào giao dịch dân sự với người không có quyền định đoạt tài sản, hoặc giao dịch trước đó không hợp pháp.
Thứ ba, tài sản trong giao dịch phải là tài sản được phép lưu thông. Nếu là vật cấm
146 Điều 129 BLDS 2005 Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này.
Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu.
125
lưu thông thì người thứ ba buộc phải biết mình xác lập giao dịch dân sự với đối tượng này là bất hợp pháp. Vật cấm lưu thông được xác định dựa trên tính chất của nó, sự dịch chuyển của nó trên thực tế nếu được tự do lưu thông thì sẽ làm ảnh hưởng đến chính trị - kinh tế - văn hóa – xã hội như ma túy, động vật quý hiếm v.v... Lúc này, người thứ ba tham gia giao dịch không ngay tình và không được pháp luật bảo vệ. Đối với trường hợp đối tượng của giao dịch là vật hạn chế lưu thông (ngoại tệ…) thì khi muốn tham gia vào các giao dịch dân sự thì cần phải được sự chấp nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Nếu không có sự chấp nhận mà người thứ ba vẫn cố tình trao đổi thì khi xảy ra những vấn đề liên quan hoàn toàn không đƣợc pháp luật bảo vệ quyền lợi.
Thứ tư, giao dịch dân sự được xác lập với người thứ ba phải thông qua một giao dịch dân sự có đền bù. Trường hợp này, theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành thì:
* Trường hợp đối với tài sản là động sản. Trường hợp giao dịch dân sự với người thứ ba đối với tài sản là động sản mà thông qua một giao dịch không có đền bù (tặng cho, thừa kế…) thì lúc này, người thứ ba mặc dù ngay tình nhưng cũng không được pháp luật bảo vệ quyền lợi và phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu hay người chiếm hữu hợp pháp. Đối với trường hợp tài sản là bất động sản, mặc dù thông qua một giao dịch có đền bù nhưng người thứ ba vẫn phải trả lại tài sản khi bị kiện đòi. Trường hợp này, tùy thuộc vào hoàn cảnh thực tế (người thứ ba đang sử dụng ổn định tài sản…) thì Tòa án cũng có thể linh hoạt giải quyết bằng những phương pháp khác như yêu cầu bên có lỗi phải đền bù.
* Trường hợp đối đối với tài sản là bất động sản, hoặc động sản có đăng ký quyền sở hữu thì về nguyên tắc người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu (hoặc quyền sử dụng) tài sản mới có quyền thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản đó, chỉ được coi là ngay tình khi người thứ ba nhận được tài sản này thông qua trình tự bán đấu giá tài sản hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền người người thực hiện giao dịch dân sự là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó bản án hay quyết định lại bị hủy, bị sửa. Bởi vì, theo pháp luật về bán đấu giá tài sản thì văn bản mua được tài sản bán đấu giá là cơ sở để người mua được tài sản đấu giá xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của mình; theo pháp luật tố tụng dân sự thì bản án hay quyết định của Tòa án là cơ sở pháp lý để xác định quyền sở hữu hay quyền sử dụng hợp pháp của một người đối với tài sản và người thứ ba thực hiện giao dịch dân sự với người mà theo bản án hay quyết định của Tòa án là họ có quyền sở hữu là hoàn toàn hợp pháp.
Ngoài hai trường hợp trên, người thứ ba tham gia giao dịch dân sự với người không đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu (hoặc quyền sử dụng tài sản), mà giao dịch dân sự trước đó liên quan đến tài sản đó bị tuyên bố vô hiệu, thì giao dịch với người thứ ba cũng sẽ bị coi là vô hiệu147.
Quy định về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình lần đầu tiên được quy định trong BLDS 2005 đã đánh dấu bước tiến bộ đáng kể, tuy nhiên vẫn tồn tại bất cập nhất định. Cụ thể: Theo một vụ việc, năm 2011, bà Phan Thị Ngọc Anh (trú tại quận Phú Nhuận, TP.HCM) mua của ông N. một căn nhà trên đường Đào Duy Anh, quận Phú Nhuận với giá hơn 10 tỉ đồng. Hợp đồng đã đƣợc công chứng. Sau khi công chứng và hoàn
147 Hoàng Thế Liên (Chủ biên), Bình luận khoa học BLDS năm 2005, Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tƣ pháp
126
thành nghĩa vụ thuế, bà Anh tiến hành chuyển quyền sở hữu căn nhà. Sau đó, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất quận Phú Nhuận viết giấy hẹn bà Anh vào 22-11-2011 đến nhận giấy mới. Tuy nhiên, sáng 20-11-2011, UBND quận Phú Nhuận gửi thông báo cho bà Anh là căn nhà bà mua đã bị cơ quan thi hành án ra quyết định tạm dừng việc chuyển quyền sở hữu vì người bán nhà cho bà đang phải thi hành một bản án với người khác.
Tương tự, tháng 8-2009, anh Nguyễn Chiến Thắng mua của anh H. một căn nhà ba tầng ở TP Bắc Ninh (nhà đang đƣợc thế chấp tại một ngân hàng). Anh Thắng đã cùng anh H. đến ngân hàng thanh toán nợ, đƣợc ngân hàng thanh lý hợp đồng, trả lại giấy tờ nhà.
Sau đó, anh Thắng mang giấy tờ đến Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất để xin xóa thế chấp và đã được xác nhận. Cùng ngày, hai bên ra phường làm thủ tục mua bán và được phường xác nhận. Tuy nhiên, gần một năm sau, Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Bắc Ninh lại kê biên căn nhà trên với lý do để đảm bảo việc thi hành án của người bán148.
Trên đây là hai trong rất nhiều trường hợp người thứ ba mua nhà ngay tình đã bị thiệt thòi vì giao dịch của họ bị tuyên bố vô hiệu. Hậu quả là quyền lợi không đƣợc đảm bảo. Dẫu biết rằng khi giao dịch bị tuyên vô hiệu, các bên phải hoàn lại cho nhau những gì đã nhận. Tuy nhiên, như hai trường hợp trên, nhà của người “ngay tình”- bên mua bị cơ quan nhà nước tịch thu xử lý các khoản nợ của bên bán; còn bên bán lâm vào tình trạng phá sản, nợ nần, không còn tài sản nên cũng không còn tiền để hoàn trả hoặc hoàn trả đầy đủ cho bên mua, đồng thời là bên thứ ba ngay tình. Chính vì vậy, khiến phần lớn họ lâm vào tình trạng “tiền mất, tật mang”, mà vốn dĩ khi giao kết hợp đồng họ hoàn toàn trung thực, nên thực tế không bảo đƣợc sự công bằng cho những chủ thể ngay tình nhƣ trong hai ví dụ trên.
Sỡ dĩ có hiện trạng nhƣ vậy là bởi lẽ BLDS 2005 đã không bảo vệ đƣợc quyền lợi hợp pháp, chính đáng triệt để cho người mua tài sản trong trường hợp họ là người thứ ba ngay tình. Điều 138 BLDS 2005 chỉ bảo vệ được người thứ ba ngay tình trong hai trường hợp: Thứ nhất, khi giao dịch dân sự vô hiệu nhƣng tài sản giao dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực. Thứ hai, khi người thứ ba ngay tình nhận đƣợc bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.
Tuy nhiên, quá trình thực thi cho thấy quy định hiện hành chƣa bảo vệ một cách triệt để quyền lợi của người thứ ba khi mà việc giao dịch của họ là thiện chí, ngay tình và trong một số trường hợp chưa bảo đảm được tính ổn định của các giao dịch dân sự. Đặc biệt là đối với các giao dịch dân sự mà đối tƣợng giao dịch là tài sản đã đƣợc đăng ký quyền sở hữu và người thứ ba căn cứ vào tình trạng đã đăng ký của tài sản để thực hiện việc giao dịch, thì về nguyên tắc cần phải đảm bảo quyền lợi cho họ mới đảm bảo đƣợc tính công bằng, khách quan.
Khắc phục hạn chế trên, dự thảo BLDS sửa đổi đã quy định lại nhƣ sau:
148 http://netluat.phapluattp.vn/luat-net/phap-luat/sua-blds-nguoi-thu-ba-ngay-tinh-het-thiet-thoi-535294.html