Ⅱ . HỆ THỐNG NGỮ ÂM TIẾNG HÀN
1. So sánh phụ âm đầu giữa từ Hán - Hàn với từ Hán - Việt
1.1. So sánh phụ âm đầu giữa từ Hán - Hán với từ Hán -Việt
1.1.1. Phụ âm đầu <B-[b]>, < PH-[f]> tương ứng với phụ âm đầu
<ㅂ[b],ㅍ[p ]>
Phụ âm đầu< b-> và <ph-> của từ Hán -Việt tương ứng với<ㅂ- [b-]>hoặc
<ㅍ- [p-]> của từ Hán - Hàn, trong đó, trường hợp phụ âm đầu <ph-> tương ứng với <ㅂ-> nhiều hơn <ㅍ->.
Theo Hun Min Jŏng Ŭm, phụ âm <ㅂ [b]> từ Hán - Hàn được phát âm giống như âm thanh của thanh mẫu <瞥=別 별[byŏl] biệt> và phụ âm <ㅍ> đựơc phát âm như thanh mẫu <標 표[pyo] phiêu>. Nếu lùi lên trước thế kỷ XV, phụ âm
<ㅂ [b], ㅍ[p ]>của từ Hán - Hàn này phát âm giống như thanh mẫu <幇bang, 非phi>, <滂bàng, 敷phu>, <竝tịnh, 奉phụng>.
Bảng dưới đây là tỉ lệ các thanh mẫu tiếng Hán chuyển vào trong con chữ phụ âm đầu từ Hán -Hàn hiện đại ( thống kê này tham khảo 弘字玉篇, 1999, Seoul)
ㅂ[b] ㅍ[p] còn lại tổng số
幇bang,非phi 94(64.4%) 50(34.2%) 2(1.4%) 146(100%)
滂bàng,敷phu 74(65.5%) 35(31.0%) 4(3.5%) 113(100%)
竝tũnh,奉phuùng 89(63.1%) 50(35.5%) 2(1.4%) 130(100%)
Về từ Hán -Việt, Phụ âm đầu <B- [b-]> là phụ âm tắc, ồn, âm môi. Theo Nguồn gốc và qua trình hình thành cách đọc Hán –Việt (Nguyễn Tài Cẩn,1979), phụ âm đầu <b->này thể hiện thanh mẫu <幇 bang,방[bang]> và <竝 tịnh, 병[byong]>, ngoài ra thanh mẫu khác như <滂bàng,방[bang]>, <非phi, 비[bi], 奉phụng, 봉[bong]…> cũng thể hiện bằng con chữ phụ âm <b>. Đặc điểm hiện có của <b-> đã tồn tại từ thế kỷ XVII, từ điển Việt- Bồ -La đã dùng chữ cái <b->.
Phụ âm đầu <ph- [f]> cũng viết âm thanh mẫu <bàng, phi, phụng, phu, bang ,tịnh…> như trên, khỏang thế kỷ XVII chúng ta đã thấy phụ âm <ph->.
Thực tế, tìm hiểu quá trình hình thành chữ Nôm thì chúng ta cũng có thể hiểu biết cụ thể một bước những vết tích lưư lại phụ âm đầu <b> và <ph>trong tiếng Việt, phụ âm đầu <b> và <ph> có một sự liên hệ ngữ âm gần gũi. Giới Hán ngữ học cho biết vào khoảng đầu đời Đường thì chỉ có phụ âm môi-môi P, B, M. Đó giống như phụ âm môi của cách phát âm Hán - Hàn nhưng đến cuối đời Đường thì một bộ phận trong đó đã chuyển sang thành môi-răng (Một số vấn đề về chữ Nôm, Nguyễn Tài Cẩn, 1985,tr.24).
1.1.1.1.Phụ âm đầu <B[b-] -> tương ứng với các phụ âm đầu <ㅂ-[b-],ㅍ- [p] >.
Vớ duù:
保 Bảo 보 bo 包 Bao 포 po
報 Báo 보 bo 版 Bản 판 pan 碑 Bi 비 bi 筆 Buùt 필 pil
拜 Bái 배 bae 本 Bổn 본 bon 被 Bị 피 pi 步 Bộ 보 bo 敗 Bại 패 pae 博 Bác 박 bak 八 Bát 팔 pal 補 Bổ 보 bo
1.1.1.2. Phụ âm đầu <PH[f-]-> cũng tương ứng với các phụ âm đầu <ㅂ-[b-], ㅍ-[p-]>.
Vớ duù:
破 Phá 파 pa 福 Phúc 복 bok 復 Phuùc 복 bok 普 Phoồ 보 bo 反 Phản 반 ban 費 Phí 비 bi 判 Phán 판 pan 方 Phương 방 bang 法 Pháp 법 bŏp 佛 Phật 불 bul 父 Phụ 부 bu 發 Phát 발 bal 婦 Phuù 부 bu 分 Phaõn 분 bun 負 Phuù 부 bu 非 Phi 비 bi 否 Phuỷ 부 bu 品 Phaồm 품 pum
符 Phuứ 부 bu 夫 Phu 부 bu
1.1.2. Các phụ âm đầu được ghi bằng các con chữ <C-, K-, Q-, KH-, GI->
trong từ Hán – Việt tương ứng với phụ âm đầu <ㄱ-> trong từ Hán - Hàn Những phụ âm đầu trên trong từ Hán - Việt tương ứng với <ㄱ-[g]> của từ Hán - Hàn, nhưng có một số ngoại lệ. Ví dụ : từ <cách> có hai cách phát âm trong từ Hán - Hàn, 革 혁 [hyŏk] và 格 격 [gyŏk]; <抗kháng>Ỉ 항[hang]. Nếu xem xét nguồn gốc hình thành phát âm thì dễ hiểu quy luật tương ứng này.
Thực tế trước thế kỷ XV, âm<ㄱ[g], ㅋ[k] > từ Hán - Hàn hình thành từ thanh maãu <見kieán, 溪kheâ, 群quaàn>.
Bảng dưới này là tỉ lệ của các thanh mẫu tiếng Hán chuyển vào trong các phụ âm đầu từ Hán - Hàn hiện đại ( thống kê này tham khảo 弘字玉篇, 1999, Seoul).
ㄱ[g] ㅋ[k] ㅎ[h] còn lại Tổng số Kieán 見 235(88.7%) 6 (2.3%) 20 (7.5%) 4 (1.5%) 265(100%) Kheâ 溪 185(82.5%) 8 (3.6%) 28 (12.5%) 3 (1.3%) 224(100%) Quaàn 群 99 (91.7%) 4 (3.7%) 1 (0.9%) 4 (3.7%) 108(100%)
1.1.2.1. Phụ âm dầu[k] <K-, C-, Q(QU)-> từ Hán -Việt và phụ âm <ㄱ[g] >từ Hán - Hàn
Trong từ Hán -Việt, ba chữ viết phụ âm đầu này thể hiện âm của các thanh mẫu <見 kiến, 견[gyŏn]>, <君 quần, 군[gun]> và <溪 khê계[gye], 匣 hạp 갑 [gap]>. Về mặt âm vị học, 3 cách viết của phụ âm đầu này có cùng một giá trị là [k-] trong tiếng Việt. Trong chữ viết tiếng Việt , chữ <q-> không xuất hiện một
mình mà luôn xuất hiện trước âm đệm [-w-], chữ <k-> xuất hiện trước nguyên âm <ê, i. iê>. Chữ <c-> đuực dùng trong các trường hợp còn lại. Ba cách viết phụ âm [k-] của từ Hán - Việt tương ứng với phụ âm <ㄱ[g] >trong từ Hán - Hàn.
Vớ duù:
歌 Ca 가 ga 感 Cảm 감 gam 古 Coồ 고 go 過 Quựa 과 gwa 觀 Quan 관 gwan 光 Quang 광 gwang 果 Quûa 과 gwa 貴 Quí 귀 gwi 建 Kieán 건 gŏn 結 Keát 결 gyŏl
1.1.2.2.Phụ âm đầu < GI-> của từ Hán - Việt bắt nguồn chủ yếu ở thanh mẫu
<kiến 見 견[gyŏn]>và thanh mẫu khác cũng thuộc kiến tổ <quần, nghi, hiểu, hạp> cũng bắt nguồn từ thanh mẫu <chương>. Ở Hà Nội phụ âm này phát âm thành [z] như phụ âm đầu <d-, r->, nhưng Trung Bộ, Nam Bộ âm đó phát là [j]
như <d-> của Trung Bộ và phụ âm <d-, v-> ở Nam Bộ. Chữ <gi-> này cùng tương ứng phụ âm <ㄱ[g]>trong từ Hán - Hàn.
Vớ duù:
家 Gia 가 ga 間 Gian 간 gan 監 Giám 감 gam 減 Giảm 감 gam
1.1.2.3. Phụ âm đầu <KH-> tương ứng với phụ âm<ㄱ[g] >trong từ Hán - Hàn.
Thanh mẫu Hán <溪khê계 [gye]>, <見kiến 견[ gyŏn]> đuợc thể hiện bằng con chữ phụ âm đầu <kh->. Phụ âm <ㄱ[g]>của từ Hán - Hàn tương ứng với một loạt các phụ âm thể hiện bằng con chữ <c-, k-, q-, gi-, kh->từ Hán - Việt có nguồn
gốc từ các thanh mẫu <見,kiến, 群 quần, 溪khê, 匣hạp> có âm trị [k, g, k, V].
Mặt khác phụ âm <ㄱ> này theo Hun Min Jŏng Ŭm có âm trị như <君 quân >
thuộc thanh mẫu <quần>, âm trị là [g] và đến nay vẫn giữ nguyên giá trị ấy.
Tình hình trên cho chúng ta thấy các thanh mẫu nói trên, khi sang tiếng Hàn đã xảy ra một quá trình hòa nhập âm trị, hơn nữa đó là một quá trình hữu thanh hóa, trong lúc ở tiếng Việt là quá trình vô thanh hóa và vẫn còn giữ lại những nét khu biệt. Phụ âm <kh-> này liên quan với phụ âm đầu <q-> vì ở tiếng Việt có hai cách nói <khuấy> và <quấy>, hai từ này đồng nghĩa trong tiếng Việt.
Vớ duù:
開 Khai 개 gae 氣 Khí 기 gi 區 Khu 구 gu 考 Khảo 고 go 苦 Khoồ 고 go 科 Khoa 과 gwa
1.1.3. Các phụ âm đầu được ghi bằng các con chữ <D-, M-, V-> trong từ Hán - Việt tương ứng với phụ âm đầu <ㅁ-> trong từ Hán - Hàn
1.1.3.1. Phụ âm đầu <D-> tương ứng với phụ âm đầu <ㅁ[m-]> từ Hán - Hàn va2 một số trường hợp tương ứng với nguyên âm <ㅣ[y-] > và <zero-> trong từ Hán - Hàn.
Phụ âm đầu <D-> chủ yếu bắt nguồn từ thanh mẫu Hán <dương 양[ yang]>, cũng xuất phát từ thanh mẫu <明minh 명[myŏng] >. Thanh mẫu Hán <dương >
còn gọi là <喩dụ 유[yu]>. Phụ âm đầu này ở tiếng Việt hiện nay có cách phát âm khác nhau giữa các vùng. Ở miền Bắc phát âm là [z], ở Nam bộ phát âm là [j]. Trong từ điển Việt -Bồ -La, phụ âm đầu <d-> này đã xuất hiện một âm đứng rieâng.
Phụ âm đầu <d-> từ Hán - Việt có hai nguồn gốc là <dương> và < minh>.
<minh> ở tam giáp <A> âm trị của nó lúc đầu là <mj>, về sau yếu tố <m-> rụng dưới áp lực của qui luật ngữ âm tiếng Việt kiểu như <ml >l> mnh >nh>, còn lại [ j ] rồi chuyển thành <d> (d quốc ngữ). Trong tiếng Hàn tình hình hoàn toàn khác, quá trình rơi rụng <m-> không diễn ra, thanh mẫu <minh> vẫn giữ nguyên âm trị của nó, cho nên con chữ phụ âm đầu <d-> từ Hán - Việt tương ứng với phụ âm <ㅁ-[m-]>trong từ Hán - Hàn là như vậy. Ngoài ra còn tương ứng với nguyên âm <ㅣ[y-] > và <zero-> trong từ Hán - Hàn.
Vớ duù:
野 Dã 야 ya 搖 Dao 요 yo
遺 Di 유 yu 遊 Du 유 yu
遊 Du 유 yu 移 Di 이 i
譯 Dòch 역 yŏk 易 Dòch 역 yŏk
育 Duùc 육 yuk 溶 Dung 용 yong
勇 Duừng 용 yong 用 Duùng 용 yong
藥 Dược 약 yak 陽 Dương양 yang
養 Dưỡng 양 yang 演 Diễn 연 yŏn
名 Danh 명 myŏng 民 Daân 민 min
面 Dieọn 면 myŏn 滅 Dieọt 멸 myŏl
1.1.3.2. Phụ âm đầu <M-> hoàn toàn tương ứng với phụ âm đầu <ㅁ[m-]>của từ Hán - Hàn.
Phụ âm đầu <m-> trong từ Hán - Việt nhất loạt tương ưnùg vớiû phụ âm <ㅁ- [m-]> của từ Hán - Hàn. Phụ âm đầu <m-> phần lớn bắt nguồn từ thanh mẫu Hán <明minh 명[myŏng]>, còn bắt nguồn từ thanh mẫu Hán <微vi 미[mi]>, nguyên lai của phụ âm này đơn giản hơn các phụ âm khác. Nhìn về mặt nguồn gốc, phụ âm <m-> bắt nguồn chủ yếu từ <明 minh> và <微 vi>, hai chữ <minh, vi> này được phát âm <민[min], 미[mi]> trong từ Hán - Hàn. Do đó tất cả con chữ phụ âm đầu <m-> từ Hán - Việt tương ứng với phụ âm đầu <ㅁ-> trong từ Hán - Hàn.
Vớ duù:
魔 Ma 마 ma 馬 Mã 마 ma
梅 Mai 매 mae 冒 Mạo 모 mo
夢 Moâng 몽 mong 模 Moâ 모 mo
美 Mỹ 미 mi 滿 Mãn 만 man
脈 Mạch 맥 maek 木 Mộc 목 mok
免 Miễn 면 myŏn 密 Mật 밀 mil
Nếu lùi lên trước thế kỷ XV thì có thể phụ âm <ㅁ[m] > từ Hán - Hàn phát âm nhử thanh maóu <明 minh, 微 vi>.
Bảng dưới đây là tỉ lệ các thanh mẫu tiếng Hán chuyển vào trong phụ âm của từ Hán -Hàn hiện đại (thống kê này tham khảo 弘字玉篇, 1999, Seoul).
ㅁ[m] Còn lại Tổng số
明 minh 125( 96.1%) 5 (3.9%) 130 (100%)
1.1.3.3. Phụ âm đầu <V-> trong từ Hán - Việt tương ứng với phụ âm đầu <ㅁ>từ Hán - Hàn
Phụ âm đầu <v->từ Hán - Việt bắt nguồn từ thanh mẫu Hán <雲 vân 운[un]>, và thanh mẫu <韋vi위[wi]>, cũng có vài từ có nguồn gốc từ <羊dương 양[yang]> và <影ảnh 영[yŏng]> nhưngứ số lượng từ vựng khụng nhiều. Phụ õm đầu <v-> hiện nay đọc khác nhau giữa các phương ngữ ở Việt Nam. Ở phương
ngữ Bắc và Bắc Trung bộ phát âm là [v], ở phương ngữ Nam bộ cũng dùng chữ cái này nhưng thực tế phát âm là [j]. Từ điển Việt- Bồ- La, phụ âm đầu <v->
được ghi bằng chữ <u-> và thực tế ở An nam dịch ngữ, người Minh dùng chữ Hán có âm [w-] hay [v-] để ghi [v] hiện nay, ví dụ <vườn ghi bằng chữ 園 원 [won]>, <văn ghi bằng chữ 文 문[mun] hoặc 聞문[mun]>.
Phụ âm đầu <v-> của từ Hán - Việt tương ứng với phụ âm<ㅁ-[m-]>trong từ Hán - Hàn, hoặc tương ứng với bán nguyên âm <w->,<y->của từ Hán - Hàn.
Nguồn gốc chủ yếu của các phụ âm này là thanh mẫu <văn, vị, dương, ảnh…>, các chữ này đọc <雲 운[un], 韋 위[wi], 羊 양[yang], 影영 [yŏng]…>.
Theo giáo sư Nguyễn Tài Cẩn, vào thời điểm xuất phát của cách đọc Hán- Việt thì cả <vân> hợp khẩu, cả <vi> đều đã rụng các yếu tố đầu, chỉ còn lại<w >
sau đó chuyển thành <v> từ Hán - Việt. Cứ liệu tương ứng trên đây của từ Hán - Hàn cho thấy xuất phát điểm của từ Hán - Hàn cổ hơn. nó ở thời điểm mà
<vaân> : vi
viw oiw, rồi từ đây chuyển thành <y> Hán - Hàn, còn
<vi> : miu > w, rồi từ đây chuyển thành <w> Hán - Hàn.
Điều này có nghĩa là nó ở thời điểm mà <vân> và < vi> chưa hợp nhất thành
<w>. Trái lại ở Hán - Việt thì quá trình là
<vaân > iw > oiw w
<vi> miw > w w đều thống nhất một âm vị <w>, sau đó <w>
chuyển thành < v-> Hán - Việt.
Sau đây sẽ thấy sự tương ứng giữa [v] từ Hán -Việt và [w-], [y-]từ Hán - Hàn.
Vớ duù:
爲 Vi 위 wi 位 Vò 위 wi
王 Vửụng 왕 wang 永 Vúnh 영 yŏng
員 Vieân 원 won 偉 Vó 위 wi
遠 Vieón 원 won 院 Vieọn 원 won
越 Việt 월 wol 域 Vực 역 yŏk
Sự tương ứng giữa [v-] từ Hán - Việt và [m-] từ Hán - Hàn:
味 Vũ 미 mi 務 Vuù 무 mu 無 Vô 무 mu 望 Vọng 망 mang 文 Vaên 문 mun 亡 Vong 망 mang 武 Vũ 무 mu 萬 Vạn 만 man
舞 Vuõ 무 mu 問 Vaán 문 mun
Trong tiếng Việt có những từ như <mùa, muôn, mùi…> vốn bắt nguồn từ một cách đọc cổ của các chữ <vụ,vạn, vị…>. Hai phụ âm đầu <m> và <v> cũng có một sự liên hệ ngữ âm gần gũi nhau.
1.1.4 . Phụ âm đầu <Đ-> trong từ Hán - Việt tương ứng với phụ âm đầu <ㄷ[d]-
>và <ㅌ[t], <ㅈ[j] > từ Hán - Hàn.
Phụ âm đầu <đ->từ Hán -Việt xuất phát chủ yếu từ thanh mẫu Hán
<端đoan 단[dan]> và <定định 정[jŏng]>, nguồn gốc của thanh mẫu này cũng đơn giản. Cách phát âm của phụ âm này đã tồn tại trong vòng mấy trăm năm nay mà có thể nói chắc chắn, phụ âm đầu <đ-> này ta đã thấy ở từ điển Việt- Bồ- La thế kỷ XVII. Ở An Nam dịch ngữ, người ta lại thấy là người Minh dùng
<t> ghi <đ->. Điều đó chứng tỏ <đoan, định > chuyển sang từ Hán -Việt phải trải qua một giai đoạn <t> rồi sau đó mới có <đ> từ Hán - Việt ngày nay. Do đó, G.S.
Nguyễn Tài Cẩn đề nghị một quá trình như sau : Đoan : t -- t -- d (Đ) ẹũnh : d
So sánh với từ Hán - Hàn, <đ-> ghi âm <t, d>, ví dụ: <đàn彈 탄 [tan]>;
<đàm 痰 담 [dam]>và <đặc 特 특[tŭk]> tương ứng với <특[tŭk]>; <định > tương ứng với <정[jŏng]>; <đệ> tương ứng với <제[je]>v.v… làm cho chúng ta liên tưởng phải chăng hai thanh mẫu <đoan>; <định> khi sang tiếng Hàn vẫn giữ lại thế đối lập của nó, nhưng với nét khu biệt khác, còn từ Hán - Việt thì cuối cùng nhập lại thành một phụ âm. Ví dụ:
多 ẹa 다 da 都 ẹoõ 도 do
督 Đốc 독 do 大 Đại 대 dae
黨 Đảng 당 dang 動 Động 동 dong
彈 Đạn 탄 tan 特 Đặc 특 tŭk 定 Định 정 jŏng 第 Đệ 제 je
題 Đề 제 je 答 Đáp 답 dap
頭 Đấu 두 du 電 Điện 전 jŏn
Như vậy phụ âm đầu <đ> từ Hán - Việt có những trường hợp tương ứng với
<ㄷ- [đ]> và <ㅈ- [j]> trong từ Hán - Hàn. Nhưng trước đầu thế ky ûXX cách phát âm <ㄷ[d]> trong tiếng Hàn giống như cách phát âm ở Bắc Triều Tiên giữ cách phát âm <ㄷ[d]>từ xưa cho đến nay mà hiện nay trong tiếng Hàn có cách đọc