CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ TỰ CHỦ ĐỐI VỚI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC Ở TỈNH BẮC GIANG
3.1. Quá trình triển khai thực hiện chế độ tự chủ ở tỉnh Bắc Giang
3.1.2 Quá trình triển khai thực hiện chế độ tự chủ ở tỉnh Bắc Giang
3.1.2.1 Thực hiện theo Quyết định 192
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, từ năm 2002 tỉnh Bắc Giang bắt đầu triển khai cho các đơn vị đăng ký thí điểm thực hiện khoán chi, ngay trong năm 2002 đã có 02 đơn vị đăng ký, sau khi nghiên cứu đề án và có sự thống nhất giữa sở Nội vụ, sở Tài chính, ngày 26 tháng 02 năm 2002 Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang đã ban hành Quyết định số 585/2002/QĐ-CT cho phép 02 cơ quan là Sở Công nghiệp và Chi cục Kiểm lâm thực hiện thí điểm cơ chế khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính. Số đơn vị thực hiện khoán tăng nhanh trong các năm tiếp theo, cụ thể: số đơn vị nhận khoán năm 2003 tăng lên là 06 đơn vị, năm 2004 là 17 đơn vị, năm 2005 là 23 đơn vị, trong đó có 16 cơ quan thuộc UBND tỉnh.
Bảng 3.2: Danh sách các đơn vị thực hiện Quyết định 192/2001/QĐ-TTg
STT Cơ quan Năm bắt đầu thực hiện
2002 2003 2004 2005
1 Sở Công nghiệp
2 Chi cục KL (VP)
3 Sở LĐTB&XH (VP Sở)
4 Sở TM-DL (VP)
5 Sở GTVT
6 Sở KH - CN (VP)
7 Thanh tra tỉnh
8 Sở KH – ĐT
9 Sở TN – MT
10 Sở Nội vụ
11 Sở Tƣ pháp (VP)
12 Sở Tài chính
13 Sở Y tế
14 UBND huyện Tân Yên
15 Tỉnh đoàn TN
16 Hội CCB tỉnh
17 Uỷ ban MTTQ tỉnh
18 Sở Thể dục Thể thao
19 Uỷ ban DSGDTE
20 Sở Xây dựng
21 Sở NNPTNT
22 Phòng Công chứng
23 UBND huyện Yên Thế
Nguồn: Ban chỉ đạo CCHC tỉnh Bắc Giang Ngày 13 tháng 6 năm 2002 UBND tỉnh Bắc Giang đã ban hành Kế hoạch số 87/2002/KHCCHC-UB về việc ban hành kế hoạch cải cách hành chính giai đoạn 2002-2005 và nhiệm vụ cải cách hành chính năm 2002 tỉnh Bắc Giang. Kế hoạch đã một lần nữa nhấn mạnh việc thực hiện thí điểm cơ chế khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với 02 cơ quan trên và mở rộng thí điểm đối với các cơ quan hành chính khác trong những năm tiếp theo.
Sau 4 năm (từ năm 2002 đến năm 2005) thực hiện cơ chế khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính theo Quyết định số 192/2001/QĐ-TTg ngày 17
tháng 12 năm 2001 của Thủ tường Chính phủ tại tỉnh Bắc Giang đã cho thấy hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan thực hiện khoán được nâng lên về chất lƣợng; quy trình xử lý công việc đƣợc xây dựng hợp lý, khoa học; nâng cao chất lƣợng thực hiện quy chế dân chủ ở cơ quan. Việc thực hiện cơ chế khoán đã đƣợc mở rộng cả về chiều rộng và chiều sâu. Cơ chế khoán không chỉ đƣợc thực hiện với các cơ quan hành chính mà các tổ chức chính trị nhƣ: UB MTTQ tỉnh, Hội Cựu chiến binh, Tỉnh Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân cũng lựa chọn áp dụng vì thấy đƣợc những lợi ích của cơ chế mới6.
Thực hiện khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan HCNN trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong thời gian qua đạt đƣợc một số kết quả trên các mặt cụ thể nhƣ sau:
Đổi mới tổ chức bộ máy và sắp xếp biên chế: Cơ chế khoán và chế độ tự chủ đã có tác dụng nhất đinh tới việc thúc đẩy các cơ quan tiến hành đổi mới bộ máy, sắp xếp lại biên chế một cách hợp lý hơn. Một số đơn vị đã chủ động sắp xếp lại cơ cấu tổ chức theo hướng tinh gọn, gắn với cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”; từ đó sắp xếp lại biên chế, tinh giảm đội ngũ công chức trong các cơ quan; xây dựng nhiệm vụ, chức năng cho từng phòng, ban, chức danh công chức; bố trí lao động và phân công nhiệm vụ sát hơn, khoa học, rõ ràng hơn đối với từng cán bộ, công chức, vừa tinh giản biên chế, vừa nâng cao chất lƣợng, hiệu suất công việc.
Số lƣợng tinh giản biên chế tính đến 31/12/2005 tại các cơ quan quản lý nhà nước là 168 người, bằng 13,58% tổng số biên chế hành chính nhà nước của tỉnh. Tinh giản biên chế đã có tác dụng nhất định nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức, trình độ chuyên môn đào tạo chung đƣợc nâng lên.
Kết quả khảo sát bằng phỏng vấn theo bảng hỏi tại 9 cơ quan với đối tƣợng là đồng chí Chánh văn phòng theo nội dung “đánh giá khái quát về tác dụng việc thực hiện cơ chế khoán và chế độ tự chủ” theo 3 mức độ: “rất tốt”–
6 Báo cáo Tổng kết thực hiện Quyết định 192/2001/QĐ-TTg của UBND tỉnh Bắc Giang.
“tốt”–“chƣa tốt”, có 1/9 câu trả lời là “rất tốt” và 8/9 câu trả lời là “tốt”. Điều đó cho thấy, cơ chế khoán và chế độ tự chủ đã có tác dụng tốt đối với các cơ quan Nhà nước ở tỉnh Bắc Giang.
Thực hành tiết kiệm trong sử dụng kinh phí quản lý hành chính:
Một trong những mục đích của cơ chế khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính là chống lãng phí, thực hành tiết kiệm. Qua triển khai có thể khẳng định các cơ quan đã quán triệt và thực hiện tốt chủ trương sử dụng kinh phí tiết kiệm, hiệu quả. Cùng với việc cải cách thủ tục hành chính, sắp xếp lại tổ chức, biên chế; giảm những người không đạt tiêu chuẩn công chức, một số cơ quan đã xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, cân nhắc việc cử cán bộ đi công tác, tổ chức hội nghị, không mua sắm những tài sản đắt tiền và không thật cần thiết, xây dựng định mức tiêu chuẩn văn phòng phẩm, quy chế sử dụng điện thoại công vụ và định mức cước phí điện thoại, quy chế sử đụng điện và thiết bị điện, quy chế sử dụng ôtô đi công tác… Nhờ những giải pháp trên, các cơ quan hành chính thực hiện thí điểm khoán đã tiết kiệm chi từ 3,97% đến 8,07% tổng chi quản lý hành chính7.
Tổng hợp báo cáo kết quả của các đơn vị thực hiện khoán cho thấy:
năm 2002 với 2 đơn vị tiết kiệm đƣợc 42.070.000VND bằng 8,07% kinh phí khoán; năm 2003 theo số liệu của 6 đơn vị là 129.349.000VND bằng 4,00%
kinh phí khoán; năm 2004 theo số liệu của 16 đơn vị là 505.485.000VND bằng 3,97% kinh phí khoán; năm 2005 theo số liệu của 19 đơn vị 815.745.000VND bằng 6,02% kinh phí khoán. Thực tế tỷ lệ tiết kiệm không ổn định, tăng giảm thất thường qua các năm là do mỗi năm lại có một số đơn vị mới tiến hành thực hiện tự chủ, một nguyên nhân nữa cũng có thể đƣợc giải thích đó là quá trình thực hiện cơ chế khoán và chế độ tự chủ chƣa đi vào nề nếp ổn định và theo một quy trình thống nhất. Chi tiết xem: Bảng 3.3
7 Số liệu theo Bảng tổng hợp
Bảng 3.3: Tình hình tiết kiệm kinh phí qua các năm của các đơn vị thực hiện Quyết định 192/2001/QĐ-TTg
STT Cơ quan
Năm thực hiện
2002 2003 2004 2005
Kpkhoán T/kiệm Kpkhoán T/kiệm Kpkhoán T/ kiệm Kpkhoán T/kiệm
1 Sở Công nghiệp 453000 16400 453000 23020 453000 23180 453000 64540 2 Chi cục KL (VP) 487200 25670 487200 45000 487200 41500 487200 5170
3 Sở LĐTB&XH (VP Sở) 694500 22000 694500 31000 694500 22000
4 Sở TM-DL (VP) 579500 5873 579500 14343 579500 18600
5 Sở GTVT 555000 3593 555000 17082
6 Sở KH - CN (VP) 466000 29863 466000 28179 466000 32515
7 Thanh tra tỉnh 788000 32456 788000 88336
8 Sở KH - ĐT 1328000 42600 1328000 47456
9 Sở TN - MT 912900 39200 912900 53100
10 Sở Nội vụ 690000 24412 690000 63236
11 Sở Tƣ pháp (VP) 733000 3400 733000 21000
12 Sở Tài chính 1996000 129100 1996000 181423
13 Sở Y tế 887000 15150 887000 21000
14 UBND huyện Tân Yên
15 Tỉnh đoàn TN 812000 17300 812000 48100
16 Hội CCB tỉnh 279000 22800 279000 32670
17 Uỷ ban MTTQ tỉnh 1061000 23783 1061000 33902
18 Sở Thể dục Thể thao 470000 24797
19 Uỷ ban DSGDTE 333000 21000
20 Sở Xây dựng 579500 36900
21 Sở NNPTNT
22 Phòng Công chứng
23 UBND huyện Yên Thế
Tổng số: 521400 42070 3235200 129349 12722100 505485 13549600 815745
Tỉ lệ tiết kiệm (%): 8.07 4.00 3.97 6.02
Nguồn: Ban chỉ đạo CCHC tỉnh Bắc Giang
Kết quả từ khảo sát bằng phỏng vấn cũng cho thấy những xu hướng thay đổi theo chiều hướng tích cực trong sử dụng cũng như ý thức sử dụng tiết kiệm kinh phí hành chính. Kết quả khảo sát ở 9 đơn vị cho thấy: với câu hỏi “Ý thức tiết kiệm trong sử dụng kinh phí hành chính của công chức cũng nhƣ lãnh đạo trong cơ quan ?” với hai mức độ “Đƣợc nâng lên” – “Chƣa rõ ràng” thu đƣợc câu trả lời là 8/9 đánh giá “Đƣợc nâng lên” và 1/9 đánh giá “Chƣa rõ ràng”.
Tăng thu nhập cho cán bộ, công chức: Từ những kết quả nêu trên về đổi mới phương thức quản lý, sắp xếp cơ cấu tổ chức bộ máy, tinh giảm biên chế, chống lãng phí, thực hành tiết kiệm; các cơ quan thực hiện khoán đã tạo đƣợc nguồn kinh phí để tăng thu nhập cho cán bộ, công chức. Theo số liệu báo cáo năm 2005 của 23 đơn vị thực hiện khoán, thu nhập tăng thêm bình quân là 92.700VND/người/tháng; đơn vị có thu nhập tăng thêm cao nhất là Sở Nội vụ 239.500VND/người/tháng.