QUÁ TRÌNH TIẾP XÚC GIỮA TIẾNG HÁN VỚI TIẾNG HÀN VÀ TIẾNG VIỆT
2. Giai đoạn Bách Tế
Ơ ÛBách Tế, từ khi bắt đầu lập quốc đã hình thành chế độ học vấn mới đến bậc tiến sĩ, tiến sĩ Ngũ Kinh và các tiến sĩ chuyên môn khác được mời sang Nhật Bản để giảng dạy. Thế kỷ VI, tiến sĩ Vương Nhân, A Chức Kỳ sang Nhật Bản để chuyển truyền cho Nhật Bản chữ Hán. Vì vậy, các thầy của hệ văn hóa Nhật
Bản là người ÛBách Tế. Và tổ tiên thiên hoàng Nhật Bản hiện nay là người Bách Tế, hai nước giao lưu văn hóa rất mật thiết thời đó. Cũng cùng thời này một tiến sĩ tên Cao Hưng đã biên soạn một sách lịch sử có tên là So Gi(書記 ) bằng chữ Hán (năm 375).
Như vậy cũng về mặt lịch sử sự hình thành từ Hán - Hàn ở Bách Tế khác với ở Cao Câu Lệ trước hết là do ở tầng lớp thượng lưu. Ở Bách Tế mặc dù không có chiến tranh với các nước Tùy - Đường nhưng lại thông qua buôn bán giao dịch với nước Tùy - Đường nên cũng hình thành nên lớp từ gốc từ chữ Hán, có thể gọi là những từ Hán - Hàn đầu tiên.
2. Giai đoạn Tân La
Ở Tân La, đến năm 356 - 402 mới có quan hệ giao lưu thường xuyên với Cao Câu Lệ và thông qua Cao Câu Lệ cũng lập được quan hệ với nước Tùy - Đường.
Nên sự du nhập chữ Hán vào Tân La được bắt đầu vào khoảng lúc này. Tân La nằm ở Đông Nam Bộ của bán đảo Hàn Quốc nên xét về điều kiện địa lý thì Tân La tiếp nhận chữ Hán trễ hơn Cao Câu Lệ và Bách Tế có đến sau một thế kỷ và quá trình phổ cập đưa vào dùng trong thực tiễn ở Tân La so với Cao Câu Lệ và Bách Tế cũng diễn ra chậm hơn. Ở Tân La thời kỳ chữ Hán được dùng phổ biến và thịnh hành nhất là thời vua Chân Hưng (眞興王, năm 534 - 576), thời này quyển sách lịch sử mang tên Quốc Sử được biên soạn (năm 545) và 4 bức bia dựng lên ở khu vực biên giới, cũng dược viết bằng chữ Hán.
Mặc dù đến lúc này từ Hán - Hàn mới dược hình thành ở Tân La nhưng vẫn chỉ giới hạn ở giới thượng lưu. Mãi đến giữa thế kỷ VIII (năm 757 -759) thì tất cả các địa danh, và các quan chức vốn được gọi theo cách riêng của Tân La dược
đổi thành cách gọi của nhà Đường. Đây chính là xuất phát điểm cho sự sử dụng chữ Hán trong tầng lớp bình dân ở Tân La. Sự khuếch trương của chữ Hán từ sau thời kỳ thống nhất Tân La đã làm cho từ Hán - Hàn dần dần chiếm lấy vị trí quan trọng hơn.
Ngoài ra, quan hệ giữa Tân La và triều Đường ngày càng gần gũi hơn, thương mại đường biển phát triển, người Tân La đi lại thường xuyên hơn nên ở bán đảo Sơn Đông, một vùng có tên là Tân La Bang (新羅坊 Tân La Phương) ở Đăứng Chõu đó hỡnh thành nờn cả một khu vực quỏn trọ nhà nghỉ cho người Tõn La sang buôn bán ở đây. Lúc này thông qua sự giao tiếp và từ Hán - Hàn đã được hình thành nhiều hơn.
Sau khi Tân La thống nhất Tam Quốc, trong quá trình thống nhất, văn tự và ngôn ngữ cũng được thống nhất, chữ Hán được dùng phổ biến vì thời kỳ này Tân La và nhà Đường quan hệ ngoại giao rất thân mật. Khoảng thế kỷ VIII (năm 757) các địa danh thay đổi, và tên các quan chức cũng viết bằng chữ Hán với hai âm tiết. Thời kỳ thống nhất Tân La, chữ Hán dần dần phổ biến và có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành cách đọc Hán - Hàn một cách thống nhất.
Nhà ngôn ngữ học Park Byeong Chae chia thời kỳ du nhập, phát triển chữ Hán ra làm năm giai đoạn. Ông nói rằng, thời kỳ thống nhất Tân La là rất quan trọng trong lịch sử tiếng Hàn vì thời kỳ này là thời kỳ hình thành cách đọc Hán - Hàn bởi có nhiều tác phẩm Hyang Chal (鄕札 Hương Trát), sau đó lớp từ Hán - Hàn đã dâàn dần phát triển. Tổ tiên của người Hàn đã cố gắng tạo ra một thứ văn tự riêng.
Hyang Chal là một hệ thống văn tự được xây dựng trên cơ sở vay mượn một số yếu tố văn tự Hán nhằm ghi lại tiếng Hàn. Do sự xuất hiện của hệ thống
Hyang Chal này cũng đồng thời là lúc người Hàn đã bắt đầu có xu hướng dùng khẩu ngữ của họ nhiều hơn tiếng Hán. Điều đó đã làm hình thành văn chương Hyang Chal. Ngoài ra, cũng có hai hệ thống để ghi lại tiếng Hàn như I Du (吏讀) và Gu Gyol(口訣).
Tuy nhiên các viên chức, quan lại, nho sĩ vẫn dùng chữ Hán nhiều. Sự phát triển Nho học và văn chương Hán đã làm cho từ Hán - Hàn tăng lên. Đồng thời cũng làm cho ngôn ngữ của Hàn Quốc xuất hiện hai phong cách: văn chương và khẩu ngữ.
4. Giai đoạn Cao Lệ
Vào thời Cao Lệ mặc dù thủ đô đã được đổi từ Khánh Châu sang Khai Thành nhưng chữ Tân La vẫn được tiếp tục dùng trong hệ thống quốc ngữ. Năm 958 chế độ thi cử vẫn tiếp tục mô phỏng theo Nhà Đường, đến năm 992 cơ quan giáo dục có tên là Quốc Tử Giám được thành lập và đến thời Nhà Nguyên (Mông Cổ) xâm nhập vào thì lại theo phong tục của Mông Cổ.
Thời Cao Lệ nhờ vào sự phát triển của văn học Hán, Tính lý học, nhờ sự phát triển của đạo Phật, chữ Hán được thực dụng hóa và ngày càng mở rộng hơn. Vào thời kỳ này chữ Hán cũng chỉ được dùng phổ biến trong giới thượng lưu điều này thấy rõ qua các tác phẩm văn học vì ở các tác phẩm do người bình dân viết có rất ít chữ Hán còn trong tác phẩm thơ cổ của giới thượng lưu thì lượng chữ Hán được dùng nhiều.
5. Giai đoạn Triều Tiên
Năm 1392 kế tiếp Cao Lệ, triều đại Triều Tiên được thành lập với chính sách trọng Nho giáo, khinh Phật giáo, thủ đô là Hán Dương hay còn gọi là Hán Thành, đó là tên cũ của thủ đô Seoul. Nho giáo được dùng trong cai trị đất nước và làm nền tảng cho giáo dục, cho nên bộ môn văn học Hán và Tính lý học mãi đến sau
khi vua Se Jong (世宗Thế Tống), sáng chế ra Hun Min Jŏng Ŭm (Huấn Dân Chính Âm) vẫn còn đuợc trọng dụng.
Năm 1411, triều đình Triều Tiên phỏng theo theo chế độ giáo dục của Nhà Tống, năm trường học ở Hán Dương được thành lập để dạy Nho học. Chính do sự tôn trọng Nho học này mà tư tưỏng sùng bái chữ Hán vẫn còn tiếp tục đến sau khi Hun Min Jŏng Ŭm được sáng chế.
Năm 1443, vua Se Jong cùng các học giả sáng chế ra chữ Hàn, gọi là Hun Min Jŏng Ŭm, sau này gọi là Han Gŭl. “Vì người dân không biết rõ chữ Hán nên cũng khụng thể diễn đạt được ý nghĩ của mỡnhù”. Ngoài việc, sỏng chế chữ mới, vua Se Jong còn công bố luật phát âm để đọc chữ Hán theo Dong Guk ŏng Ŭm (東國正音 Đông quốc chính âm). Nhưng cách đọc theo Dong Guk Jong Um không phải giống cách phát âm người Triều Tiên bởi cách phát âm Dong Guk Jŏng Ŭm gần hơn với cách đọc người Hán, do đó không phù hợp với cách đọc của người Triều Tiên, cuối cùng cách đọc Dong Guk Jŏng Ŭm khong được thông dụng nữa trong sinh hoạt ngôn ngữ thời đó.
Trong thời đại Triều Tiên chịu ảnh hưởng của giáo dục Nho giáo, trong thi cử và trong giao tiếp hành chính, nhiều nho sĩ, quan lại vẫn tiếp tục dùng chữ Hán mặc dù đã có chữ mới.
Phổ biến Nho giáo có thể coi là phổ biến chữ Hán. Do đó trước đây chữ Hán thường được gọi là chữ Nho, nhưng không phải chỉ có Nho giáo. Việc phổ biến chữ Hán cũng gắn liền với cả việc phổ biến Phật giáo. Ngược lại sự truyền bá Nho giáo, Phật giáo chính cũng lại là một nhân tố thúc đẩy làm cho chữ Hán càng ngày càng phổ biến. Thông qua các tài liệu dùng hỗn tạp chữ Hán và chữ Hàn cũng như các tài liệu giảng giải về chữ Hán đã làm cho từ Hán - Hàn sinh sản ngày càng ồ ạt đẩy lùi tiếng Hán vốn có. Sau khi Han Gŭl được sáng chế
thì giữa các học giả bắt đầu xảy ra nhiều tranh luận nhưng sau khi vua Se Jong qua đời thì lại quay về xu hướng sùng bái chữ Hán trở lại.
6. Giai đoạn cận hiện đại
Sau phong trào văn hóa mới Gap O Gyŏng Jang (甲午更張 Giáp Tý Canh Trương, năm 1894) đến thời kỳ triều đại cuối cùng triều đình Triều Tiên bị cưỡng chế sáp nhập vào Nhật Bản, tư tưởng sùng bái chữ Hán này vẫn cứ thế tiếp tục tồn tại. Và cuối thời kỳ chiếm cứ đó, người Triều Tiên bị cưỡng chế sử dụng tiếng Nhật, đó là nguyên nhân đưa những từ Hán - Nhật vào tiếng Hàn.
Sau khi giải phóng, chính phủ Dae Han Min Guk 大韓民國 (Đại Hàn Dân Quốc, thường viết tắt Hàn Quốc) được thành lập, đã thực hiện nhiều chính sách về Quốc Ngữ. Thông qua quá trình tiếp nhận văn hóa từ phương Tây cũng đồng thời một lượng lớn từ Hán – Hàn được tạo ra từ chữ Hán như tên các đồ vật hay các thuật ngữ khoa học và trực tiếp đưa vào dùng trong thực tế. Bên cạnh đó cũng tự tạo ra thêm nhiều từ Hán - Hàn mới.