Kết quả thực hiện các mục tiêu của chính sách

Một phần của tài liệu Luận văn tăng cường thực hiện chế độ tự chủ tự chịu trách nhệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà nước ở tỉnh bắc giang (Trang 60 - 65)

CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ TỰ CHỦ ĐỐI VỚI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC Ở TỈNH BẮC GIANG

3.2. Đánh giá kết quả thực hiện cơ chế khoán và chế độ tự chủ ở tỉnh Bắc Giang

3.2.1 Đánh giá các kết quả đạt được

3.2.1.1 Kết quả thực hiện các mục tiêu của chính sách

Thực hiện cơ chế khoán và chế độ tự chủ để thực hiện mục tiêu cải cách hành chính trong lĩnh vực quản lý tài chính đối với các cơ quan hành chính, đƣợc cụ thể hoá bằng các mục tiêu nhƣ: cải cách tổ chức bộ máy tinh gọn cả về tổ chức và con người, thực hiện tiết kiệm trong sử dụng kinh phí, nâng cao hiệu quả và chất lƣợng công việc. Ngoài các biện pháp tác động từ bên ngoài thì cũng tạo ra biện pháp khuyến khích từ bên trong để đạt đƣợc các mục tiêu đó là trao quyền tự chủ cho đơn vị trong việc sử dụng các nguồn lực và thực hiện nhiệm vụ, tạo động lực kích thích bằng lợi ích kinh tế đối với công chức trong các cơ quan.

Cơ chế khoán và chế độ tự chủ đối với các cơ quan hành chính thực hiện ở tỉnh Bắc Giang trong thời gian qua đã thu đƣợc những kết quả khá tốt, đƣợc thể hiện thông qua các mục tiêu của chính sách đã đạt đƣợc những kết quả tương đối tích cực, đã thực hiện tốt các biện pháp khuyến khích từ bên trong theo mục tiêu đề ra.

Triển khai thực hiện cơ chế khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính, các cơ quan nhà nước thực hiện cơ chế khoán đã có sự rà soát, xác định lại CNNV để sắp xếp tổ chức bộ máy một cách hợp lý, làm cơ sở xác định số biên chế cần thiết, hợp lý, xác định số kinh phí giao khoán hợp lý đảm bảo hoàn thành các nhiệm vụ theo yêu cầu. Quyền chủ động trong việc sử dụng biên chế của các cơ quan đã được nâng lên, thủ trưởng cơ quan đã được chủ động trong việc sắp xếp, bố trí số biên chế đƣợc giao vào các phòng ban và phân công nhiệm vụ theo yêu cầu công việc, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn chung của cơ quan. Thủ trưởng cơ quan cũng đã được trao quyền và chủ động trong việc sắp xếp số biên chế dôi dƣ, số biên chế không đủ khả năng đáp ứng công việc, cho nghỉ theo chế độ đối với số công chức không đủ năng lực hoàn thành công việc. Quyền chủ động trong việc sử dụng nguồn kinh phí khoán cũng được nâng lên, thủ trưởng cơ quan chủ động trong việc quyết định sử dụng nguồn kinh phí thường xuyên đã được giao khoán cho cơ quuan mình để thực hiện các công việc đáp ứng nhiệm vụ chuyên môn, việc sử dụng ngân sách đƣợc chủ động hơn trong phạm vi các định mức cho phép của nhà nước, các cơ quan hành chính không còn phải quá phụ thuộc và bị kiểm soát chặt chẽ từ phía Sở Tài chính và Kho bạc Nhà nước theo các mục chi ngân sách đối với nguồn kinh phí ngân sách mà đơn vị đƣợc cấp. Kinh phí quản lý hành chính của cơ quan được thủ trưởng cơ quan chủ động bố trí, sử dụng căn cứ trên yêu cầu công việc và quy chế chi tiêu nội bộ của cơ quan đã xây dựng. Số kinh phí tiết kiệm đƣợc cơ quan có quyền chủ động sử dụng đã tạo ra động lực cho công chức trong cơ quan tích cực thực hiện các biện pháp tiết kiệm trong các hoạt động hàng ngày nhƣ điện chiếu sáng, điện thoại, nước, văn phòng phẩm .... Nguồn kinh phí tiết kiệm được giữ lại để chi tăng thu nhập và nâng cao đời sống tinh thần cho công chức đã tạo ra nguồn khích lệ vật chất tuy không lớn nhƣng có tác động tích cực đối với công chức trong các cơ quan hành chính, đã làm cho một bộ phận công chức trong các cơ quan hành chính nhận thức đƣợc ý nghĩa, lợi ích của cơ chế khoán và chế độ tự

chủ, từ đó tích cực ủng hộ việc thực hiện chính sách. Thông qua đó, nhận thức của công chức về cải cách hành chính cũng đƣợc nâng lên, ý thức trách nhiệm trong việc thực hiện và hoàn thành công việc đƣợc nâng lên, từ đó hiệu quả của công việc được nâng lên một bước.

Cụ thể về cải cách thủ tục hành chính tại Sở Nội vụ tỉnh Bắc Giang:

Sau khi thực hiện cải cách theo cơ chế khoán và chế độ tự chủ, lãnh đạo cơ quan SỞ Nội vụ đã có sự chỉ đạo và tiến hành cải cách quy trình thủ tục giải quyết công việc. Quy trình giải quyết công việc đã đƣợc tiêu chuẩn hoá theo tiêu chuẩn ISO 9001:200 quy định rõ thời gian gải quyết đối với mỗi công việc, ví dụ: Thời gian giải quyết thủ tục và ra quyết định thành lập Hội là 10 (trước đây thường kéo dài hàng tháng hoặc vài tháng), thời gian ra Kế hoạch biên chế là 5 ngày (trước đây kéo dài từ vài tuần đến hơn một tháng)…Cơ chế một của và một cửa liên thông đã đƣợc áp dụng cùng với việc áp dụng cơ chế khoán và chế độ tự chủ đã làm giảm thời gian và công việc phải thực hiện trong việc cấp giấy phép đầu tƣ vào khu công nghiệp: Hiện nay các doanh nghiệp có nhu cầu đầu tƣ vào khu công nghiệp chỉ phải thông qua bộ phận một cửa liên thông tại Sở Kế hoạch và Đầu tƣ, sau khi tiếp nhận và thụ lý hồ sơ, trong thời gian 15 ngày doanh nghiệp sẽ đƣợc nhận toàn bộ hồ sơ gồm giấy phép đăng ký kinh doanh, con dấu, mã số thuế …(trước đây daonh nghiệp thường mất hơn 1 tháng và phải qua các cơ quan như Sở Kế hoạch, Công an, Cục thuế …)

Tuy vậy, bên cạnh những kết quả tốt nêu trên còn một số nội dung công việc thực hiện chƣa tốt, cần xem xét đánh giá lại để kịp thời điều chỉnh, đó là:

Ở một số đơn vị diễn ra tình trạng số giao biên chế năm sau cao hơn năm trước, mặc dù số biên chế thực hiện năm sau chỉ bằng số biên chế đã giao năm trước, số biên chế giao luôn cao hơn số biên chế thực tế thực hiện, điều này gây lãng phí ngân sách bởi số ngân sách cấp sẽ cao hơn so với nhu cầu và yêu cầu công việc. Nguyên nhân của hiện tƣợng này có thể là do các cơ quan hành

chính luôn muốn xin thêm nhiều biên chế để đƣợc tăng ngân sách, bên cạnh đó các cơ quan quản lý đã không thực hiện tốt việc giám sát, kiểm tra nên vẫn đáp ứng yêu cầu biên chế mặc dù thực tế không đòi hỏi nhƣ thế. Điều đó cũng cho thấy, vai trò của Sở Nội vụ chƣa đƣợc thể hiện, sự phối hợp của Sở Nội vụ với các cơ quan liên quan trong thực hiện chế độ tự chủ chƣa tốt, chƣa xây dựng đƣợc căn cứ khoa học để xác định số biên chế hợp lý cho các cơ quan nhà nước.Chi tiết xem

Bảng 3.5: Tổng hợp số biên chế thực hiện cơ chế khoán của các cơ quan HCNN

Đơn vị: người

STT Đơn vị

Năm

2002 2003 2004 2005

Giao T/hiện Giao T/hiện Giao T/hiện Giao T/hiện

1 Sở Công nghiệp 25 23 25 23 25 23 26 21

2 Chi cục KL (VP) 24 23 24 23 24 22 24 22

3 Sở LĐTB&XH 38 38 38 37 38 38

4 Sở TM-DL (VP) 22 20 25 22 26 23

5 Sở GTVT 30 26 30 28 x x

6 Sở KH - CN (VP) 38 38 22 19 22 21

7 Thanh tra tỉnh 33 31 35 33

8 Sở KH - ĐT 40 37 42 40

9 Sở TN - MT 40 36 44 42

10 Sở Nội vụ 27 22 27 22

11 Sở Tư pháp 20 19 19 18

12 Sở Tài chính 65 63 65 62

13 Sở Y tế 39 33 39 34

14 Sở Xây dựng 34 34

15 Sở TDTT 20 20

16 UB DS GĐ&TE 23 23

Nguồn: Ban chỉ đạo CCHC tỉnh Bắc Giang Việc sắp xếp tổ chức lại bộ máy còn thực hiện chƣa triệt để, có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này. Tổ chức bộ máy của một cơ quan trực thuộc UBND tỉnh liên quan đến 2 cấp: CNNV chung do ngành dọc cấp trên là

các bộ quy định, để xác định đƣợc đầy đủ cần phải căn cứ vào CNNV của bộ chủ quản và các quy định liên quan, trong khi nhiều bộ ngành chƣa xây dựng hoàn thiện được chức năng, nhiệm vụ của mình và các văn bản hướng dẫn đối với các cơ quan ngành dọc ở địa phương; mặt khác, căn cứ vào hướng dẫn và CNNV chung của bộ chủ quan, tuỳ vào đặc điểm tình hình địa phương mà các sở xác định CNNV và tổ chức bộ máy cho phù hợp. Rất ít cơ quan hành chính thực hiện điều này, chủ yếu vẫn tiến hành theo cách sửa đổi lại bộ máy cũ theo kinh nghiệm, không có sự đánh giá và rà soát chi tiết, cụ thể.

Việc sắp xếp lại biên chế cũng đƣợc tiến hành chƣa triệt để, chƣa xây dựng căn cứ để đánh giá năng lực và hiệu quả giải quyết công việc của công chức, còn nể nang và cảm tính trong đánh giá công chức do vậy chất lƣợng việc chọn lọc và bố trí lại công chức chƣa cao. Mặt khác chƣa có căn cứ để đánh giá chất lƣợng và hiệu quả hoàn thành công việc của công chức, từ đó khen thưởng động viên và kích thích về vật chất để công chức nỗ lực hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ. Một căn cứ hết sức quan trọng để theo dõi, đánh giá mức độ hoàn thành công việc của công chức là bản giao việc cho từng cá nhân, tuy nhiên qua khảo sát, chƣa có cơ quan nào thực hiện đƣợc việc này, việc giao việc vẫn tiến hành nhƣ cũ, tức là chỉ giao chung chung, không cụ thể rõ ràng.

Số kinh phí tiết kiệm đƣợc chủ yếu là do tiết kiệm từ chênh lệch số biên chế không thực hiện hết theo số đƣợc giao, các biện pháp tiết kiệm trong chi tiêu chƣa đƣợc tích cực thực hiện, một trong những nội dung quan trọng cần thực hiện tiết kiệm là chi xăng xe chƣa đƣợc quan tâm đúng mức, hầu hết các cơ quan chưa xây dựng các phương án cụ thể để thực hiện tiết kiệm chi xăng xe. Quy chế quản lý và sử dụng tài sản công chƣa đƣợc xây dựng và thực hiện tốt. Việc xây dựng quy chế vẫn chủ yếu được thực hiện theo ý của người lãnh đạo, chƣa thể hiện đƣợc vai trò giám sát của công chức trong cơ quan đối với việc sử dụng NSNN ở cơ quan, công khai dân chủ chƣa thực hiện triệt để, còn hình thức.

Một phần của tài liệu Luận văn tăng cường thực hiện chế độ tự chủ tự chịu trách nhệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà nước ở tỉnh bắc giang (Trang 60 - 65)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(120 trang)