Cam kết của các cấp lãnh đạo

Một phần của tài liệu Luận văn tăng cường thực hiện chế độ tự chủ tự chịu trách nhệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà nước ở tỉnh bắc giang (Trang 69 - 72)

CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ TỰ CHỦ ĐỐI VỚI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC Ở TỈNH BẮC GIANG

3.2. Đánh giá kết quả thực hiện cơ chế khoán và chế độ tự chủ ở tỉnh Bắc Giang

3.2.3 Các điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện chế độ tự chủ

3.2.3.1 Cam kết của các cấp lãnh đạo

Cải cách hành chính là một chương trình lớn trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, các cấp lãnh đạo từ trung ương đến địa phương đã nhận thức sâu sắc ý nghĩa và tầm quan trọng của cải cách. Các cấp lãnh đạo đã có sự cam kết thực hiện cải cách ở các mức độ khác nhau nhƣng thống nhất các giai đoạn và mục tiêu theo chương trình chung.

Lãnh đạo UBND tỉnh đã có sự cam kết và nỗ lực trong chỉ đạo triển khai thực hiện cơ chế khoán và chế độ tự chủ, đã thành lập Ban chỉ đạo Cải cách hành chính của tỉnh do một đồng chí Phó chủ tịch UBND tỉnh làm trưởng ban, đồng chí Giám đốc Sở Nội vụ làm Phó ban thường trực, giao cho

Sở Nội vụ là cơ quan thường trực của Ban chỉ đạo Cải cách hành chính của tỉnh. Ngay đầu năm 2002 Chủ tịch UBND tỉnh đã ra Quyết định thực hiện thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với 02 cơ quan hành chính trực thuộc UBND tỉnh. Ngày 13 tháng 5 năm 2002 UBND tỉnh ban hành Quyết định số 87/2002/QĐ-UBND về việc ban hành kế hoạch cải cách hành chính giai đoạn 2002-2005 và nhiệm vụ cải cách hành chính năm 2002 của tỉnh Bắc Giang. Ngày 30 tháng 8 năm 2006 Chủ tịch UBND tỉnh đã ký ban hành Kế hoạch số 1896/KH-UBND thực hiện NĐ số 130/2005/NĐ-CP của Chính phủ. Ngày 30 tháng 10 năm 2006 UBND tỉnh ra Quyết định về việc ban hành Kế hoạch Cải cách hành chính tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2006- 2010. Điều đó cho thấy, lãnh đạo UBND tỉnh Bắc Giang đã có sự cam kết và thể hiện bằng hành động cụ thể trong thực hiện cải cách hành chính và cải cách phương thức quản lý đối biên chế và tài chính đối với các cơ quan HCNN.

Tuy đã có sự cam kết của UBND tỉnh trong thực hiện cải cách nhƣng sự cam kết ấy vẫn chƣa đủ mạnh mẽ để thực hiện những mục tiêu của cải cách đã đề ra. Thứ nhất, cam kết chƣa đƣợc cụ thể hoá bằng những hành động cụ thể, thiết thực như: sự chỉ đạo thường xuyên, quyết liệt. Thực tế Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của tình đƣợc thành lập tuy nhiên hoạt động không thường xuyên, chưa thiết lập được cơ chế cụ thể cho sự hoạt động của ban, chƣa phân công cụ thể trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của các thành viên trong ban do vậy không khuyến khích đƣợc tinh thần trách nhiệm của các thành viên trong Ban. Sự thành lập Ban Chỉ đạo cũng chỉ là một hình thức, biến nó thành một đối tƣợng cũng cần phải cải cách. Ban chƣa họp sơ kết, tổng kết năm, chƣa có sự chỉ đạo cụ thể với các cơ quan hành chính trong việc cải cách nói chung, chưa có hướng dẫn các bước, quy trình trong triển khai thực hiện các chính sách cải cách. Thứ hai, Ban Chỉ đạo chƣa đƣợc trao đủ quyền hạn trong việc chỉ đạo và xử lý các đơn vị không triển khai hoặc triển khai chƣa tốt việc thực hiện cải cách, do vậy hoạt động của ban chỉ mang tính

hình thức, hành chính, nhiệm vụ của ban chỉ là tổng hợp tình hình thực hiện cải cách của các đơn vị, chƣa chỉ đạo các đơn vị một cách có hiệu quả trong thực hiện cải cách hành chính.

Sự cam kết của thủ trưởng cơ quan hành chính cũng chỉ mới dừng lại ở quan điểm, khi thực hiện các công việc cụ thể hoặc triển khai thực hiện cải cách thì sự cam kết đó chƣa biến thành hành động cụ thể. Một số biểu hiện cho thấy điều đó là: Mặc dù đƣợc trao quyền chủ động trong việc sắp sếp số biên chế trong cơ quan, có quyền quyết định tinh giảm biên chế, điều động cán bộ trong cơ quan tuy nhiên chƣa thấy ở cơ quan nào thực hiện đƣợc điều này. Số biên chế trong cơ quan có biến động không đáng kể so với trước khi thực hiện cải cách, thực tế là chƣa có hành động mạnh mẽ trong việc sàng lọc cán bộ công chức trong các cơ quan hành chính, vẫn còn những cán bộ có tuổi mà khả năng không còn phù hợp với yêu cầu của công việc, cụ thể nhƣ sử dụng các thiết bị tin học phục vụ nhiệm vụ chuyên môn, áp dụng các phương pháp mới để quản lý công việc. Biểu hiện khác là ở hành động cụ thể của người lãnh đạo cơ quan trong việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, là người có trách nhiệm và quyền hạn cao nhất trong cơ quan, thủ trưởng cơ quan phải là người đi đầu trong việc để ra các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sử dụng NSNN, tuy nhiên thủ trưởng các cơ quan hành chính chưa làm đƣợc điều đó. Lĩnh vực đƣợc đánh giá là chi tiêu còn chƣa tiết kiệm nhất đó là chi phí xăng xe và chi phí cho ôtô, chi tiếp khách và chi khác là những nội dung chi mà thủ trưởng cơ quan hoàn toàn có thẩm quyền quyết định việc chi như thế nào, và đây thường là những nội dung chi có khả năng tiết kiệm cao nhất, tuỳ thuộc vào quyết định của thủ trưởng đơn vị. Thực tế thì thủ trưởng các đơn vị không ai tự ý hạn chế quyền của mình trong việc chi tiêu ngân sách nếu không có cơ chế bắt buộc họ phải thực hiện tiết kiệm chống lãng phí trong chi tiêu. Điều đó đòi hỏi cần phải có cơ chế giám sát và bắt buộc người đúng đầu đơn vị phải thực hiện tiết kiệm trong chi tiêu thông qua xây dựng tốt và thực hiện tốt quy chế chi tiêu nội bộ và quản lý tài sản công.

Một phần của tài liệu Luận văn tăng cường thực hiện chế độ tự chủ tự chịu trách nhệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà nước ở tỉnh bắc giang (Trang 69 - 72)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(120 trang)