Theo quy định của BLDS 2005 thì người được giám hộ bao gồm: người chưa thành niên theo luật định (cụ thể : người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định đƣợc cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu) và người mất năng lực hành vi dân sự. BLDS 2005 đề cập đến hai đối tượng này là người đƣợc giám hộ bởi lẽ đây là những đối tƣợng chƣa đủ khả năng nhận thức cũng nhƣ không có khả năng nhận thức để làm chủ đƣợc hành vi của mình khi tham gia vào các giao dịch dân sự. Cũng nhƣ đây là nhóm đối tƣợng cần có sự quan tâm, chăm sóc, dạy dỗ và chữa bệnh của người khác để giúp họ có thể phát triển (đối với người chưa thành niên) và đẩy lùi được bệnh tật (đối với người mất năng lực hành vi dân sự).
Trong hai nhóm đối tượng này thì chỉ có người chưa thành niên theo luật định chưa đủ 15 tuổi và người mất năng lực hành vi dân sự là bắt buộc phải có người giám hộ. Còn
79
đối với người chưa thành niên theo luật định từ đủ 15 tuổi trở lên thì không bắt buộc phải có người giám hộ. Quy định này đảm bảo quyền lợi cho nhóm đối tượng bắt buộc cần có người giám hộ để giúp họ có người đại diện trong các giao dịch dân sự. Còn đối với đối tượng không cần có người giám hộ bởi lẽ họ có thể tự mình xác lập thực hiện những giao dịch dân sự mà pháp luật cho phép không cần thông qua người đại diện.
Dự thảo BLDS đã có bổ sung một điểm mới đối với đối tượng là người được giám hộ đó chính là người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi. Đối với đối tƣợng này có thể hiểu đây là “người do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của họ, người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, tổ chức y tế có thẩm quyền xác nhận người đó là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”88. Như vậy đây không phải là người mất năng lực hành vi dân sự tức là người hoàn toàn không thể nhận thức làm chủ được hành vi của mình do bệnh tật89 mà đây là người không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình. Nguyên nhân gây ra vấn đề này là do tình trạng thể chất hoặc tinh thần. Do vậy đối với đối tượng là người chưa thành niên theo luật định chưa đủ 15 tuổi và người mất năng lực hành vi dân sự thì bắt buộc phải có người giám hộ. Nhưng đối với chưa thành niên theo luật định từ đủ 15 tuổi trở lên và người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi thì không bắt buộc phải có giám hộ. Quy định này phù hợp về logic bởi lẽ đối với người chưa thành niên theo luật định từ đủ 15 tuổi trở lên và người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi có thể tự mình xác lập, thực hiện những giao dịch dân sự mà pháp luật cho phép tự họ thực hiện không cần thông qua người đại diện. Đối với đối tượng là người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi thì họ được quyền lựa chọn người giám hộ cho mình90. Đây là quy định thể hiện rõ nét sự tôn trọng ý chí của người được giám hộ trong điều kiện họ vẫn làm chủ được hành vi của mình. Quy định này thể hiện rõ nét sự tiến bộ trong tƣ duy lập pháp với mong muốn thể hiện ý chí của chủ thể tham gia vào quan hệ dân sự. Quy định này đã có sự tiếp thu những nét tiến bộ từ pháp luật nước ngoài để giúp cho người được giám hộ có thể tăng sự chủ động của mình khi lựa chọn người đại diện cho mình trong trường hợp mình không thể làm chủ được nhận thức và hành vi của mình.
Điểm mới thứ hai về đối tượng là người được giám hộ có sự sửa đổi so với BLDS 2005 đó chính là người chưa thành niên theo luật định. Người chưa thành niên theo luật định là: người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu91. Trong những người chưa thành niên theo luật định có người chưa thành niên vẫn còn cha mẹ nhưng cha mẹ
88 Điều 29 Dự thảo BLDS
89 Điều 22 BLDS 2005, Điều 27 Dự thảo BLDS
90 Khoản 2 Điều 58 Dự thảo BLDS “Trường hợp việc giám hộ cho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi được thực hiện theo yêu cầu của họ, người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan thì việc giám hộ phải có sự đồng ý của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi nếu họ có năng lực thể hiện ý chí của mình tại thời điểm có yêu cầu”.
91 Theo quy định tại Điều 58 BLDS 2005
80
không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha mẹ có yêu cầu. Nhƣ vậy theo quy định của BLDS 2005 thì đối tƣợng này phải thỏa mãn hai điều kiện. Thứ nhất, đây phải là người chưa thành niên còn cha mẹ nhưng cha mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người này. Điều kiện thứ hai, phải có yêu cầu từ chính cha mẹ của người chưa thành niên này. Quy định này dường như chặt chẽ nhƣng lại bộc lộ điểm bất cập. Điểm bất cập đó chính là điều kiện thứ hai, trong trường hợp cha mẹ không có yêu cầu thì mặc dù cha mẹ không có điều kiện chăm sóc giáo dục người chưa thành niên này, người này vẫn không là người được giám hộ. Do vậy thực tế xảy ra trường hợp: một đứa trẻ mẹ đã mất, còn người cha nhưng người cha thường xuyên rượu chè, cờ bạc không quan tâm đến con cái. Đứa trẻ này có thể là người được giám hộ hay không ? Câu trả lời sẽ là không vì cha mẹ đứa trẻ này không hề có yêu cầu giám hộ cho đứa trẻ này. Do vậy, trong dự thảo BLDS đã có sự sửa đổi lại nhƣ sau: cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên92. Quy định trong dự thảo Bộ luật đã bỏ đi điều kiện thứ hai và nhƣ vậy không cần cha, mẹ yêu cầu thì trong tình huống cần thiết vẫn đặt ra vấn đề giám hộ đối với người chƣa thành niên này nếu cha, mẹ không đủ điều kiện chăm sóc, giáo dục họ. Quy định này đảm bảo tính khả thi và bảo vệ tốt hơn cho quyền lợi của người được giám hộ.
3. Quy định về người giám sát việc giám hộ
BLDS 2005 có đề cập đến người giám sát việc giám hộ. Tuy nhiên việc đề cập này dường như vẫn chưa thể và vẫn chưa giúp mọi người hình dung cụ thể về quyền lợi, nghĩa vụ của người giám sát việc giám hộ cũng như vai trò của họ như thế nào trong các quan hệ có người giám hộ đại diện cho người được giám hộ tham gia vào.
Tại Điều 59 BLDS 2005 có đề cập đến việc cử ra người giám sát việc giám hộ và yêu cầu của người có thể làm người giám sát việc giám hộ. Sau đó chỉ những quy định liên quan đến vấn đề tài sản của người giám hộ thì mới đề cập đến người giám sát việc giám hộ.
Do vậy mặc dù vai trò của người giám sát việc giám hộ rất quan trọng. Đây sẽ là người kiểm tra việc giám hộ của người giám hộ để đảm bảo cho quyền lợi của người được giám hộ. Nhưng với quy định trong BLDS 2005 vẫn chưa thể hiện rõ vai trò của đối tƣợng này.
Dự thảo BLDS đã có sự sửa đổi, bổ sung về quy định cho đối tƣợng này. Theo đó:
Thứ nhất, người giám sát phải là người được cử ra theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quy định chặt chẽ hơn so với quy định trong BLDS 2005.
Bởi lẽ BLDS 2005 giao thẩm quyền cho những người thân thích, trong trường hợp những người thân thích không lựa chọn được thì giao lại cho Ủy ban nhân dân xã phường thị trấn nơi cư trú của người được giám hộ. Quy định này có thể dẫn đến sự thông đồng giữa người giám hộ và người giám sát việc giám hộ.
Thứ hai, BLDS 2005 chỉ đòi hỏi người giám sát là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà không đưa thêm điều kiện nào dường như là chưa đầy đủ. Bởi lẽ đây là đối tượng đóng vai trò quan trọng không kém gì người giám hộ. Khi người này
92 Điểm a, khoản 1 Điều 59 Dự thảo BLDS
81
đi giám sát người giám hộ thì nên quy định những điều kiện cơ bản giúp đảm bảo thực hiện việc giám sát. Dự thảo BLDS đã bổ sung thêm Điều 70 về điều kiện của người giám sát và trong bản dự thảo đã đƣa ra một điều kiện rất quan trọng đó chính là quyền, lợi ích liên quan đến người giám hộ, người được giám hộ. Đây là điều kiện giúp cho người giám sát việc giám hộ có thể thực hiện tốt vai trò của mình không bị ảnh hưởng bởi những vấn đề khác có liên quan, cũng như tránh sự trực lợi, thông đồng của người giám hộ và người giám sát việc giám hộ.
Thứ ba, Dự thảo BLDS đã bổ sung thêm những quy định liên quan đến người giám sát việc giám hộ như: quyền, nghĩa vụ của người giám sát việc giám hộ; vấn đề thay đổi, chuyển giao người giám sát việc giám hộ. Quy định giúp giải quyết những trường hợp cụ thể liên quan đến người giám sát việc giám hộ.
Dự thảo BLDS đã có những quy định cụ thể và chặt chẽ hơn về người giám sát việc giám hộ. Từ đó xác định vai trò của người giám sát việc giám hộ đối với quan hệ giám hộ.