Sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan

Một phần của tài liệu Luận văn tăng cường thực hiện chế độ tự chủ tự chịu trách nhệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà nước ở tỉnh bắc giang (Trang 72 - 76)

CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ TỰ CHỦ ĐỐI VỚI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC Ở TỈNH BẮC GIANG

3.2. Đánh giá kết quả thực hiện cơ chế khoán và chế độ tự chủ ở tỉnh Bắc Giang

3.2.3 Các điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện chế độ tự chủ

3.2.3.2 Sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan

Sự phối hợp giữa các cơ quan có liên quan là điều kiện quan trọng để thực hiện tốt chế độ tự chủ, về cơ bản sự phối hợp của các cơ quan có liên quan trong quá trình thực hiện chế độ tự chủ đã đạt kết quả tốt. Sở Nội vụ đã hướng dẫn các cơ quan hành chính xây dựng đề án khoán (trong giai độn thực hiện cơ chế khoán); rà soát tổ chức lại bộ máy, sắp xếp và bố trí biên chế (trong giai đoạn thực hiện chế độ tự chủ). Sở Nội vụ đƣợc giao là cơ quan thường trực của Ban chỉ đạo Cải cách hành chính của tỉnh đã kịp thời tổng hợp tình hình thực hiện chế độ khoán và cơ chế tự chủ, giám sát tình hình thực hiện của các cơ quan hành chính, kịp thời giải quyết các đề xuất của các cơ quan hành chính khi gặp phải khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện. Sở Nội vụ đã theo dõi tình hình sử dụng biên chế ở các cơ quan hành chính, thẩm tra nhu cầu biên chế của các cơ quan hành chính và kịp thời tham mưu với UBND tỉnh ra quyết định bổ sung biên chế cho các cơ quan hành chính có nhu cầu để đáp ứng đòi hỏi về thực hiện nhiệm vụ chuyên môn.

Hàng năm, các cơ quan hành chính đánh giá về nhu cầu biên chế gửi Sở Nội vụ thẩm định, sau đó Sở xây dựng phương án biên chế phù hợp, đề xuất chỉ tiêu biên chế giao cho các cơ quan trình UBND tỉnh ra quyết định. Trong những năm qua, sự phân bổ biên chế của Sở Nội vụ đã cơ bản đáp ứng đƣợc nhu cầu của các cơ quan hành chính, đảm bảo đủ số biên chế để hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn đƣợc giao. Điều này đƣợc phản ảnh qua số biên chế giao hàng năm của các đơn vị đều cao hơn số biên chế thực hiện trong năm.

Tuy nhiên điều đó lại cho thấy việc phân bổ chỉ tiêu biên chế cho các cơ quan hành chính là chƣa hợp lý. Thực tế qua các năm thì số biên chế đƣợc giao luôn cao hơn số thực hiện, có trường hợp năm trước số biên chế thực hiện thấp hơn số đƣợc giao, sang năm sau lại đƣợc giao số biên chế cao hơn năm trước trong khi số biên chế thực hiện chỉ bàng số giao năm trước. Điều đó cho thấy, việc giao biên chế là chƣa sát thực, nguyên nhân do chƣa xây

dựng được phương pháp xác định số biên chế hợp lý cho các cơ quan hành chính. Việc xác định và phân bổ số biên chế cho các cơ quan hành chính đƣợc Sở Nội vụ căn cứ trên đề nghị của các cơ quan, chƣa có căn cứ khoa học để kiểm định mà quyết định dựa trên các đánh giá chủ quan là chủ yếu.

Trong quá trình triển khai thực hiện cơ chế khoán, sự phối hợp của Sở Tài chính là tương đối tốt. Các cơ quan hành chính thực hiện cơ chế khoán đã được hướng dẫn xây dựng đề án khoán, hướng dẫn quản lý và sử dụng nguồn kinh phí ngân sách nhà nước được giao khoán, hướng dẫn việc xác định các định mức chi và mức kinh phí nhận khoán, phương án phân bổ kinh phí tiết kiệm tăng thu nhập cho công chức. Mức kinh phí giao khoán cho các cơ quan đã đảm bảo đủ hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao và có tiết kiệm tăng thu nhập cho công chức, tạo động lực thúc đẩy công chức nâng cao chất lƣợng, hiệu quả công việc, nâng cao nhận thức của công chức về cải cách hành chính nói chung. Bên cạnh những kết quả tích cực trên, sự phối hợp của Sở Tài chính vẫn còn bộ lộ một số vấn đề cần phải xem xét lại một cách nghiêm túc để tăng cường thực hiện tốt hơn cơ chế khoán và chế độ tự chủ, đó là: Chưa thường xuyên theo dõi, tổng hợp và đánh giá việc thực hiện khoán của các cơ quan dựa trên báo cáo tình hình sử dụng ngân sách của các đơn vị. Trong thực tế có tình trạng một số cơ quan có số tiết kiệm năm sau cao hơn năm trước, nhưng chênh lệch giữa số biên chế đƣợc giao và số biên chế thực hiện tăng lên, điều đó cho thấy là cơ quan đó tuy có mức tiết kiệm cao hơn nhƣng thực tế việc thực hiện tiết kiệm lại kém hơn năm trước.

Bảng 3.7: Tổng hợp số biên chế thực hiện khoán và kinh phí tiết kiệm của các cơ quan HCNN

Năm Đơn vị Biên chế (người) Chênh lệch

biên chế

Số tiết kiệm chi (1.000đ) Giao Thực hiện

Năm 2002

1 Sở Công nghiệp 25 23 2 16,400

2 Chi cục Kiểm lâm (VP) 24 23 1 25,670

Năm 2003

1 Sở Công nghiệp 25 23 2 23,020

2 Chi cục KL (VP) 24 23 1 45,000

3 Sở LĐTB&XH (VP Sở) 38 38 0 22,000

4 Sở TM-DL (VP) 22 20 2 5,873

5 Sở GTVT 30 26 4 3,598

6 Sở KH - CN (VP) 38 38 0 29,863

Năm 2004

1 Sở Công nghiệp 25 23 2 23,180

2 Chi cục KL (VP) 24 22 2 41,500

3 Sở LĐTB&XH (VP Sở) 38 37 1 31,000

4 Sở TM-DL (VP) 25 22 3 14,343

5 Sở GTVT 30 28 2 17,082

6 Sở KH - CN (VP) 22 19 3 28,179

7 Thanh tra tỉnh 33 31 2 32,456

8 Sở KH - ĐT 40 37 3 42,600

9 Sở TN - MT 40 36 4 39,200

10 Sở Nội vụ 27 22 5 24,412

11 Sở Tƣ pháp 20 19 1 3,400

12 Sở Tài chính 65 63 2 129,100

13 Sở Y tế 39 33 6 15,150

Năm 2005

1 Sở Công nghiệp 26 21 5 64,540

2 Chi cục KL (VP) 24 22 2 5,170

3 Sở LĐTB&XH (VP Sở) 38 38 0 22,000

4 Sở TM-DL (VP) 26 23 3 18,600

5 Sở GTVT x x x

6 Sở KH - CN (VP) 22 21 1 32,515

7 Thanh tra tỉnh 35 33 2 88,336

8 Sở KH - ĐT 42 40 2 47,456

9 Sở TN - MT 44 42 2 53,100

10 Sở Nội vụ 27 22 5 63,236

11 Sở Tƣ pháp (VP) 19 18 1 21,000

12 Sở Tài chính 65 62 3 181,423

13 Sở Y tế 39 34 5 21,000

14 Sở Xây dựng 34 34 0 36,900

15 Sở Thể dục Thể thao 20 20 0 24,797

16 UB DS GĐ&TE 23 23 0 21,000

Nguồn: Ban chỉ đạo CCHC tỉnh Bắc Giang Kinh phí tiết kiệm được chủ yếu là từ nguồn chi lương cho số biên chế không thực hiện hết, mà bản chất của số biên chế không thực hiện hết này là

do cơ quan nội vụ giao cao hơn số thực hiện chứ không phải từ việc tinh giảm biên chế mà có, do vậy việc giao ngân sách dựa trên số biên chế này đã tạo nên sự không hiệu quả trong sử dụng ngân sách, chƣa cho thấy đƣợc tác dụng thực sự của cải cách.

Vai trò hướng dẫn của Sở Tài chính trong việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ và quản lý tài sản công chƣa thực hiện tốt. Quy chế của các cơ quan hành chính đƣợc xây dựng chƣa thực sự chi tiết, cụ thể, một số nội dung chi có khả năng tiết kiệm cao lại chƣa đƣợc quan tâm đúng mức để xác định phương án chi và kiểm soát chi cụ thể. Quy chế chỉ quan tâm nhiều tới việc phân chia khoản kinh phí tiết kiệm đƣợc mà chƣa chú ý đến việc xác định những khoản chi có khả năng tiết kiệm cao và phương án tăng số chi tiết kiệm, duy trì tính bền vững trong việc tăng số tiết kiệm chi ngân sách trong tương lai.

Sở Tài chính mới chỉ thực hiện đƣợc chức năng tổng hợp, chƣa có sự phân tích, đánh giá kết quả thực hiện ngân sách khoán chi của các đơn vị và rút ra những kinh nghiệm để hướng dẫn, phổ biến cho các cơ quan hành chính khác cùng thực hiện để nâng cao hiệu quả tiết kiệm chi ngân sách. Đồng thời qua phân tích, đánh giá để thấy đƣợc những điểm đã làm tốt, chƣa tốt, kịp thời có biện pháp hướng dẫn các đơn vị làm tốt hơn.

Kho bạc Nhà nước tỉnh đã phối hợp tốt với các cơ quan hành chính và Sở Tài chính trong thực hiện cơ chế khoán và chế độ tự chủ. Việc cấp kinh phí cho các cơ quan hành chính đã đƣợc thực hiện kịp thời theo nhu cầu và yêu cầu của các cơ quan, đảm bảo đáp ứng đủ nguồn kinh phí theo sự bố trí của các cơ quan hành chính để hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn, góp phần nâng cao quyền tự chủ trong sử dụng kinh phí của các cơ quan hành chính.

Kho bạc đã thực hiện đúng vai trò người kiểm soát cuối cùng và quản lý kho tiền của nhà nước, các yêu cầu về ngân sách được gửi sang Kho bạc, sau khi

thẩm định các nội dung chi đúng quy định, tiêu chuẩn đã kịp thời cấp ngân sách cho các đơn vị.

Một phần của tài liệu Luận văn tăng cường thực hiện chế độ tự chủ tự chịu trách nhệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà nước ở tỉnh bắc giang (Trang 72 - 76)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(120 trang)