MUC TIÊU PHÂN TÍCH
3.4. PHAN TICH CHAT. LƯỢNG SẲN PHẨM
" Trong nền kinh tế thị trường, chất lượng sản phẩm được đạt lên hàng đầu và là vấn đề sống còn của đoanh nghiệp. Một sản phẩm dù đã được tung ra thị trường và đã được thị trường chấp nhận nhưng. cũng không | có ai, không có gì có thé bao dam chắc chắn rằng sắn phẩm đó sẽ tiếp tục thành công nếu doanh nghiệp không duy trì và cải tiến, nâng cao chất lượng, mẫu _ mã, Vì thế, để giữ vững và nâng cao uy tín sản phẩm, dịch vụ của công ty minh trén thị trường và để giành được phần lớn thị trường tiêu thụ sản phẩm, bắt buộc các nhà kinh doanh phải luôn luôn tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm, địch vụ của mình.
Việc nâng cao chất lượng sản phẩm không những sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sấn phẩm, tăng tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quá sử dụng vốn, góp phần nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thị trường mà còn ý nghĩa thiết thực đối với người tiêu dùng và xã hội. Nâng cao chất - lượng sản phẩm sẽ tăng thêm giá trị sử dụng, kéo đài thời gian sử dụng của sản phẩm, tiết kiệm hao phí cho xã hội. Có thê nói, chất lượng sản phẩm là một yêu cầu quan trọng, thiết yếu và sống còn đổi với mọi doanh nghiệp.
Do tinh cht quan trọng của chất lượng sản phẩm, đòi hỏi các nhà quan lý, phải thường xuyên tiễn hành tổng kết, phân tích, đánh giá. Qua đó, sẽ phát hiện nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm; từ đó, tìm
được biện pháp tác động thích hợp nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm sản xuất ra. Việc phân tích chất lượng sán phẩm được thực hiện bằng nhiều phương pháp tuỳ thuộc vào đối tượng sản xuất.
3.4.2. Phân tích chất lượng đối với những sản phẩm có phân chia thir ˆ hang
_, Béi véi céc san phẩm có phân chia thứ hạng chất lượng (loại 1,
loại 2,...), khi phân tích chất lượng, có thể sử dụng một trong các phương pháp sau:
*, Phương pháp tỷ trọng:
Phương pháp tỷ trọng thường chỉ áp. dụng với sản n phẩm có Ít thử hạng chất lượng (thường có 2 thứ hạng chất lượng). Theo phương pháp này, trước hết tính ra. tỷ trọng của từng thứ hạng chất lượng chiếm trong tông số sản phẩm từng loại ở kỳ phân tích và kỳ gốc rồi tiến hành so sánh tỷ trọng của từng thứ hạng chất lượng kỳ phân tích với kỳ gốc. Chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp ở kỳ phân tích sẽ cao hơn kỳ gốc nếu tỷ trọng của thứ hạng chất lượng cao chiếm trong tổng số tăng lên và tỷ trọng của thứ hạng chất lượng thấp giảm xuống so với kỳ gốc. "Ngược lại, nếu tỷ trọng của thứ hạng chất lượng cao chiếm trong tổng số giảm xuống và tỷ trọng của thứ hạng chất lượng thấp tăng lên so với kỳ gốc, chứng tỏ chất lượng sản phẩm kỳ phân tích kém hơn kỳ gốc.
Nguyên nhân dẫn đến sản phẩm có nhiều thứ hạng có thể đo chất lượng nguyên, vật liệu; đo trình độ tay nghề của công nhân; do công nghệ
sản xuất... Những sản phẩm có thứ hạng thấp không những kém sản phẩm
có thứ hạng cao cả về công dụng, thẩm mỹ và các tiệu chuẩn cơ, lý, hóa (độ bền, độ cứng, độ dẻo, trọng lượng, kích thước... ) ma còn kém cả về hiệu quả kinh tế đối với doanh nghiệp.
Phương pháp tỷ trọng đơn giản, dễ áp dụng. Tuy nhiên, phương pháp
này không phan ánh được mối quan hệ giữa chất lượng sản phẩm với kết
quả sản xuất (biểu hiện qua chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất). Hơn nữa, khi sản phẩm được phân ra nhiều thứ hạng chất lượng khác nhau thì phương pháp này sẽ không chính xác và do đó không áp dụng được.
Ví đụ: Công ty NT sản xuất sản phẩm M với 2 thứ hạng chất lượng
(loai 1 va loai 2). Tai ligu về sản lượng sản xuất và giá bán của sản phẩm M trong năm như sau (bảng 3.3):
105 -
Bing 3.3: Tài liệu về sản lượng va giá bán sản phẩm M:
__ Sản lượng sản xuất (©) | Đơn giá (1.000 đíc)
cử, Thứ hạng
chấtượng | K#ỳgốc | Kỳphân | Kỳgốc | Kỳphân
ˆ ị / tich tich
_Loại 1 100.000 150.000 15 l4.
-Loại2 -| - 150.000 150.000 10 9
Cộng _280, 000- 300.000 x x”
Căn cứ vào tài liệu trên, ta lập bảng phân tích sau (bang 3.4):
Bảng 3.4: Bảng phân tích chất lượng sản phẩm M theo phương pháp tỉ trọng
Thứ Kỳ gốc Kỳ phântích | Chênh lệch (@) tỷ
hạng | Sản | Tỷ | Sản | Tỷ | tong giữa kỳ phân
chất lượng Ì trọng lượng | trọng tích so với kỳ goc
lượg | (@ | | @ | G9 09
Loại | 100000| 40 | 150.000| 50 _—+10
Loại2 | 150000 | 60 |150.000| 50 -10-
Cộng | 250.000 | 100 |300.000| 100 0
Bang phan. tích trên cho thấy, chất lượng sản phẩm M của Công ty
* Phương phúp giá đơn vj binh quân:
NT kỳ phân tích cao hơn kỳ gốc. Điều đó thể hiện qua tỷ trọng. của từng thứ.
hạng chất lượng chiếm trong tổng số: sản phẩm loại 1 là loại có thứ hạng cao trong ky gốc chỉ chiếm 40% trong tổng số thì kỳ phân tích tỷ trọng đã tăng lên, chiếm tới 50% trong tổng số; ngược lại, sản phẩm loại 2 là loại có thứ bạng thấp bơn ở kỳ gốc chiếm tới 60% trong tổng số thì kỳ phân tích đã - giảm xuống, chỉ còn chiếm 50% trong tổng số, Điều đó cho thấy chất lượng
sản phẩm M của Công ty NT kỳ phân tích đã tăng lên so với kỳ gốc.
Phương pháp giá đơn vị bình quân được thực hiện bằng cách tính ra giá đơn vị bình quân của từng loại sản phẩm (binh quan các thứ hạng khác
nhau) rồi so kỳ phân tích với kỳ gốc.:Do sản phẩm có thứ hạng cao sẽ có giá bán cao hơn sản phẩm có thứ hạng thấp nên khi chất lượng chung của sản phẩm được nâng cao, giá bán đơn vị bình quân của sản phẩm kỳ phân tích
sẽ cao hơn (tăng lên) so với kỳ gốc. Ngược lại, nếu giá đơn vị bình quân kỳ phân tích thấp hơn kỳ gốc, chứng tỏ chất lượng sản phẩm kỳ phân tích đã
giảm xuống so với kỳ gốc. Do chất lượng sản phẩm thay đổi đã làm cho kết
quả sản xuất thay đổi theo, vì thế, khi phân tích, cần xác định mức kết quá
sản xuất tăng hoặc giảm do chất lượng sản phẩm thay đổi. Cuối cùng, cần xem Xét các nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm (các nguyên nhân thuộc về lao động; tư liệu lao động; đối tượng lao động và tô chức, quản lý, điều hành, giám sát). -
Phương pháp giá đơn vị bình quân khắc phục được nhược điểm của phương pháp tỷ trọng. Giá đơn vị bình quân của sản phẩm được tính theo công thức sau: `
Mm
_ > Qoix Pox A kel
Po 7 m
a ằ đọ
` l ‘el
va: / m
_ ằ Dik Pow
. ke]
Py = m
>ằ Gin
k=]
Trong đó: .
ˆ Py > Pụ: ,: giá bán đơn vị bình quân sản phism ¡ l gốc, lỳ phân tích
=n); —
- đj đi. SỐ lượng sản phẩm ¡ thứ bạng chất lượng k kỳ gốc, kỳ phân tích (k= 1m);
- Dior’ giá bán đơn vị sản phẩm ¡ thứ hạng chất ương k lỳ gốc (không VAT).
Chất lượng sản phẩm thay đổi sẽ làm cho tổng giá trị sản xuất thay
107-
.đối theo. Mức ảnh hưởng của chất Tượng sản phẩm đến tổng giá trị sản xuất . được xác định theo phương pháp số chênh lệch như sau:
| = Saul? Pụ~ Pu)" œ Pu mUŠ
Cũng ví: dụ trên, giá đơn vị bình quân sin phim M của Công tyNTở từng ky 1a:
100,000 x 15 + 150.000x10 —
Kỳ gốc = — =120
— 700.000 + 750.000 |
| — 150000x 15 + 150.000x 10
Kỳ phân tính = — = 12,5
ne 150.000 + 150.000 si
So với kỳ gốc, giá đơn vị bình quân sản phẩm M ting lên một lượng là: 12,5 - 12,0 = + 0,5 (NĐ). Điều đó chứng tô chất lượng sản phâm M đã tăng lên so với kỳ gốc. Nhờ đó, đã làm cho giá trị sản xuất tăng thêm một lượng là: 300.000 x (+0,5) = 150.000 (NB).
* Phuong phdp hé sé phdm cap binh quan:
Tác dụng và trình tự áp dụng phương pháp hệ số phẩm cấp bình
quân cũng tương tự như phương pháp giá đơn vị bình quân. Hệ số phâm cấp được tính như nhau:
in
_ ằ Gor Poi
=
_ > Vine Pow
a fel ;= KEL_——
Ho = a ae _ H,=*=
Lua Foie Poi ằ Fin Poni
kel kel
Trong đó:
- H,, H,,: hệ số phẩm cấp bình quân của sản phẩm i ky gốc, ky phan tich (i =, Ln);
ơ Đai: giỏ bản đờn vị (khụng VAT) của sản phẩm Ă kỳ gốc thứ hạng chất lượng cao nhất (loại 1). :
Do chất lượng sản phẩm thay đổi, sẽ làm cho o tổng giá trị sản Xuất . tăng (+) hoặc giảm (-) một lượng là:..
a =3 4u, - - Hài) = ".. Fon
k=]
Cũng ví dụ trên, hệ số phẩm cấp bình quân sân phẩm M của Công ty NT ở từng kỳ là;
. 100.000x 15 + _180000x 10
Kỳ gốc = ” B06" (100,000 + 150.000) x 15 — = 0,8000 (14 (on) ae 150.000x15 + 150.000x10 .
Ky phan tich = (150.000 + 150.000) x 15 _ = 0.8333 (lân) |
So với kỳ gốc, hệ số phẩm cấp bình quân sản phẩm M tăng lên một lượng là: 0,8333 - 0,8000 = + 0,0332 (lần). Điều đó chứng tỏ chất lượng sản phẩm M đã tăng lên so với kỳ gốc. Nhờ đó, đã làm cho giá trị sản xuất tăng
thêm một lượng là: 15 x (+0,0333) x 300.000 ~ 150.000 (NĐÐ). |
3.4.3. Phan tich chat lượng đối với sản phẩm không phân chia thứ hạng Bên cạnh những sản phẩm có thể:phân chia theo. thứ hạng chất lượng, các doanh nghiệp lại còn có những sản phẩm không thể phân chia ' theo thứ hạng chất lượng mà chí có sản phẩm đủ tiêu chuẩn và sản phẩm hỏng (các doanh nghiệp sản xuất đồng hồ điện, nồi hơi, máy công cụ, thiết bị điện tử, thiết bị chính xéc.. .). Trong quá trình sản xuất, có những chỉ tiết, bộ phận, cụm chỉ tiết hoặc sản phẩm làm ra không đúng quy cách, tiêu chuẩn kỹ thuật phải sửa chữa hoặc huỷ bỏ không sử dụng được. Thuộc về sản phẩm hỏng bao gầm sản phẩm hỏng trong định mức và sản phẩm hỏng
ngoài định mức, trong đó lại chia ra sản phẩm hỏng có thé sửa chữa được và sản phẩm hỏng không sửa chữa được.
Những sản phẩm hông mà doanh nghiệp dự kiến sẽ xây ra trong quá trình sản xuất theo một tỷ lệ xác định được coi là sản phẩm hỏng trong định mức. Đây là những sản phẩm hỏng được xem là không tránh khỏi trong quá
trình sản xuất nên phần chi phí cho những sản phẩm này (giá trị sản phẩm
109
hỏng không sửa chữa được và chỉ phí sửa chữa sản phẩm hỏng có thể sửa
chữa được) được coi là chỉ phí sản xuất chính phẩm. Khác với sản phẩm hỏng trong định mức, sản phẩm hỏng ngoài định mức lả những sản phẩm nằm ngoài dự kiến của nhà sản xuất do các nguyên nhân hoặc chủ quan (do
lơ là, thiếu trách nhiệm, đo làm âu, làm dối, do tay nghề thấp của công nhân;
đo chỉ thị công tác, thiết kế đồ án sai; do không tôn trọng quy tắc, quy phạm - kỹ thuật; do vật liệu hỏng, kém phẩm chất...) hoặc do khách quan (do máy -hỏng, do bỏa hoạn bất chợt, do thiên tai...). Thiệt hại của những sản phẩm
này không được chấp nhận nên chí phí của chúng không được cộng vào chỉ phí sản xuất chính phẩm mà phải hạch toán riêng để xem xét nguyên nhân, quy trách nhiệm bồi thường. Đối với những loại sản phẩm này, do không dự kiến mức độ hỏng trong kế hoạch nên khi phân tích thường so sánh mức độ sai hỏng kỳ này với kỳ trước để đánh giá tình hình bảo đảm chất lượng sản
phẩm của doanh nghiệp. .
Để phân tích chất lượng sản phẩm, có thể trực tiếp dùng thước đo hiện vật tính tỷ lệ sai hông cá biệt của từng loại sản phẩm. Sản phẩm nào có
tỷ lệ sai hóng cá biệt càng lớn, chứng tỏ chất lượng sản phẩm đó càng thấp
và ngược lại. Tuy nhiên, do những hạn chế của việc sử dụng thước đo hiện vật nên trong phân tích, người ta thường sử dụng thước đo giá trị để tính ra
‘cde chỉ tiêu Sau: -
ở Tỷ lệ sai hỏng 7 niet hại về sản phẩm hỏng từng loại
cá biệt của từng = - x 100
: loại sản 'phẩm | Chỉ phí sản xuất sản phẩm từng loại ó Tỷ lệ sai , vay __ Tông số thiệt hại về sản phẩm hỏng trong ky a Lapras oad oe Loos or
hỏng bình me : x 100
Ân CAI 7 ng ở oO mm
sân phầm Tổng số chỉ phí sản xuất sản phẩm trong ky Trong đó:
- Thiệt hại về sản phẩm hỏng từng loại bao gồm chỉ phí sản xuất ra - những sản phẩm hỏng không sửa chữa được ngoài định mức (thường tính 'theo giá thành sản xuất) và những chỉ phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để sửa
chữa những sản phẩm hỏng ngoài định mức có thể sửa chữa được;
- Chi phí sản xuất từng loại sản phẩm bao gồm toàn bộ chỉ phí liên quan đến sản xuất thành phẩm và phần giá trị thiệt hại về sản phẩm hỏng ngoài định mức của loại sản phẩm đó (giá trị sản phẩm hỏng không sửa chữa được cùng với chỉ phí chỉ ra để sửa chữa những sản phẩm hỏng ngoài định mức có thể sửa chữa được);
+ Tổng số thiệt hại về sản phẩm hỏng trong kỳ là số thiệt hại về sản phẩm hỏng ngoài định mức của tất cả các loại sản phẩm trongkỳ, -
cm Tổng số chỉ phí sản xuất sản phẩm trong kỳ gồm toàn bộ số chỉ phí sản xuất của tất cả sản phẩm trong kỳ. `
Nếu ký hiệu:
- ton tins tỷ lệ sai hỏng cỏ biệt của từng loại sản phẩm (ù = Ln);
- TysT, : t) lé.sai hong bình quân kỳ gốc, kỳ phân tích của sản phẩm,
- họ, hị: thiệt bại về sản phẩm hỏng của từng loại kỳ gốc, kỳ phân tích;
- cọ, cụ: chỉ phí sản xuất l) gốc, “4 phân tích của từng loại san phẩm.
Ta có:
la = Fu 5100; tin = Au <100
0i H
— | yn > Silom :
Tạ ==— Eh—x100=-=———x100 -
ằ Yea
Va: ; is] i=l]
ii a :
_ > hy > Chin
_Tị=+L ~x]00=-°L——x100
, >ằ Cy x Cy
i=1 i=]
Việc phân tích chất lượng sản phẩm đối với những sản phẩm không
phân chia thứ hạng chất lượng được tiến hành như sau:
111
- Đánh giá chung tình hình chất lượng sản phẩm:
Đệ đánh giá chung tình hình chất ' lượng sản phẩm, trước hết cần tính ra và so sánh giữa kỳ phân tích với kỳ gốc trên chỉ tiêu "Tỷ lệ sai hỏng bình quân của sản phẩm". Trên cơ sở kết quả so sánh để rút ra nhận xét sơ bộ. về
chất lượng sản phẩm của đoanh nghiệp. Chất lượng sản phẩm kỳ phân tích.
thấp hơn kỳ gốc nếu tỷ lệ sai hỏng bình quân của sản phẩm ở kỳ phân tích lớn hơn kỳ gốc và ngược lạ, nếu tỷ lệ sai hỏng bình quân của sản phẩm ở kỳ phân tích nhỏ hơn kỳ gốc, chứng tỏ chất lượng sản phẩm kỳ phân tích đã được nâng cao so với kỳ gốc.
- Phân tích nhân tố ảnh hưởng tới sự biến động của chỉ tiêu "Tỷ lệ sai hông bình quân của sân phẩm":
Sau khi đánh giá sơ bộ về chất lượng sản phẩm, cần. tính ra ảnh
hưởng của các nhân tô đến sự biến động của chỉ tiêu "Tỷ lệ sai hỏng bình quân của sản phẩm", Căn cứ vào công thức xác định tỷ lệ sai hỏng bình quân của sản phẩm, ta thấy có 2 nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ lệ sai hỏng bình quân là cơ cấu sản lượng sản xuất (thể hiện qua chỉ tiêu tổng chỉ phí sản xuất) và tỷ lệ sai hỏng cá biệt (phản ánh chất lượng sản
phẩm). | |
+ Cơ cấu sản lượng sản xuất: .
Do lượng chỉ phí sản xuất ra từng loại sản phẩm khác nhau thì khác _ nhau nên khi cơ cầu sản lượng sản xuất thay đổi sẽ kéo theo sự thay đôi của tông chỉ phí sản xuất của tất cả các sản phẩm. Ảnh hưởng của nhân tố này đến tỷ lệ sai hỏng bình quân của sản phẩm được xác định trong điều kiện giả
định: Chỉ phí sản xuất từng loại sản phẩm ở kỳ phân tích, tỷ lệ sai hỏng cá
biệt từng loại ở kỳ gốc. Cơ cấu sản lượng thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi
của tỷ lệ sai hỏng bình quân, do vậy sẽ làm chất lượng sản phẩm chung của doanh nghiệp biến động (tăng hoặc giảm). Mức ánh hưởng của nhân tố "Cơ cấu sản lượng sản xuất" đến sự biến động của "Tỷ lệ sai hỏng bình quân của sản phẩm" giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc được xác định bằng phương pháp thay thế liên hoàn như sau:
x thản
= ee
+ Ry lệ sai hỏng cá biệt:
Tỷ lệ sai hỏng cá biệt là nhân tố phản ánh rõ nét nhất chất lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ của doanh. nghiệp. Nếu tỷ lệ sai hỏng cá biệt của hầu.
hết sản phẩm sản xuất trong kỳ phân tích đều tăng so với kỳ gốc, chắc chắn
chất lượng sản phẩm trong kỳ phân tích sẽ giảm và ngược lại; nếu tỷ lệ sai hỏng cá biệt của hầu hết sản phẩm sản xuất trong kỳ phân tích đều giảm so với kỳ gốc, chắc chắn chất lượng sản phẩm kỳ phân tích sẽ cao hơn kỳ gốc.
Mức ảnh hưởng của nhân tố "Tý lệ sai hóng cá biệt" đến sự biến động của
chỉ tiêu "Tỷ lệ sai hỏng bình quân của sản phẩm" được xác định bằng phương pháp thay thé liên hoàn như sau:
x Ci, 0¡h
-=———xi00
ằ Ci;
- Chẳng hạn có tài liệu sau về chất trọng sản phẩm tại Công ty | LEACO (1.000 đ):
Bảng 3.5: Tài liệu về chỉ phí sản xuất và thiệt hại về sản n phẩm
=1,
hỏng ngoài định mức
;- | Chỉ nhí sản xuất từng loại | Thiệt hại v về sản phim
Sản sản phẩm : hỏng tùng loại
phẩm :
Năm trước | Năm nay | Năm trước | Nšm nay .
A | 10000000 | 20000000 | 240.000 | 450.000 B | 30000000 | 30.000.000 | 1.200.000 | 1.200.000 + | 40.000.000 | 50.000.000 | 1.440.000 | 1.650.000
113