MUC TIÊU PHÂN TÍCH
3.6.4. Phan tích mối liên hệ giữa chỉ phí sản xuất với sân hrợng thực hiện
không chỉ xem xét theo mức phí đầu vào mà còn phải phân tích sự biến đối của chỉ phí sản xuất theo mức độ hoạt động cao, thấp trong kỳ tức là xem...
xét chi phi sản xuất trong mối liên hệ với sản lượng thực hiện. Điều đó giúp
133
chủ doanh nghiép cé thé ra được các quyết định quản lý giá thành và chỉ phí sản xuất có hiệu quả hơn.
Để phân tích tình hình thực hiện kế hoạch chỉ phi sản xuất trong "mối
liên hệ với sản lượng thực hiện, trước hết, các nhà phân tích cần xác định hệ số hoạt động thực tế. Hệ số hoạt động thực tế của doanh nghiệp phụ thuộc vào lượng sản phẩm sản xuất thực tế mà doanh nghiệp đạt được và lượng sản phẩm sản xuất theo công suất bình thường. Trong đó, lượng sản phẩm - sản xuất theo công suất bình thường được xác định theo số lượng sản phẩm mà doanh nghiệp đạt được ở mức trung bình trong các điều kiện sản xuất bình thường. Việc xác định khả năng sản xuất bình thường có thể bằng nhiều cách, thường thì dựa vào kinh nghiệm thực tế trong việc sử dựng nhân
công, máy móc, thiết bị, số sản phẩm sản xuất đã được bán qua các kỳ...
Ngoài ra còn tuy thuộc vào việc khai thác khả năng tiềm tang về năng lực sản xuất thực t tế hiện có.
He sé ho qt _ San lượng sản xuất thực tẾ
_ động thực te Sản lượng sản xuất theo công suất bình thường
“Hệ số hoạt động thực tế sẽ được dùng để điều chỉnh chi phi dau vao ˆ tương ứng. Nếu hệ số hoạt động thực tế > 1, gid thành sản xuất đơn vị sản -
phẩm sẽ giảm xuống, lợi nhuận kinh doanh sẽ tăng lên và ngược lại.
Sau khi đã xác định được hệ số hoạt động thực tế, cần tiến hành phân chia chỉ phí sản xuất sản phẩm thực tế thành biến phí và định phí sản xuất, Điều này xuất phát từ mối quan hệ giữa chỉ phí sản xuất và qui mô sản xuất (the hién qua san lượng sản xuất), Mặc dầu chỉ phí sản xuất có quan hệ
chặt chẽ với qui mô sản xual tuy nhiên, không phải mọ gi khoản chi phi đều thay đổi, khi qui mô sản xuất thay đổi mà tùy thuộc vào từng bộ phận chỉ phí, có bộ phận chỉ phí thay đổi theo qui mô sản xuất hoặc thuận, hoặc nghịch, cùng mức tỷ lệ thay đổi hay không cùng mức tỷ lệ thay đổi; có bộ phận chỉ phí tương đối ôn định trong giới hạn nào đó của việc đầu tư trước đây. Phần chỉ phí thay đổi theo mức sản lượng hay qui mô hoạt động gọi là chỉ phí biến đổi, gọi tắt là biến phí; còn phan chi phí tương đối có định trong giới hạn đầu tư nào đó gọi là chỉ phí không biến đổi - định phí.
Biến phí là những chỉ phí mà khi mức hoạt động của doanh nghiệp
thay đối sẽ thay đổi theo cùng chiều (nếu biến đổi thuận với sản lượng) hoặc ngược chiều (nếu biến đổi nghịch với sản lượng) và ngược lại. Các chỉ phí biến đôi này thường là cát chỉ phí trực tiếp sản xuất sản phẩm hay thực hiện:
dịch vụ, gắn với công nghệ chế tạo sản phẩm như:
- Nguyên, vật: liệu trực tiếp dùng vào sản xuất;
- Chi phi nhân công trực tiếp ăn lương, theo sản phẩm, công việc; - - Chi phí điện năng, hơi đốt;
- Chỉ phí vận chuyên vật tư, hàng hoá;
-_ Chỉ phí hoa hồng, môi giới;
- Thuế sử dụng tài nguyên;
- V.V...
Tổng chỉ phí biến đổi sẽ tăng, giảm theo mức độ hoạt động của doanh nghiệp song biến phí tính cho một đơn vị sản phẩm thường lại tương đối ổn định; do vậy, sự thay đối của tong bién phi theo mức hoạt động được xem là một hiện tượng kinh tế tất yếu mà không phản ánh trình độ năng suất lao
động kỳ báo cáo. Ngược lại, định phí trong một giới hạn đầu tư nào đó là
những chỉ phí thường không thay đổi theo mức hoạt động của doanh nghiệp nên mức định phí trong giá thành sản xuất đơn vị sẽ thay đổi theo mức độ hoạt động. Chính vì vậy, mức định phí trong giá thành sản xuất đơn vị sản
phẩm là nhân tố phản ánh trình độ tăng năng suất lao độr.g của doanh nghiệp.
Định phí thường gồm các loại sau:
- Tiền lương trả cho Ban Giám đốc, cấp chỉ hủy và nhân viên quản lý văn phòng, quản lý các: bộ phận sản xuất kinh doanh;
- Tiền khấu hao tài sản có định (khâu hao theo thdi gian);.
- Tiền thuê tài sản, nhà cửa, phương tiện kinh doanh;
- Tiền bảo hiểm (trừ bảo hiểm hàng hoá, chuyên chở...);
- Phí tốn quản lý hành chính, kinh tế khác;
-V.V...
135 -
Trên cơ sở phân chia tổng chi phí sản xuất thành định phí và biến ..
phí, các nhà phân tích sẽ tiến hành điều chỉnh định phí theo mức hoạt động
của kỳ phân tích. Bước công việc này giúp xác định được cụ thé mức định phí không mang. lại kết quả. sản xuất và mức định phí tiết kiệm tượng đối so với mức hoạt động thực tế cao hơn mức hoạt động theo công suất bình thường. Việc điều chỉnh định phí theo mức hoạt động của kỳ phân tích được tính bằng cách lấy định phí đã xác định thèo giới hạn đầu tư nhân với hệ số hoạt động thực tế. Mức chênh lệch giữa định phí đã xác định theo giới hạn đầu tư với mức định phí đã điều chỉnh là mức định phí lam tăng, giảm tương ứng lợi nhuận kinh doanh.
Múc định phi tiết kiệm. Mức định __ Mức định Hệ (-) hoặc lãng phí (+) _ phi theo phi theo SỐ -
= - x
trong quan hệ với hệ sổ giới hạn giới hạn hoạt
hoạt động - đẫu tư đâu tư . động
Chẳng hạn, một doanh nghiệp có hệ số hoạt động thực tế được xác
định là 0,85; định phí trong giới hạn đầu tư đã tính là 400. 000.000 đồng.
Như vậy, mức định phí không tạo ra kết quả: sản xuất, làm giám lợi nhuận
của doanh nghiệp là: ở
Mức định phí làm giảm két 7
quả kinh doanh trong quan hệ ` = 400.000.000 - 400.000.000 x 0,85
với hệ số hoại động cm
_ = + 60.000.000 (8)
Do giảm sút mức hoạt động mà trong kỳ thực tế, lợi nhuận kinh đoanh của doanh nghiệp bị giảm thêm 1 lượng là 60.000, 000 đồng,
Băng phương pháp phân tích trên, có thể ứng dụng phân t tích cho mọi loại hình công nghệ sản xuất và tố chức sản xuất khác nhau nhằm lượng
hoá phần chỉ phí làm tăng, giảm kết quả kinh đoanh đo ảnh hưởng của trình
độ-tăng năng suất lao động thay mức hoạt động) của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo (tháng, quý, năm).
Tiết kiệm chỉ phí sản xuất để giảm thấp giá thành là một trong những
mục tiêu chiến lược của mọi doanh nghiệp, trên cơ sở đó tăng lợi nhuận,
giảm giá bán để tăng sức cạnh tranh cho hàng hoá trên thị trường. Vì vậy, phân tích giá thành sản xuất sân phẩm, dịch vụ trên nhiều góc độ bằng các cách khác nhau là cần thiết, giúp chủ doanh nghiệp nhìn rõ khả năng tiềm tàng, tính toán được trị số của nó để kế hoạch hoá giá thành, định hướng quản lý giá thành có hiệu quả thiết thực hơn.
3.6.5. Phân tích chỉ phí sản xuất trên 1.000 đồng giá trị sản lượng hàng hoá Chi phí sản xuất trên 1.000 đồng giá trị sản lượng hàng hóa là chỉ tiêu tổng quát đo lường mức chỉ phí sản xuất mà doanh nghiệp bỏ ra trên
1.000 đồng giá trị sản lượng hàng hóa. Trị số của chỉ tiêu này càng nhỏ, hiệu
quả kinh doanh càng cao, lợi nhuận thu được càng lớn và ngược lại; mức chỉ
phí sản xuất trên 1.000 đồng giá trị sản lượng hàng hóa càng lớn, hiệu quá kinh doanh càng thấp. Chính vì vậy, phân tích chỉ phí sản xuất trên 1.000 đồng giá trị sản lượng hàng hóa sẽ cho các nhà quản lý biết được các
nguyên nhân lâm tăng, giảm chỉ phí sản xuất trên 1.000 đồng giá trị sản lượng hàng hóa; từ đó, đề ra các biện pháp phù hợp để giảm chỉ phí sản xuất, tăng lợi nhuận, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Chỉ tiêu "Chỉ phí sản xuất trên 1.000 đồng giá trị sắn lượng hàng hóa" được tính theo công thức: -
h
Sa,
i= -sL_——xI.000 x
2 8uÐ
>ằ Qo: Za)
| đc = at -E=!_——-xi-000
3 _ đụ ụ
j=]
Trong do:
. - Fi, Fy: chỉ phi sản xuất trên 1.000 đồng giá trị sản lượng hàng hóa kỳ kế hoạch, ky thực tế (đẳng);
- go. qui: SO lượng sản phẩm, dich vu i sản xuất kỳ kế hoạch, ky thuc tỄ (Ì = 1,n);
137
ee Pon PIE gid bán (không thuế GT CD 4 don vị sản phẩm, dịch vụ ¡ kỳ kế hoạch, kỳ thực tế..
Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch chỉ phí sản xuất trên 1.000 đồng giá trị sản lượng hàng hóa bao gồm các bước công việc sau: - ˆ
@. Đánh giá khái quát tình hình thực hiện kế hoạch:
Việc đánh:giá khái quát tình hình thực hiện kế hoạch chỉ phí sản xuất
trên 1.000 đồng giá trị sản lượng hàng hóa được thực hiện bằng cách tính ra
và so sánh chỉ tiêu "Chị phí sản xuất trên 1.000 đồng giá trị sản lượng hàng hoá" (F) giữa thực tế với kế hoạch, cá về số tuyệt đối và số tương đối...
Mức chênh lệch tuyệt đối của chỉ phí sản xuất trên 1.000 đồng giá trị
sản lượng hàng hóa giữa kỳ thực hiện với kỳ kế hoạch dưới 0 càng lớn, chứng tỏ chỉ phí sản xuất mà doanh nghiệp bô ra để có được 1.000 đồng giá trị sản lượng hàng hoá cảng giảm, lợi nhuận kinh doanh trong kỳ càng tăng,
biệu quả kinh doanh càng cao. Nói cách khác, mức chênh lệch < 0 cho biết,
cứ 1.000 đồng giá trị sản lượng hàng hóa, đoanh nghiệp tiết kiệm (-) được
mây đồng chỉ phí sản xuất. Ngược lại, nếu mức chênh lệch càng lớn hơn 0, chứng tỏ chỉ phí sản xuất mà đoanh nghiệp bỏ ra dé thu được 1.000 đồng giá
‘tri san lượng hàng hóa càng cao, lợi nhuận kinh doanh càng giảm, hiệu quá kinh doanh càng thấp.
Tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch về chỉ phí sản xuất Fy.
` = 100
trên I.1000 đông giá trị sản lượng hàng hóa Fy *
Tỷ lệ này tính ra néu < 100%, chimg té doanh nghiép dA hoan thanh
vượt mức kế hoạch; ngược lại nếu > 100%, chứng tô đoanh nghiệp đã không
hoàn thành kế hoạch đặt ra trên chỉ tiêu “Chỉ phí sản xuất trên 1.000 đồng
giá trị sản phẩm hàng hóa".
Khi đánh giá khái quát tình hình thực hiện trên chỉ tiêu “Chi phí sản
xuất trên 1.000 đồng giá trị sản phẩm hàng hóa”, có thể kết hợp so sánh mức chỉ phí sản xuất trên 1.000 đồng đối với từng loại sản phâm, dich vu dé biết -
được mức độ tiết kiệm hay vượt chi chị phí sản xuất của từng mặt hàng, qua đó sơ bộ đánh giá hiệu qua kinh doanh của từng. mặt hàng.
—@. Phan tich nhan tố ánh hướng đến sự biến động của chỉ i phi sản xuất trên 1.000 đồng giá trị sản phẩm hàng hoá
Chỉ phí sản xuất tính trên 1.000 đồng giá trị sản lượng hàng hóa chịu
ảnh hưởng của các nhân tố: Sản lượng sắn xuất, cơ cấu sản lượng, giá thành
sản xuất đơn vị và giá bán đơn vị sản phẩm, dịch vụ. Mức độ ảnh hưởng của
từng nhân tố được xác định bằng phương pháp loại trừ.
- Sản lượng sản xuất:
Sản lượng sản xuất là nhân tổ phản ánh qui mô nhưng do qui mô
nghiên cứu đã được giới hạn ở mức 1.000 đồng gia trị sản lượng nghĩa là qui mô không thay đổi giữa kỳ phân tích với kỳ gốc nên ảnh hưởng của nhân tố sản lượng đến sự biến động của chi phí trên 1.000 đồng giá trị sản xuất bằng "0" (không). Nói cách khác, do qui mô nghiên cứu không thay đổi giữa kỳ phân tích với kỳ gốc (giới hạn ở phạm ví 1.000 đồng) nên nhân tô sản lượng sản xuất không ảnh hưởng đến sự biến động của chỉ tiêu "Chỉ phí sản xuất trên 1.000 đồng giá trị sản lượng hàng hóa".
- Nhân tổ cơ cấu sản lượng sản xuất:
Do các loại sản phẩm, dich vụ khác nhau thì có mức chi phí trên 1.000 đồng giá trị sản lượng hàng hoá khác nhau nên khi cơ cấu sản lượng sản xuất thay đổi, chi phí sản xuất trên 1.000 đồng giá trị sản lượng hàng hóa sẽ thay đổi theo. Ảnh hưởng của nhân tố này được xác định trong điều kiện giả định: sản lượng thực tế, cơ cấu sản lượng thực tế, giá thành đơn vị
và giá bán đơn vị kế hoạch. Ảnh hưởng của nhân tố cơ cấu sản lượng đến sự _ biễn động của chỉ tiêu "Chỉ phí trên 1.000 đồng giá trị sản n lượng hàng hóa”
được xác định như sau:
> đua: 2, {0:01 s ẹIĂ5oĂ
= 1 ___ x], 000 — = x 1.000 = =—_—- x]. 000 - Ke .
y tị Đụ; 3 đọ: Đại > Poi
i=l
Xét về mức độ ảnh hướng, việc thay đổi cơ cầu sản lượng sản xuất - có thể tác động làm tăng hoặc giảm chỉ phí sản xuất trên 1.000 đồng giá trị
sản lượng hàng hoá. Nếu tỷ trọng sản xuất của những sản phẩm có mức chi
139
phi trén 1.000 đồng giá trị sẵn lượng hàng hóa tăng lên, tỷ trọng của những . sản phẩm có mức chỉ phí trên 1.000 đồng giá trị sản lượng hàng hóa giảm xuống sẽ làm cho mức chỉ phí chung trên 1.000 đồng giá trị sản lượng hàng hóa của doanh nghiệp tăng lên và ngược lại.
Xét về tính chất, việc thay đôi cơ cầu sản lượng sản n xuất trước hết là do tác động của quan hệ cung - cầu trên thị trường, do thị trường điều tiết.
Vì thế, có thé coi ảnh hưởng của nhân tố cơ cầu sản lượng là nhân tổ khách quan. Tuy nhiên, về thực chất, việc thay đổi cơ cầu sản lượng sản xuất lại là nhân tố chủ quan đo doanh nghiệp tự điều chỉnh cơ cau san lượng sản xuất nhằm thỏa mãn, đáp ứng nhu cầu thị trường, Việc thay đôi cơ cầu sản lượng sản xuất kịp thời cũng phản ánh sự: nhạy bén trong chỉ đạo, điều hành kinh doanh của bộ phận quản lý để đưa ra các quyết định phù hợp, vừa bảo đảm thỏa mãn nhu cầu thị trường vừa bảo đảm tăng lợi nhuận kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
- Nhân tổ giá thành sản xuất đơn vị sản phẩm, dich vu:
Giá thành sản xuất đơn vị sản phẩm, dịch vụ là nhân tố phản ánh thành tích hay khuyết điểm của đoanh nghiệp trong việc tiết kiệm hay lãng phí chỉ phí sản xuất (chi phi vật liệu trực tiếp, chỉ phí nhân công trực tiếp và ._ chỉ phí sản xuất chung) của: doanh nghiệp. Ảnh hưởng của nhân tố này được xác định trong điều kiện giả định: Sản lượng thực tế, cơ cấu sản lượng thực
tế, giá thành đơn vị thực tế, giá bán đơn vị kế hoạch. Mức ảnh hưởng của nhân tố giá thành sản xuất đơn vị sản phẩm, dịch vụ đến sự thay đôi của chỉ tiêu "Chi phí sản xuất trên 1.000 đồng giá trị sản lượng hàng hóa" được xác
định theo cồng thức: | 7
H H
2, QA 2uấu
=-=——xi.000--“———xI. 000 Sy Wi Poi x i Poi
f=] i=]
_, Nhân tố giá. thành sản xuất đơn vị sản phẩm, dịch vụ có quan hệ cùng chiều với chi phí trên 1: 000 đồng giá trị sản lượng hàng hóa. Khi gia thành sản xuất đơn vị tang, chi phi trên 1.000 déng gid tri san lượng hàng
hóa tăng và ngược lại, khi giá thành sân xuất đơn vị giảm, chỉ phí trên 1.000 đồng giá trị sản lượng hàng hóa. giảm. Về cơ bản, nhân tố giá thành sản xuất.
đơn vị sản phẩm, dịch vụ là nhân tố chủ quan, phản ánh kết quả của việc quản lý, sử dụng lao động, vật tư, tiền von trong quả trình hoạt động sản xuất - kinh doanh. Hạ giá thành sản xuất đơn vị: sản phẩm) là một trong những biện pháp quan trọng để giảm chỉ phí trên 1.000 đồng giá trị sản.
lượng hàng hóa, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
- Nhân tố gid bán don vi:
Giá bán đơn vị sản phẩm, dịch vụ (không thuế GTGT) có thé la nhân tố khách quan, phụ thuộc vào quan hệ cung - cầu trên thị trường nhưng giá bán cũng có thể là nhân tố chủ quan phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm,
dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất. Nhân tố này có quan hệ ngược chiều với
chỉ phí sản xuất trên 1.000 đồng giá trị sản lượng hàng hóa; nghĩa là, trong
điều kiện các nhân tố khác không đổi, nếu giá bán tăng thì chỉ phí sản xuất
trên 1.000 đồng giá trị sản lượng hàng hóa sẽ giảm và ngược lại. Mức ảnh hưởng của nhân tố giá bán đơn vị đến sự biến động của chỉ tiêu "Chỉ phí
trên 1.000 đồng giá trị sản lượng hàng hóa" được xác định như sau: |
‘ ằ :
=F -—— x1.000
Lau
@. Tổng hợp ảnh hướng của các nhân tố, rút rar.tận xét và kiến nghị:
Trên cơ sở tính toán ảnh hưởng của các nhãn tố đến sự biến động
của chỉ phí sản: xuất trên 1.000 đồng giá trị sản lượng hàng hóa, nha phan
tích sẽ tiến. hành tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố theo từng nhóm (nhúm nhõn tố ảnh hưởng tăng, nhúm nhõn tố ảnh hưởng ứiảm). Từ đú, Sẽ.
nêu lên những nhận xét, đánh giá tình hình tiết kiệm hay lãng phí chỉ phí sản ˆ xuất cũng như những tồn tại cin khắc phục và những thành tựa mà doanh
nghiệp đạt được. Đồng thời, đề xuất các giải pháp áp dụng trong kỳ tới nhằm tiết kiệm chỉ phí, tăng doanh lợi.
141