Khái quát chung về chế độ tự chủ đối với cơ quan nhà nước 20

Một phần của tài liệu Luận văn tăng cường thực hiện chế độ tự chủ tự chịu trách nhệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà nước ở tỉnh bắc giang (Trang 25 - 29)

CHƯƠNG 2: CHẾ ĐỘ TỰ CHỦ ĐỐI VỚI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC VÀ

2.1. Khái quát chung về chế độ tự chủ đối với cơ quan nhà nước 20

Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ƣơng lần thứ 7 khoá VIII đã khẳng định: “… chỉ đạo thí điểm việc khoán biên chế và khoán chi phí hành chính ổn định một số năm để khuyến khích việc giảm biên chế và tiết kiệm chi phí hành chính ở các cơ quan, đơn vị. Khắc phục tình trạng các cơ quan tăng thêm biên chế dưới bất cứ hình thức nào”. Để thực hiện Nghị quyết, UBND thành phố Hồ Chí Minh đã nghiên cứu việc thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính. Căn cứ vào đề nghị của UBND thành phố Hồ Chí Minh, ngày 17/12/1999 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 230/1999/QĐ-TTg về việc thực hiện thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với một số cơ quan thuộc thành phố Hồ Chí Minh (10 đơn vị trong đó có 4 quận, 3 huyện và 3 sở). Sau hơn một năm thực hiện, tháng 5/2001, trên cơ sở những kết quả đạt đƣợc, UBND thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho tiếp tục thí điểm khoán đối với 10 đơn vị và mở rộng đối với tất cả các sở, ban, ngành, quận, huyện còn lại của thành phố Hồ Chí Minh.

Từ thực tiễn triển khai cơ chế khoán theo QĐ số 230/TTg của Thủ tướng Chính phủ tại thành phố Hồ Chí Minh, ngày 17/12/2001 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành QĐ số 192/2001/QĐ-TTg về mở rộng thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan HCNN. Đến tháng 10 năm 2005 đã có 58/64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng và 3 Bộ triển khai thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính. Trong đó các địa phương đã giao khoán cho trên 1.500 cơ quan hành chính trực thuộc, đạt tỷ lệ khoảng 60% tổng số cơ quan hành chính thuộc tỉnh; một số địa phương đã thực hiện mở rộng thực hiện cơ chế khoán đối với tất cả các cơ quan hành

chính, các cơ quan Đảng và các đoàn thể chính trị của địa phương như: Tỉnh Bình Dương, tỉnh Bến Tre, TP Hồ Chí Minh..; ở Trung ương có Bộ Lao động Thương binh và xã hội, Bộ Giao thông vận tải và Bộ Tài chính thực hiện thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính cho trên 160 cơ quan hành chính trực thuộc, riêng Bộ Tài chính đã thực hiện cơ chế khoán đối với các đơn vị thuộc hệ thống Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan và Kho bạc Nhà nước. Sau hơn 3 năm thực hiện cơ chế khoán theo Quyết định 192/2001/QĐ-TTg đã cho thấy đây là hướng cải cách đúng đắn cần tiếp tục thực hiện trong tiến trình cải cách. Tuy nhiên Quyết định 192/2001/NĐ-CP mới chỉ là chính sách mang tính chất thí điểm, để tăng cường tính pháp lý cho chính sách đồng thời khắc phục một số hạn chế của Quyết định 192, ngày 17/10/2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 130/2005/NĐ-CP quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước, đây là một bước đột phá trong quá trình cải cách phương thức quản lý tài chính đối với các cơ quan nhà nước.

Mục tiêu của việc ban hành Nghị định này là tạo điều kiện cho các cơ quan chủ động trong việc sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính một cách hợp lý nhất để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ đƣợc giao; Thúc đẩy việc sắp xếp, tổ chức bộ máy tinh gọn, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc sử dụng lao động, kinh phí quản lý hành chính; Nâng cao hiệu suất lao động, hiệu quả sử dụng kinh phí quản lý hành chính, tăng thu nhập cho cán bộ, công chức; Thực hiện quyền tự chủ đồng thời gắn với trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị và cán bộ, công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật.

2.1.2 Khái quát về cơ chế khoán và chế độ tự chủ đối với CQNN Cơ chế khoán, thực hiện theo Quyết định 192/2001/QĐ-TTg ngày 17/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ, và chế độ tự chủ, thực hiện theo Nghị định 130/2005/NĐ-CP, thực chất là cùng một chính sách, đƣợc triển khai qua hai giai đoạn khác nhau. Trong giai đoạn đầu thực hiện, chính sách có tên gọi

là cơ chế khoán, ở giai đoạn tiếp theo sau một thời gian thực hiện và có sự điều chỉnh, chính sách đƣợc gọi là chế độ tự chủ. Chính vì thế, mục tiêu chung của chính sách là thống nhất thông qua cả hai giai đoạn thực hiện, các nội dung khác của chính sách về cơ bản là tương đồng, tuy nhiên trong chế độ tự chủ, các nội dung cụ thể đã đƣợc điều chỉnh cho phù hợp hơn với tình hình thực tế cũng nhƣ mục tiêu chung của chính sách.

Trước hết, về mục tiêu chung của chính sách: cơ chế khoán và chế độ tự chủ là sự cải cách trong phương thức quản lý đối với các cơ quan nhà nước, dựa trên ý tưởng trao quyền tự chủ nhiều hơn cho các cơ quan nhà nước trong việc sử dụng các nguồn lực cũng nhƣ bố trí, sắp xếp công việc, tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ; giảm sự can thiệp trực tiếp của các cơ quan cấp trên vào quá trình tổ chức, hoạt động của CQNN cấp dưới; đồng thời tiến hành quản lý chặt chẽ kết quả đầu ra của CQNN. Nhƣ vậy có thể thấy, ý tưởng quản lý theo kết quả đã được áp dụng trong chính sách này. Trong giai đoạn đầu của quá trình thực hiện chính sách, thực hiện cơ chế khoán theo Quyết định 192, yêu cầu chỉ ở mức thí điểm do đó tính pháp lý của chính sách chƣa cao và các nội dung của chính sách chƣa hoàn chỉnh, phạm vi bao trùng của chính sách chƣa rộng khắp. Sang giai đoạn tiếp theo, từ năm 2005 sau khi Nghị định 130 ra đời, chế độ tự chủ đã mở rộng phạm vi của chính sách ra tất cả các CQNN, thiết lập khung pháp ký chặt chẽ bắt buộc tất cả các CQNN phải thực hiện.

Về nội dung của chính sách, bao gồm nội dung cơ bản đó là: Thực hiện khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính cho CQNN; trao quyền chủ động trong việc sử dụng biên chế, kinh phí và sắp xếp công việc cho CQNN;

đảm bảo thực hiện hoàn thành tốt nhiệm vụ đƣợc giao. Nhƣ vậy, nội dung chính sách đã thể hiện việc trao quyền cho CQNN thể hiện trên ba mặt Quyền hạn - Kinh phí - Trách nhiệm, điều đó thể hiện việc trao quyền tự chủ mạnh mẽ cho CQNN, vấn đề ở đây là sự trao quyền đó có thực sự theo đúng cam

kết hay không và việc thực hiện của CQNN đƣợc đến đâu. Nội dung cơ bản của chế độ tự chủ chỉ rõ hơn ý tưởng cải cách theo hướng áp dụng phương thức quản lý theo kết quả đối với CQNN thông qua việc trao quyền tự chủ tối đa cho CQNN.

Về điều kiện đủ để thực hiện chính sách, có một yêu cầu thống nhất đó là CQNN thực hiện tự chủ phải xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ và quản lý, sử dụng tài sản công. Bản quy chế này đƣợc xây dựng thông qua việc lấy ý kiến công khai, dân chủ trong toàn thể công chức của cơ quan, các chỉ tiêu, định mức chi ngân sách trong cơ quan đƣợc công khai thống nhất trên cơ sở chỉ tiêu định mức theo quy định của nhà nước và các ý kiến thống nhất của tập thể công chức cơ quan. Đây chính là cơ sở để tạo ra cơ chế giám sát từ bên trong, từ chính những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ đối với những người quản lý, đảm bảo quyền tự chủ được trao cho cả tập thể CQNN chứ không phải một số cá nhân lãnh đạo trong CQNN. Bản quy chế chi tiêu nội bộ là cơ sở để giám sát việc thực hiện chế độ tự chủ đồng thời là căn cứ để đánh giá mức độ hoàn thành công việc của các nhân cũng nhƣ tập thể CQNN, thông qua đó là một kênh để theo dõi kết quả đầu ra của CQNN. Thông qua quy chế chi tiêu nội bộ giúp tăng cường môi trường dân chủ trong các CQNN, đây là một yếu tố rất quan trọng trong mục tiêu cải cách chung, đồng thời là yếu tố có tác dụng mạnh mẽ tới việc thực hiện đạt đƣợc các mục tiêu khác của cải cách hành chính.

Về một số nội dung cụ thể của cơ chế khoán, chế độ tự chủ cũng nhƣ một số điểm mới của chế độ tự chủ so với cơ chế khoán, xem thêm trong Hộp 2.4, Hộp 2.5, Hộp 2.6.

Một phần của tài liệu Luận văn tăng cường thực hiện chế độ tự chủ tự chịu trách nhệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà nước ở tỉnh bắc giang (Trang 25 - 29)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(120 trang)