Các khái niệm cơ bản

Một phần của tài liệu Các yếu tố tác động đến ý định lựa chọn doanh nghiệp làm việc của sinh viên năm cuối và sinh viên mới tốt nghiệp của trường đại học công nghiệp thành phố hồ chí minh (Trang 25 - 28)

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Các khái niệm cơ bản

2.1.1 Doanh nghiệp

2.1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp

Dựa trên nhiều quan điểm mà có các định nghĩa khác nhau về doanh nghiệp. Chúng ta nhìn nhận dựa trên những quan điểm sau đây:

Về quan điểm phát triển, theo như D.Larua.A Caillat viết trong sách “Kinh tế doanh nghiệp” thì: “Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được.” (Caillat,1992)

Căn cứ theo điều 4.7 Luật doanh nghiệp 2014 thì: “Doanh nghiệp hay đúng ra là doanh thương là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.”

Cũng theo khoản 2 điều 4 Luật doanh nghiệp 2005 giải thích, “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận.”

Cho dù doanh nghiệp được hiểu theo quan điểm nào thì cũng được hình thành dựa trên những yếu tố như: yếu tố tổ chức, yếu tố sản xuất, yếu tố trao đổi và yếu tố phân phối. Các yếu tố này tạo nên quy trình hoạt động của một doanh nghiệp. Ban đầu tổ chức bao gồm các bộ phận quản lý, bộ phận nhân sự, bộ phận thương mại,.. sử dụng các nguồn lực lao động, vốn, vật tư, thông tin của doanh nghiệp để thực hiện quy trình sản xuất. Sau đó thực hiện những giao dịch thương mại và cuối cùng là mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, phân phối tiền lương cho các nguồn lực ở yếu tố sản xuất.

Như vậy dựa trên các định nghĩa và phân tích trên có thể rút ra được doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế vị lợi có tên và tài sản riêng. Các doanh nghiệp thực hiện quy trình sản xuất, cung ứng và tiêu thụ trên thị trường nhờ các yếu tố sản xuất và yếu tố con người với mục đích lợi nhuận. Ngoài ra doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh có tư cách pháp nhân với các đặc điểm chung như sau: Danh nghiệp có tính hợp pháp, có tính tổ chức và có thực hiện hoạt động kinh doanh, cung ứng dịch vụ cho người tiêu dung một cách lâu dài. Dù định nghĩa ở góc độ mở rộng là doanh nghiệp hoặc xem xét ở góc độ hẹp là công ty, thì hình thức thể hiện phổ biến nhất của doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế và mục đích chủ yếu nhất của nó là kinh doanh.

2.1.1.2 Các loại hình doanh nghiệp

Doanh nghiệp tư nhân: Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014, DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. DNTN không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một DNTN và chủ DNTN không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên CTHD. DNTN không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong CTHD, công ty TNHH hoặc CTCP.

Doanh nghiệp nhà nước: Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định chỉ những doanh nghiệp nào do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ thì mới được coi là DNNN, tức là hạn chế số lượng DNNN và mở rộng thành phần doanh nghiệp không bị ràng buộc bởi “cơ chế Nhà nước”.

Công ty trách nhiệm hữu hạn: Cùng với CTCP và DNTN thì công ty TNHH là một trong ba loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất tại Việt Nam hiện nay. Công ty TNHH có các đặc điểm như sau: Công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp GCNĐKDN. Chủ sở hữu công ty và công ty là hai thực thể pháp lý riêng biệt. Trước pháp luật, công ty là pháp nhân, chủ sở hữu công ty là thể nhân với các quyền và nghĩa vụ tương ứng với quyền sở hữu công ty; Công ty chịu TNHH. Thành viên chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn cam kết góp vào công ty; Công ty TNHH không được quyền phát hành cổ phần để huy động vốn; Với bản chất là công ty dạng

“đóng”, việc chuyển nhượng vốn góp của thành viên công ty TNHH bị hạn chế, các thành viên công ty TNHH khi muốn chuyển nhượng vốn góp trước hết phải ưu tiên chuyển

nhượng cho các thành viên khác của công ty; Trên bảng hiệu hóa đơn chứng từ và các giấy tờ giao dịch khác của công ty phải ghi rõ tên công ty kèm.

Theo Luật Doanh nghiệp 2014, công ty TNHH được chia làm hai loại hình căn cứ vào quy mô và số lượng chủ sở hữu công ty, là Công ty TNHH hai thành viên trở lên và Công ty TNHH một thành viên.

Công ty cổ phần: CTCP là doanh nghiệp, trong đó: (1) vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; (2) cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; (3) cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; (4) cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, ngoại trừ một số trường hợp (sẽ đề cập ở dưới); CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp GCNĐKDN và (5) CTCP có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn.

Công ty hợp doanh: CTHD là doanh nghiệp, trong đó: (1) phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (thành viên hợp danh). Ngoài các thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn; (2) thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; (3) thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. CTHD có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp GCNĐKDN. CTHD không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.

Tóm lại trong các loại hình doanh nghiệp trên thì công ty trách nhiệm hữu hạn cùng với doanh nghiệp tư nhân và công ty cổ phần là ba loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất Việt Nam hiện nay. Công ty hợp doanh thì ít phổ biến ở Việt Nam.

2.1.2 Ý định

Theo Bird (1988), định nghĩa ý định là một trạng thái tâm lý hướng sự chú ý của cá nhân tới một đối tượng, mục tiêu, hành trình cụ thể để đạt được một kết quả có ý nghĩa với cá nhân đó. Như vậy ý định là mong muốn thực hiện một hành vi cụ thể của một cá nhân.

Theo Ajzen (1991), ý định được cho là chứa đựng những yếu tố thúc đẩy, ảnh hưởng đến hành vi, nó chia ra mức độ mà một người sẵn sàng thử, mức độ nỗ lực thực hiện để hoàn thành hành vi. Như vậy, ý định dùng để đánh giá khả năng thực hiện hành vi của con người, khi con người càng có ý định mạnh mẽ để tham gia vào một hành vi nào đó thì họ càng có khả năng thực hiện hành vi đó nhiều hơn.

Tóm lại có thể hiểu ý định là chứa những yếu tố thúc đẩy, ảnh hưởng đến hành vi của một cá nhân tới một đối tượng, mục tiêu, hành trình cụ thể.

Một phần của tài liệu Các yếu tố tác động đến ý định lựa chọn doanh nghiệp làm việc của sinh viên năm cuối và sinh viên mới tốt nghiệp của trường đại học công nghiệp thành phố hồ chí minh (Trang 25 - 28)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(140 trang)