Phương pháp chọn mẫu

Một phần của tài liệu Các yếu tố tác động đến ý định lựa chọn doanh nghiệp làm việc của sinh viên năm cuối và sinh viên mới tốt nghiệp của trường đại học công nghiệp thành phố hồ chí minh (Trang 58 - 61)

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.5 Phương pháp chọn mẫu

Mẫu là tập hợp nhỏ những phần tử lấy ra từ một tổng thể lớn, người ta sẽ nghiên cứu những mẫu đó để tìm ra các đặc trưng của mẫu. Các đặc trưng mẫu được sử dụng để suy rộng ra các đặc trưng chung của tổng thể do nó làm đại diện. Chọn mẫu là một phần tử của một tổng thể để nghiên cứu và từ đó có thể rút ra các kết luận về chính tổng thể đó.

Đối tượng khảo sát của nghiên cứu này là những sinh viên năm cuối và sinh viên vừa mới tốt nghiệp, chưa có việc làm, đang có ý định đi tìm doanh nghiệp để làm việc của trường đại học Công Nghiệp thành phố Hồ Chí Minh.

Hiện tại có rất nhiều quan điểm hay lý thuyết khác nhau về xác định kích thước mẫu. Theo Hoelter (1983) thì kích thước mẫu tối thiểu phải là 200. Còn theo quy tắc và yêu cầu của phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) thì kích cỡ tối thiểu phải gấp 5 lần biến quan sát (n = 5*m) (Hair và cộng sự, 2010). Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Thọ thì kích cỡ mẫu càng lớn thì càng tốt ( Nguyễn Đình Thọ, 2011).

Như vậy mô hình nghiên cứu được đề xuất gồm 27 biến quan sát thì kích cỡ mẫu là 27*5 bằng 135 quan sát. Theo Nguyễn Đình Thọ (2011) kích cỡ mẫu càng lớn càng tốt nên nghiên cứu thực hiện trên kích thước mẫu là 220, đối tượng khảo sát là sinh viên năm cuối và sinh viên mới tốt nghiệp, chưa có việc làm của trường đại học Công Nghiệp Thành phố

Hồ Chí Minh. Thực hiện với kích thước mẫu như vậy để sau khi loại bỏ các mẫu không đạt yêu cầu hoặc có chất lượng thấp thì vẫn đảm bảo đủ kích thước mẫu.

3.5.2 Phương pháp chọn mẫu

3.5.2.1 Quy trình chọn mẫu

Bước 1: Xác định tổng thể nghiên cứu Bước 2: Xác định khung chọn mẫu

Bước 3: Lựa chọn phương pháp lấy mẫu: Xác suất hoặc phi xác suất Bước 4: Quyết định quy mô của mẫu

Bước 5: Viết hướng dẫn cho việc xác đinh và lựa chọn các phần tử trong thực tế của mẫu 3.5.2.2 Phương pháp chọn mẫu

Phương pháp chọn mẫu xác suất: Chọn mẫu ngẫu nhiên (hay chọn mẫu xác suất) là phương pháp chọn mẫu mà khả năng được chọn vào tổng thể mẫu của tất cả các đơn vị của tổng thể đều như nhau. Đây là phương pháp tốt nhất để ta có thể chọn ra một mẫu có khả năng đại biểu cho tổng thể. Vì có thể tính được sai số do chọn mẫu, nhờ đó ta có thể áp dụng được các phương pháp ước lượng thống kê, kiểm định giả thuyết thống kê trong xử lý dữ liệu để suy rộng kết quả trên mẫu cho tổng thể chung. Nhược điểm của phương pháp này là khó áp dụng phương pháp này khi không xác định được danh sách cụ thể của tổng thể chung (ví dụ nghiên cứu trên tổng thể tiềm ẩn); tốn kém nhiều thời gian, chi phí, nhân lực cho việc thu thập dữ liệu khi đối tượng phân tán trên nhiều địa bàn cách xa nhau,…

Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản: Trước tiên lập danh sách các đơn vị của tổng thể chung theo một trật tự nào đó : lập theo vần của tên, hoặc theo quy mô, hoặc theo địa chỉ…, sau đó đánh số thứ tự các đơn vị trong danh sách; rồi rút thăm, quay số, dùng bảng số ngẫu nhiên, hoặc dùng máy tính để chọn ra từng đơn vị trong tổng thể chung vào mẫu.

Thường vận dụng khi các đơn vị của tổng thể chung không phân bố quá rộng về mặt địa lý, các đơn vị khá đồng đều nhau về đặc điểm đang nghiên cứu. Thường áp dụng trong kiểm tra chất lượng sản phẩm trong các dây chuyền sản xuất hàng loạt.

Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống: Trước tiên lập danh sách các đơn vị của tổng thể chung theo một trật tự quy ước nào đó, sau đó đánh số thứ tự các đơn vị trong danh sách. Đầu tiên chọn ngẫu nhiên 1 đơn vị trong danh sách ; sau đó cứ cách đều k đơn vị lại chọn ra 1 đơn vị vào mẫu,…cứ như thế cho đến khi chọn đủ số đơn vị của mẫu.

Phuơng pháp chọn mẫu phi xác suất: Chọn mẫu phi ngẫu nhiên (hay chọn mẫu phi xác suất) là phương pháp chọn mẫu mà các đơn vị trong tổng thể chung không có khả năng ngang nhau để được chọn vào mẫu nghiên cứu. Chẳng hạn: Ta tiến hành phỏng vấn các bà nội trợ tới mua hàng tại siêu thị tại một thời điểm nào đó ; như vậy sẽ có rất nhiều bà nội trợ do không tới mua hàng tại thời điểm đó nên sẽ không có khả năng được chọn

Việc chọn mẫu phi ngẫu nhiên hoàn toàn phụ thuộc vào kinh nghiệm và sự hiểu biết về tổng thể của người nghiên cứu nên kết quả điều tra thường mang tính chủ quan của người nghiên cứu. Mặt khác, ta không thể tính được sai số do chọn mẫu, do đó không thể áp dụng phương pháp ước lượng thống kê để suy rộng kết quả trên mẫu cho tổng thể chung.

Chọn mẫu thuận tiện: Có nghĩa là lấy mẫu dựa trên sự thuận lợi hay dựa trên tính dễ tiếp cận của đối tượng, ở những nơi mà nhân viên điều tra có nhiều khả năng gặp được đối tượng. Chẳng hạn nhân viên điều tra có thể chặn bất cứ người nào mà họ gặp ở trung tâm thương mại, đường phố, cửa hàng,.. để xin thực hiện cuộc phỏng vấn. Nếu người được phỏng vấn không đồng ý thì họ chuyển sang đối tượng khác. Lấy mẫu thuận tiện thường được dùng trong nghiên cứu khám phá, để xác định ý nghĩa thực tiễn của vấn đề nghiên cứu; hoặc để kiểm tra trước bảng câu hỏi nhằm hoàn chỉnh bảng; hoặc khi muốn ước lượng sơ bộ về vấn đề đang quan tâm mà không muốn mất nhiều thời gian và chi phí.

Tóm lại dữ liệu phân tích của bài nghiên cứu được thu thập theo phương pháp chọn mẫu phi xác suất và theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện trong khoảng thời gian từ 03/2021 đến 5/2021. Theo Zikmund và ctg (2013), phương pháp lấy mẫu này phù hợp với nghiên cứu thăm dò có sử dụng phương pháp phân tích nhân tố. Và sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất có ưu điểm là dễ dàng thực hiện, không chọn ngẫu nhiên.

Ưu điểm: Dễ tiếp cận, dễ lấy thông tin, tiết kiệm thời gian và chi phí.

Nhược điểm: Khó xác định được tính đại diện của mẫu, lựa chọn mang tính chủ quan, độ

chính xác và độ tin cậy không cao.

Cách khắc phục: Tăng số lượng mẫu khảo sát.

Một phần của tài liệu Các yếu tố tác động đến ý định lựa chọn doanh nghiệp làm việc của sinh viên năm cuối và sinh viên mới tốt nghiệp của trường đại học công nghiệp thành phố hồ chí minh (Trang 58 - 61)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(140 trang)