CHƯƠNG 4: KIẾN NGHỊ TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ TỰ CHỦ ĐỐI VỚI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC Ở TỈNH BẮC GIANG
4.1. Định hướng chung về thực hiện chế độ tự chủ thời gian tới
4.1.1 Định hướng của Đảng và Nhà nước về cải cách hành chính trong thời gian tới
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, tháng 4 năm 2006 đã thông qua Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khoá IX đã đánh giá kết quả của cải cách hành chính ở giai đoạn trước đó là “Đã tăng cường một bước tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; phân định cụ thể hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Chính phủ, của các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp, đông thời thực hiện sự phân cấp nhiều hơn.” Báo cáo cũng chỉ rõ những khuyết điểm và yếu kém trong công tác cải cách hành chính “ Bộ máy quản lý nhà nước các cấp, nhất là ở cơ sở còn yếu kém. Tình trạng nhũng nhiễu, cửa quyền, thiếu trách nhiệm ở một bộ phận công chức, nhất là ở các cơ quan trực tiếp giải quyết công việc của dân và doang nghiệp, chậm được khắc phục. ... Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu.” Trước thực trạng đó, Báo cáo cũng đã đƣa ra mục tiêu tổng quát cho giai đoạn 2006-2010 là “...đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới ...” và nhiệm vụ cụ thể trong 5 năm tới là: “Nâng cao vai trò và hiệu lực quả lý của Nhà nước.” “ giảm tối đã sự can thiệp hành chính vào hoạt động của thị trường, doanh nghiệp ....tách hệ thống cơ quan hành chính công khỏi hệ thống cơ quan sự nghiệp; phát triển mạnh các dịch vụ công cộng.” “Đổi mới phương thức quản lý và cung ứng các dịch vụ công. Phát triển về quy mô gắn với chất lƣợng và hiệu quả các dịch vụ công cọng, nâng cao năng lực quản lý HCNN.” Từng bước chuyển các cơ sở công lập dịch vụ công cộng đang hoạt động theo cơ chế sự nghiệp mang nặng tính hành chính bao cấp sang cơ chế tự chủ”. “Khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước phát triển các dịch vụ công cộng.” “Đẩy mạnh cải cách
hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng hệ thống cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại. ...Phân cấp mạnh, giao quyền chủ động hơn nữa cho chính quyền địa phương, nhất là trong việc quyết định về ngân sách, tài chính, đầu tƣ, nguồn nhân lực”. “Thực hiện các giải pháp nhằm chấn chỉnh bộ máy và quy chế hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức. Cơ cấu lại độ ngũ cán bộ, công chức và đào tạo, bồi dƣỡng theo yêu cầu nâng cao chất lƣợng cả về năng lực và phẩm chất đạo đức. Có cơ chế kịp thời đưa ra khỏi bộ máy nhà nước những công chức không xứng đáng , kém phẩm chất, năng lực” 9. Văn kiện cũng đƣa ra chính sách và giải pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội trong thời gian tới là “Đẩy mạnh cải cách tài chính công, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội”.
Tổng kết giai đoạn một của chương trình Tổng thể cải cách HCNN (2001-2005) Chính phủ đã thông qua chương trình và kế hoạch cải cách HCNN giai đoạn hai (2006-2010). Ngày 27 tháng 4 năm 2006 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết địnhsố 94/2006/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch cải cách HCNN giai đoạnn II (2006-2010). Bên cạnh đó, một loạt các đề án thí điểm cải cách đã đƣợc tổng kết, đánh giá và thể chế hoá thành chính sách để triển khai áp dụng trên toàn quốc. Nhiều quyết định đã đƣợc ban hành để cụ thể hoá các chủ trương, hướng dẫn các định mức để thực hiện chế độ tự chủ. Xem Hộp 4.1
Nhƣ vậy có thể thấy, sự chỉ đạo của trung ƣơng, của Chính phủ là hết sức quyết liệt và cụ thể đối với công cuộc cải cách hành chính. Chỉ trong một thời gian ngắn, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành một loạt các Quyết định ban hành các định mức, các quy định hướng dẫn cụ thể việc triển khai cải cách trong các lĩnh vực. Sự chỉ đạo của Chính phủ, mà cụ thể là Thủ tướng Chính phủ hết sức sâu sát, Chỉ thị số 32/2006/CT-TTg ngày 07 tháng 9 năm
9 Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, trang 128
2006 Thủ tướng Chính phủ đã chỉ rõ “Thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã đề ra và chỉ đạo thực hiện nhiều biện pháp để chấn chỉnh, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong hoạt động của bộ máy HCNN, nhất là trong việc giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, tình trạng quan liêu, nhũng nhiễu, cửa quyền, gây phiền hà của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan HCNN, tổ chức sự nghiệp dịch vụ công trong giải quyết các thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công liên quan đến đời sống thiết thân hàng ngày của người dân và hoạt động đầu tư, kinh doanh của các nhà đầu tƣ, doanh nghiệp vẫn còn rất phổ biến, có lúc, có nơi nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư và kinh doanh, gây bức xúc trong xã hội”. Chính phủ đã đƣa ra thông điệp tiếp tục cải cách hành chính mạnh mẽ trong thời gian tới, cởi bỏ những rào cản hành chính, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội của đất nước.
4.1.2 Chủ trương của Tỉnh thực hiện cải cách hành chính và chế độ tự chủ trong thời gian tới
Nhận thức tầm quan trọng của chương trình cải cách hành chính, lãnh đạo tỉnh đã có sự nhìn nhận, đánh giá một cách nghiêm túc về quá trình cải cách hành chính của tỉnh, từ đó đưa ra chủ trưởng cải cách trong thời gian tới.
Báo cáo của BCH Đảng bộ Tỉnh khoá XV tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đã đánh giá “Công tác cải cách hành chính đƣợc quan tâm chỉ đạo. Đã tổ chức sắp xếp lại bộ máy; rà soát, bổ sung, sửa đổi, quy định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND các cấp.
Tăng cường phân cấp cho cấp dưới. Nhiều thủ tục hành chính trên các lĩnh vực đƣợc rà soát, sửa đổi”. Báo cáo cũng đánh giá thẳng thắn những hạn chế, thiếu sót “Tổ chức, hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp có mặt còn bất cập. Công tác cải cách hành chính còn chƣa mạnh; hiệu quả thực hiện cơ chế một cửa chưa cao. Quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực còn yếu. Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở nhiều cơ sở còn hình thức, nhất là các doanh nghiệp,
cơ quan hành chính, các đơn vị sự nghiệp.” Trong phương hướng phát triển của tỉnh giai đoạn 2006-2010, Báo cáo đã đƣa mục tiêu tổng quát “đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo bước chuyển biến tích cực trong quản lý nhà nước trên các lĩnh vực” và xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới là “Đẩy mạnh cải cách hành chính; phát huy dân chủ, tăng cường kỷ cương, nâng cao chất lượng quản lý, điều hành của cơ quan chính quyền các cấp” trong đó đã nêu rõ “tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính ở các cấp, các ngành; nâng cao chất lƣợng cơ chế một cửa; chấn chỉnh công tác quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực” “ Tiếp tục thực hiện tinh giảm biên chế, gắn với nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức, xây dựng phong cách làm việc “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”10. Đề ra phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của Tỉnh trong giai đoạn 2006-2010, một trong các nhóm giải pháp chủ yếu đƣợc đƣa ra đó là “Đẩy mạnh cải cách hành chính,tăng cường kỷ cương, kỷ luật và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, cải thiện quan hệ giữa cơ quan nhà nước với nhân dân.
Tiếp tục thực hiện Chương trình cải cách hành chính, nâng cao chất lượng trong việc thực hiện cơ chế một cửa; sửa đổi, bãi bỏ những quy định không cần thiết, giảm nhẹ thủ tục và thời gian giải quyết công việc của nhân dân, doanh nghiệp và nhà đầu tƣ. Nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành của UBND các cấp, tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính” “thực hiện dân chủ trong nội bộ cơ quan và trong quan hệ với dân; thực hiện công khai trong hoạt động của cơ quan nhà nước, tăng cường kỷ cương và trách nhiệm cá nhân, trước hết là trách nhiệm của người đứng đầu, trách nhiệm và thái độ ứng xử của công chức khi giải quyết công việc.”11.
Để tăng cường theo dõi, chỉ đạo và đôn đốc thực hiện cải cách hành chính trển địa bàn tỉnh trong thời gian tới, UBND tỉnh đã ra quyết định thành lập thêm phòng Phòng Cải cách hành chính, Sở Nội vụ để trực tiếp theo dõi,
10 Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVI, trang 61, 62.
11 Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVI, trang 119,120.
đôn đốc và tham mưu với lãnh đạo Sở, Ban Chỉ đạo Cải cách hành chính của tỉnh trong việc chỉ đạo thực hiện cải cách hành chính. Ngày 06 tháng 11 năm 2006, Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Bắc Giang ra Quyết định ban hành Quy chế làm việc của Sở Nội vụ tỉnh Bắc Giang trong đó nêu rõ “Phòng Cải cách hành chính có trách nhiệm giúp Lãnh đạo Sở thực hiện các nhiệm vụ sau đây: Xây dựng chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách HCNN trên địa bàn tỉnh; làm thường trực Ban chỉ đạo triển khai thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính của Chính phủ trên địa bàn tỉnh. Xây dựng kế hoạch và tổ chức kiểm tra, đôn đốc, theo dõi tổng hợp tình hình, báo cáo kết quả triển khai, thực hiện các hoạt động cải cách hành chính trên địa bàn toàn tỉnh. Thẩm định dự thảo các văn bản quy phạm pháp luạt về phân cấp quản lý; các dự thảo quyết định, chỉ thị của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh có nội dung liên quan đến cải cách hành chính; các đề án, dự án về Cải cách hành chính trước khi trình UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh quyết định. Chỉ đạo triển khai, tổ chức thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “Một cửa” tại các cơ quan HCNN trong tỉnh; chỉ đạo sơ kết, tổng kết các mô hình thí điểm về cải cách hành chính ở các quan, đơn vị, làm cơ sở để tham mưu với tỉnh tổ chức triển khai, thực hiện trong toàn tỉnh.”
Ngày 30 tháng 8 năm 2006 UBND tỉnh Bắc Giang ban hành Kế hoạch số 1896/2006/KH-UBND thực hiện NĐ số 130/2005/NĐ-CP về việc quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước, kèm theo đó là danh sách 26 cơ quan hành chính trực thuộc UBND tỉnh thực hiện chế độ tự chủ. UBND tỉnh đã yêu cầu các cơ quan hành chính tiến hành xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ, gửi Ban chỉ đạo Cải cách hành chính của tỉnh thông qua Sở Nội vụ để tổng hợp, theo dõi và tiến hành thực hiện chế độ tự chủ trong năm tài chính 2007.