Nguyên tắc chung khi xây dựng qui trình

Một phần của tài liệu Luận văn tăng cường thực hiện chế độ tự chủ tự chịu trách nhệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà nước ở tỉnh bắc giang (Trang 29 - 32)

CHƯƠNG 2: CHẾ ĐỘ TỰ CHỦ ĐỐI VỚI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC VÀ

2.2. Quy trình thực hiện chế độ tự chủ đối với cơ quan nhà nước 24

2.2.1 Nguyên tắc chung khi xây dựng qui trình

Xuất phát từ yêu cầu của công tác quản lý, đồng thời nhằm thực hiện đúng các nguyên tắc, yêu cầu của Nghị định 130, khi xây dựng qui trình thực hiện chế độ tự chủ cần đảm bảo những nguyên tắc sau đây:

Nguyên tắc thứ nhất: Phải thực hiện đồng thời giao kinh phí tự chủ với giao quyền hạn và qui định rõ trách nhiệm đối với cơ quan thực hiện tự chủ. Nhƣ trên đã phân tích, nếu chỉ giao kinh phí và quyền hạn mà không qui định rõ trách nhiệm của lãnh đạo các cơ quan đối với việc thực hiện CNNV của mình thì không có cơ sở để buộc các cơ quan phải tự chịu trách nhiệm. Kết quả là cơ quan có thể sử dụng tiết kiệm kinh phí đƣợc giao, tiết kiệm biên chế nhƣng bằng cách giảm bớt khối lƣợng công việc mà mình đáng lẽ phải làm. Để khắc phục điều này, cần xây dựng rõ ràng CNNV cho từng cơ quan, tiến tới xây dựng các bản giao việc cụ thể cho từng CBCC. Cái gì giao cụ thể thì mới có thể quản lý và qui trách nhiệm đƣợc.

Ngƣợc lại, nếu chỉ giao kinh phí và qui định trách nhiệm đối với các cơ quan nhà nước, nhưng lãnh đạo các cơ quan đó không có được sự chủ động, linh hoạt tương ứng để sử dụng có hiệu quả nhất kinh phí được giao và thực hiện tốt CNNV của mình thì lãnh đạo các cơ quan sẽ không có thực quyền. Kết quả là họ vẫn thụ động, “bảo sao làm vậy” và không thực hiện đƣợc mục đích của Nghị định 130. Để khắc phục điều này, lãnh đạo các đơn vị thực hiện chế độ tự chủ cần đƣợc thực sự tự chủ về cả mặt tài chính và nhân sự. Trong sử dụng, các cơ quan phải đƣợc quyền chủ động sử dụng hết hay không hết số biên chế đƣợc giao mà không ảnh hưởng đến kinh phí QLHC được nhận. Đối với cơ quan Nội vụ, để đảm bảo giao biên chế tự chủ cho các đơn vị phù hợp với tính chất, khối lƣợng và chất lƣợng công việc của từng cơ quan, cần tiến hành điều tra, đánh giá việc thực hiện kết quả công việc của từng cơ quan, đối chiếu so sánh với CNNV đã đƣợc giao để xác định mức biên chế hợp lý giao cho các đơn vị.

Cuối cùng, nếu chỉ qui định quyền hạn và trách nhiệm đối với các cơ quan, nhƣng không giao đủ kinh phí đi kèm thì các cơ quan sẽ không có phương tiện thực tế để thực hiện quyền tự chủ mình. Kết quả, việc giao tự chủ sẽ chỉ còn là hình thức, và khi các cơ quan thực hiện xong chế độ tự chủ mà không thấy có chuyển biến gì thực chất trong việc quản lý đơn vị mình thì họ sẽ không còn ủng hộ cải cách nữa. Điều này rất nguy hiểm, vì cải cách đã đề xướng mà không thực hiện được đến nơi đến chốn, “đánh trống bỏ dùi” thì sẽ rất khó phát động lại cải cách đó một lần thứ hai. Để khắc phục điều này, cần lưu ý khi xác định mức kinh phí giao tự chủ, không nên giao quá thấp đến mức các cơ quan chỉ đủ chi trả lương hoặc một phần tối thiểu kinh phí hoạt động của mình, còn không có hoặc có không đáng kể khả năng tiết kiệm. Trước mắt, khả năng tiết kiệm để tăng thu nhập là một động lực lớn đối với các cơ quan đƣợc giao tự chủ. Nếu động lực này mất đi thì cải cách sẽ thất bại.

Nhƣ vậy, cốt lõi của việc thực hiện thành công chế độ tự chủ đơn vị các cơ quan nhà nước là phải đảm bảo mối quan hệ ba chiều như đã mô tả tóm tắt trong Hình 2.1

Hình 2.1: Mối quan hệ ba chiều cần đảm bảo khi thực hiện chế độ tự chủ

Nguyên tắc thứ hai: Phải có sự gắn kết chặt chẽ giữa cơ quan nội vụ, tài chính và đơn vị thực hiện chế độ tự chủ. Xương sống của việc thực hiện chế độ tự chủ là phải xác định đƣợc biên chế hợp lý làm cơ sở định biên

Tài chính (Ngân sách)

Quyền hạn Trách nhiệm

Chế độ tự chủ

giao cho các đơn vị (chức năng của cơ quan nội vụ), từ đó xác định mức giao kinh phí hợp lý trên một biên chế hợp lý đáp ứng đƣợc Nguyên tắc 1 (chức năng của cơ quan Tài chính). Trên cơ sở kinh phí và biên chế đƣợc giao, các cơ quan tiến hành xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ (chức năng của cơ quan đƣợc giao tự chủ). Vì thế, nếu thiếu sự phối hợp giữa ba cơ quan này thì một khâu công việc sẽ bị gián đoạn hoặc thực hiện với chất lƣợng không cao, dẫn đến thực hiện chế độ tự chủ sẽ mang tính hình thức. Để đảm bảo Nguyên tắc này, cần nhấn mạnh đến tính chất đối thoại thường xuyên, công khai minh bạch trong việc xác định biên chế và kinh phí giao tự chủ giữa ba cơ quan nói trên để đảm bảô tính hợp lý thống nhất giữa ba chủ thể chủ yếu có liên quan đến quá trình thực hiện tự chủ.

Nguyên tắc thứ ba: Thường xuyên rà soát hoàn thiện dần chế độ tự chủ, không nên coi đây là việc làm một lần duy nhất. Do lịch sử để lại, chế độ tự chủ không thể xây dựng một lần là xong. Nhiều yếu tố cần thiết cho một chế độ tự chủ hoàn thiện không xuất hiện ngay lập tức. Vì thế, cần có những bước đi quá độ, chuyển biến từng bước. Cải cách hành chính là một quá trình phức tạp, liên quan đến nhiều bộ phận và trải rộng trên nhiều lĩnh vực. Tất cả những công việc đó không thể hoàn thành một sớm một chiều. Do đó, qui trình thực hiện chế độ tự chủ cần được lặp lại thường xuyên theo hướng hoàn thiện dần. Để đảm bảo Nguyên tắc này, hàng năm cần tổ chức đánh giá định kỳ việc thực hiện Nghị định 130, trong đó chú trọng đến việc thu thập các ý kiến phản hồi về những bất hợp lý trong chế độ tự chủ từ các cơ quan đã đƣợc giao tự chủ. UBND tỉnh/huyện/thị cũng cần có lộ trình, bước đi rõ ràng cho việc hoàn thiện dần qui trình giao tự chủ. Nguyên tắc này đảm bảo tính bền vững và lâu dài cho thực hiện chế độ tự chủ, tạo cơ sở cho việc phát huy tác dụng lâu dài và có ý nghĩa cải cách sâu sắc của chế độ tự chủ.

Một phần của tài liệu Luận văn tăng cường thực hiện chế độ tự chủ tự chịu trách nhệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà nước ở tỉnh bắc giang (Trang 29 - 32)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(120 trang)