Các yếu tố vần tiếng Việt và vần từ Hán - Việt

Một phần của tài liệu So sánh lớp từ hán hàn trong tiếng hàn và lớp từ hán việt trong tiếng việt (Trang 56 - 61)

Ⅰ . HỆ THỐNG NGỮ ÂM TIẾNG VIỆT

2. Ngữ âm tiếng Việt và từ Hán - Việt

2.2. Các yếu tố vần tiếng Việt và vần từ Hán - Việt

Âm đệm đứng ở vị trí giữa âm đầu và âm chính trong một âm tiết. Âm đệm

<-u-, -o->trong âm tiết tiếng Việt có vị trí khá đặc biệt. Nó đứng sau phụ âm đầu và trước âm chính, và phát âm của nó là [-u-] hay [-w-]. Âm đệm <-u-, -o-> có thể xuất hiện sau hầu hết các phụ âm đầu, nhưng không thể xuất hiện sau phụ âm đầu như <b-, m-, ph-, v-> và chỉ có một số lệ ngoại. Âm đệm <-u-, -o-> cũng không thể xuất hiện trước các nguyên âm như <u, uô, ô, o>.

Trước nguyên âm <e, a, ă> âm đệm được ghi bằng con chữ viết <-o-> sau phụ âm đầu <k-> thì âm đệm ghi bằng con chữ viết<-u->; sau các phụ âm đầu

<kh-, ng-, h-> thì âm đệm có thể ghi được bằng con chữ viết <-u-> và <-o->.

Ví dụ: khoảnh (頃), khoan(寬), ngoan(玩),hoan(歡) v.v…. Dĩ nhiên, cũng có âm đệm <-u-> đi với nó, như: khuyết, nguyện, huyện v.v….

Hiện nay, các từ <hoa, oa, qua> trong phương ngữ miền Nam được phát âm là [wa]. Âm đệm này cũng có trong âm tiết từ Hán - Việt.

2.2.2. Âm chính tiếng Việt và âm chính từ Hán - Việt

Nguyên âm trong âm tiết tiếng Việt được coi là có chức năng quan trọng nhất trong âm tiết. Nguyên âm đơn hoặc nguyên âm đôi có thể đảm nhiệm chức năng âm chính trong âm tiết tiếng Việt. Có nhiều giải thuyết âm vị học khác nhau về số lượng âm chính trong tiếng Việt. Trong luận án này chúng tôi chọn giải thuyết hệ thống âm chính tiếng Việt là 14 nguyên âm, có11 nguyên âm đơn và 3 nguyeõn aõm ủoõi (tr.91, ẹinh Leõ Thử, Nguyeón Vaờn Hueọ, 1998).

Vị trí của lưỡi Trước Giữa Sau

Độ mở

Heùp [i ] i, y [u ] ử [u ] u

Hẹp vừa [ie] iê,ia, yê,ya [u ] ươ, ưa [uo] uô, ua

Trung bình [e ] eâ [ ] ô, aâ [o] oâ

Rộng [ε] e, a [a, ă] a, ă [ ] o

<ưa> chỉ dùng trong từ thuần Việt, không xuất hiện trong từ Hán -Việt.

Nguyên âm <e> ghi ký hiệu quốc tế là [ε ]. Phát âm của nguyên âm này có sử khác nhau giữa các phuơng ngữ. Ở từ Hán - Việt hầu như không gặp nguyên âm

<e>.

Cách viết <iê, yê, ya> trên đều phát âm như là [ie], cách viết < ya> ít xuất hiện ở từ Hán -Việt nhưng có ở từ thuần Việt trong âm tiết mở. Ngược lại, <iê, yê> xuất hiện trong âm tiết từ Hán - Việt khi 3 âm tiết cũng xuất hiện cả ở từ thuaàn Vieọt.

Cách viết< e, ưa, ya> không xuất hiện trong âm tiết từ Hán - Việt. Những cách ghi nguyên âm còn lại đều dùng trong từ Hán - Việt.

Bảng tóm tắt đối chiếu các âm vị nguyên âm Hán - Việt và sự thể hiện bằng chữ viết thứ tự âm vị con chữ thứ tự âm vị con chữ

1 [ i ] i.y 8 [ o ] oâ

2 [ e ] eâ 9 [ ] aâ

3 [u ] ử 10 [ aờ ] aờ, a

4 [ ] ô 11 [ ie ] ieâ ,yeâ

5 [ a ] a 12 [ uo ] uoâ

6 [ u ] u 13 [ u ] ửụ

7 [ ] o

2. 2. 3. Âm cuối tiếng Việt và âm cuối từ Hán - Việt

Âm cuối như tên gọi của nó, có vị trí cuối trong mô hình âm tiết (bảng dưới).

Lưỡi Vò trí caáu aâm

Phửụng thức cấu âm

Moâi

Đầu lưỡi Mặt lưỡi

phuù aõm khoõng muừi p[-p] t [-t] c, ch [-k]

cuoái muõi m[-m] n[-n] nh, ng [-ng]

Bán nguyên âm cuối u, o [-u] i, y [-i]

◈ phiên âm qui ước [-ng] này là phiên âm quôc tế [ n ]

Về mặt âm vị học, hệ thống âm cuối trong tiếng Việt có 6 phụ âm [p, t ,k, m, n , ng] và 2 bán nguyên âm < u,o [-u] / i, y [-i] >. Các con chữ ghi phụ âm <-m, - p, -n, -t, -ng, -c, -nh, -ch> xuất hiện ở cuối âm tiết, trong đó, <-nh> và <-ng> là biến thể của âm vị [-ng], <-c> và<-ch> là biến thể của âm vị [-k].

Sáu phụ âm cuối có ở tiếng Hán trung cổ, ta đều có thể thấy trong hệ thống phụ âm cuối Hán - Việt: Phụ âm cuối <-m [-m], -p [-p]> trong vần của chữ Hán như <xâm 侵 침[chim]>, <đàm 談 담[dam]>, <hấp 吸 흡[hup]>, <tháp 塔 탑 [tap]>…, chung âm <-n [-n], -t [-t]> cũng thấy được trong vần của các chữ Hán như <hồn魂 혼[hon]>, <đột突 돌[dol]>, <xuân春 춘[chun]>, <tiết節절 [jol]>…,

phụ âm cuối [-ng], [-k] đuợc viết thành <-nh, -ng, -c, -ch> (nếu phụ âm cuối [-ng, -k ] đứng sau nguyên âm < a, i, ê > thì đuợc ghi <-nh> và <-ch>).

Theo giả thuyết của Nguyễn Tài Cẩn (tr.199, tr.203, 1997), phụ âm cuối <-nh, -ch> có nguồn gốc từ nhiếp <nganh> là một nhiếp có âm cuối [-ng /-k] ở tiếng Hán. Nhưng <-ng /-k> tiếng Hán là những âm cuối có đến ba biến thể: [-ng /-k]

bình thường, biến thể [- ng/- k] có tròn môi và biến thể [- ng / -k] ngạc hóa.

Chính biến thể có ngạc hóa này tạo điều kiện cho nó chuyển thành <nh, ch>

trong tiếng Việt. Nếu ta so sánh phụ âm cuối giữa từ Hán - Hàn với từ Hán - Việt thì giả thuyết này hoàn toàn được ủng hộ. Phụ âm cuối [-ng], [-k] có thể thấy ở các vần của chữ Hán như <đảng黨 당 [dang]>, < khách客 객 [gaek]>,

<ác惡 악 [ak]>, <linh靈 령 [lyong]>….

Trong tiếng Việt, các phụ âm cuối và hai âm vị bán nguyên âm cuối cũng thấy xuất hiện trong từ thuần Việt và trong từ Hán - Việt.

Cần chú ý, trong giải pháp của chữ viết thì trong các vần <ao/au>, <ai/ay>

nguyên âm làm âm chính là như nhau, khác nhau ở bán nguyên âm cuối, còn trong giải pháp âm vị học thì bán nguyên âm cuối giống nhau, chỉ khác nhau ở âm chính [a] và [a].

Bảng đối chiếu các âm vị âm cuối Hán - Việt và sự thể hiện bằng chữ viết Âm vị Con chữ

[-p] p

[-t ] t [-k] c,ch [-m] m [-n ] n Phuù aõm cuoỏi

[-ng] ng, nh [-u] o, u Bán nguyên âm cuối

[-i ] i, y

2.2.4. Thanh điệu tiếng Việt và thanh điệu từ Hán - Việt

Một đặc trưng của âm tiết tiếng Việt là mỗi âm tiết nhất thiết phải có một thanh điệu. Thanh điệu khu biệt vỏ âm thanh và vì vậy nó là một thành tố tham gia tạo ra âm chất của âm tiết tiếng Việt. Mỗi thanh điệu là một âm vị siêu đoán tính.

Hiện nay, hệ thống thanh điệu tiếng Việt không thống nhất giữa các phương ngữ, Ở phương ngữ miền Bắc có 6 thanh, ở đa số các vùng khác thường có 5 thanh. Từ Hán - Việt và từ thuần Việt đều có các thanh điệu thuộc âm vực cao (thanh ngang, thanh ngã, thanh sắc) và âm vực thấp ( thanh huyền, thanh hỏi, thanh nặng). Do đó, không cần so sánh từ thuần Việt với từ Hán - Việt.

Khoâng baèng phaúng AÂm ủieọu

Âm vực

Baèng phaúng

Đổi hướùng Không đổi hướùng

Cao 1 (ngang) 3 (ngã) 5 (sắc)

Thấp 2 (huyền) 4 (hỏi) 6 (nặng)

Một phần của tài liệu So sánh lớp từ hán hàn trong tiếng hàn và lớp từ hán việt trong tiếng việt (Trang 56 - 61)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(219 trang)