QUÁ TRÌNH TIẾP XÚC GIỮA TIẾNG HÁN VỚI TIẾNG HÀN VÀ TIẾNG VIỆT
Ⅲ. HOÀN CẢNH TIẾP XÚC TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÁN
Nói đến từ vựng tiếng Việt cũng như lịch sử tiếng Việt không thể nào không đề cập đến lớp từ Hán - Việt. Trong kho từ vựng Việt Nam hiện có một số khá nhiều từ Hán - Việt. Trả lời câu hỏi từ Hán - Việt chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong kho từ vựng tiếng Việt, tỷ lệ thấp nhất theo ý kiến của Lê Xuân Thại là 40%.
Nhiều học giả dẫn con số sáu mười phần trăm theo thống kê của Maspéro nhưng thống kê này lâu rồi (năm 1912), cũng có ý kiến cho rằng 70% trở lên. Sự phong phú của từ ngữ Hán - Việt có thể dễ thấy qua từ điển, qua các văn bản, nhất là văn bản khoa học, chính luận, báo chí v.v….
Cùng với sự phát triển của khoa học hiện nay, nhất là khoa học xã hội, số lượng từ Hán - Việt sẽ còn tăng lên nhiều. Việc nghiên cứu từ gốc Hán và từ Hán - Việt trong tiếng Việt đã có một lịch sử khá lâu. Học giả Maspéro và Vương Lực là những người xứng đáng được ghi tên đầu tiên. Maspéro đã bước đầu phân biệt các lớp từ gốc Hán trong tiếng Việt.
Từ năm 1970 đến nay, Hán -Việt được nhiều tác giả nghiên cứu và xác định là một bộ phận trong từ gốc Hán.
Nguyễn Tài Cẩn, Hồ Lê, Nhữ Thành, Phan Văn Các … đã nghiên cứu từ Hán -Việt và tìm hiểu xem tiếng Việt đã tiếp xúc với tiếng Hán từ thời kỳ nào? Cách đọc theo âm tiếng Hán hình thành từ thời kỳ nào? Cách đọc này bắt nguồn từ đâu? Cách đọc theo âm địa phương nào?
Ngoài ra các học giả này cũng đã nghiên cứu hệ thống ngữ âm Hán Việt Việt hoá, Hán Việt được Việt hoá như thế nào? Phục nguyên hệ thống ngữ âm tiếng Hán Trung cổ và từ Hán - Việt v.v….
Theo giới sử học cho biết thời kỳ Bắc thuộc không phải liên tục mà có thể cọi là thời kỳ thống trị của phong kiến phương Bắc, cho nên người Việt bị lệ thuộc vào nhà Hán đô hộ. Căn cứ vào tài liệu lịch sử, quá trình tiếp xúc giữa tiếng Việt với chữ Hán bắt đầu khoảng trước công nguyên. Sự tiếp xúc giữa tiếng Việt với chữ Hán diễn ra hết sức phức tạp, không phải đơn giản vì tiếng Việt đã tiếp xúc với chữ Hán đã từ quá lâu, qua nhiều con đường và qua nhiều giai đoạn khác nhau và chỉ ngành ngôn ngữ học mới có thể phân tích được một cách khoa học.
Thời Xuân Thu Chiến Quốc, vùng Trung nguyên đã có quan hệ với vùng đất phớa Nam cuỷa Vieọt Nam xửa.
Năm 213 trước công nguyên, sau khi Tần Thủy Hoàng đã thống nhất thiên hạ, theo sách lịch sử Việt Nam còn ghi chép cuộc xâm lược của Tần Thủy Hoàng.
Ngày xưa cư dân miền Bắc Việt Nam có thể đã bắt đầu có quan hệ với cư dân vùng người Hán từ thời thượng cổ.
Năm179 trước công nguyên, Triệu Đà đem quân xâm lược Âu Lạc và năm 111 nhà Hán đặt nền đô hộ ở Nam Việt. Trong chín quận đó, các quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam thuộc đất miền Bắc và đất miền Trung Việt Nam hiện nay. Thời Đó, Thái thú Giao Chỉ và Thái thú Cửu Chân thúc đẩy mạnh chính sách đồng hóa nhân dân Việt Nam theo nền văn hóa phong kiến Nhà Hán. Vùng Giao Chỉ, Cứu Chân liên hệ với vùng Trung Nguyên ngày càng chặt chẽ. Những quý tộc đại sĩ phu Hán kéo nhau sang ở Giao Chỉ rất đông. Vào thời ấy tiếng Việt cổ chưa có chữ viết chỉ có chữ Hán là một văn tự có hệ thống và được dùng làm văn tự ghi chép.
Cuối đời Đông Hán, nhiều người Hán đến vùng Giao Châu để trốn thoát loạn lạc ở vùng Trung Nguyên. Sau khi định cư, một số người trong đó dạy các kinh sách như Luận ngữ, Đạo đức kinh (Lão tử)… và truyền bá nền văn hóa vùng Trung Nguyeân.
Sau thời Nam Bắc Triều, bộ máy thống trị của người Hán càng thêm thắt chặt.
Sang đến thời Tùy Đường thì bộ máy thống trị đã đi sâu đến tận xã, quyền lực đều nằm trong tay tầng lớp quan lại người Hán, nó có ảnh hưởng đáng kể đến xã hội Việt Nam và tầng lớp phong kiến ở Việt Nam đã tương đối có thế lực. Thời này thực hiện chế độ khoa cử ở vùng Giao Chỉ để tuyển chọn Nho sinh quan lại, do đó con cái của các gia đình có thế lực đã học Hán Học. Các thí sinh đi kinh đô Trường An để ứng thí và có nhiều người Việt tinh thông chữ Hán trở thành nho sĩ.
Những nho sĩ, nho sinh là một lực lượng truyền bá chữ Hán tích cực. Dần dần xã hội Việt Nam bấy giờ đã tạo điều kiện dễ dàng cho việc tiếp thu nền văn hóa
Hán. Chữ Hán với Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo dần dần đã bén rễ xuống đến vùng đất phía Nam.
Ngoài ra, còn lực lượng truyền bá chữ Hán tích cực nữa là lực lượng truyền bá đạo Phật bằng các kinh Phật chữ Hán. Cành nhấn mạnh là con đường truyền bá thứ nhất chỉ quanh quẩn trong khu vực một số thị trần, không thể có ảnh hưởng đến dân chúng nông thôn. Nhưng con đường thứ hai thì lại đưa được chữ Hán vào hàng ngàn ngôi chùa và hành vạn Phật tử ở nông thôn. Vì vậy, trong thời kỳ này, vai trò truyền bá chữ Hán vào dân chúng Việt nam chủ yếu là theo con đường truyền bá đạo Phật mà có.
Từ cuối thế kỷ IX đến cuối thế kỷ XII, qua các triều đại Khúc, Dương, Ngô, Đinh, Lê, Lý, Phật giáo vẫn được tôn sùng quốc giáo. Việc truyền bá loại
“ giáo” nói trên có thể là một nhân tố làm cho chữ Hán càng ngày càng phổ biến sâu rộng ở Giao Châu. Đất Giao Chỉ thời đó đã có hiện tượng song ngữ, chưa có ngôn văn thống nhất, chữ Hán là chữ viết được sử dụng.
Từ năm 1075, vua triều Lý mở Quốc Tử Giám, đặt chế độ khoa cử, nội dung thi cử là tam giáo (Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo).
Năm 1253 Trần Thái Tông lập ra Quốc học viện tôn thờ Khổng tử, chiêu tập nho sĩ , giảng dạy Tứ thư Ngũ kinh.
Vào cuối thời Trần, nho sinh có thế lực mạnh trong xã hội và tầng lớp thống trị người Việt coi trọng văn hóa Hán và chữ Hán.
Các vận thư và từ điển xưa thường sử dụng lối chú âm như những bộ từ điển Khang Hy từ điển và Thiết vận, Đường vận hoặc Quảng vận, Tập vận…
Chúng tôi chấp nhận ý kiến của Nguyễn Tài Cẩn chia thành hai giai đoạn lớn trong quá trình tiếp xúc này là: giai đoạn từ đầu công nguyên đến đầu đời Đường (đến khoảng thế kỷ VII) và giai đoạn bao hàm hai thế kỷ VIII và thế kỷ
IX, là giai đoạn cuối đời Đường - Ngô. Giai đoạn đầu không trực tiếp liên quan đến âm từ Hán -Việt hiện nay. Cách phát âm ở giai đoạn này gọi là Hán- Việt cổ, Hán - Việt cổ không tạo thành hệ thống. Hiện nay, người Việt không dùng nó khi đọc các chữ Hán vuông nữa. Trong suốt IX thế kỷ sau công nguyên, âm chữ Hán ở Việt Nam là một cách phát âm luôn gắn liền với những sự biến đổi xảy ra ở trong tiếng Hán.
Cách phát âm ở các triều đại Hán, Ngụy, Nam Bắc triều đều bị Đường âm thay thế. Hai giai đoạn tiếp xúc này đều rất quan trọng.
Nguyễn Tài Cẩn xác minh cách phát âm Hán - Việt là theo hệ thống Đường âm, hệ thống phụ âm và vần của tiếng Hán trong khoảng thế kỷ VIII, IX là nguồn gốc, là xuất phát điểm của hệ thống phụ âm và vần Hán - Việt hiện nay.
Người Việt đã có song ngữ, chữ Hán thì dùng trong văn viết.
Nghiên cứu hệ thống ngữ âm tiếng Hán trung cổ thì rõ ràng là không thể nào không viện dẫn đến cách phát âm chữ Hán ở Việt Nam vì cách phát âm này vốn bắt nguồn từ tiếng Hán trung cổ. Nhìn lại dòng lịch sử, đối với giai đọan tiếng Hán trung cổ, cứ liệu chủ yếu mà các nhà nghiên cứu thường dùng là cứ liệu Hán - Hàn, và Hán - Việt, còn cứ liệu Hán - Việt thế kỷ VII, Nhà Đường cai trị Việt Nam và người Việt lại đọc chữ Hán theo âm Đường có nhiều điểm khác âm Hán.
Các nhà ngôn ngữ học đã phục hồi lại được ngữ âm từng từ ở đời Hán và đời Đường.
Hơn nữa, Nguyễn Tài Cẩn đưa ra một chứng tích về khả năng vẫn có thể có tiếp xúc với tiếng Hán sau khi Việt Nam đã giành được độc lập. Một chứng tích đó là bìa tấm khắc in theo cuốn kinh của Đạo giáo, một bản âm Thích được phát
hiện một cứ liệu có ý nghĩa ở Linh Tiên Quán tỉnh Hà Sơn Bình. Ba tấm ván khắc in coi được khoảng 308 chữ Hán.
Các nhà ngôn ngữ học Henri Maspéro (1912), B.Karlgren(1915-1926) Vương Lực (1958) và Tam Căn Cốc Triệt (1972) đã nghiên cứu âm Hán -Việt trong tiếng Việt. Tuy có ý kiến bất đồng về thời gian bắt đầu sử dụng Hán văn, thời kỳ hình thành âm Hán -Việt vì thiếu cứ liệu căn cứ nghiên cứu tỉ mỉ, nhưng các học giả đều nhất trí rằng từ Hán - Việt chịu ảnh hưởng âm tiếng Hán trung cổ.
Sau đời Đường, cách phát âm chữ Hán qua các triều đại Tống, Nguyên, Minh, Thanh đã biến đổi rất nhiều. Vào thế kỷ X là thời kỳ độc lập hoàn toàn cho đến cuối thế kỷ XIX, trừ một thời gian rất ngắn trên hai mươi năm bị nhà Minh xâm lược vào đầu thế kỷ XV, nhưng chữ Hán ở Việt Nam vẫn cơ bản được đọc như dạng ngữ âm của tiếng Hán đời Đường.
Trong thời nhà Đường, các trường lớp dạy chữ được mở ra ở nhiều nơi. Tiếng Hán đời Đường đã du nhập vào Việt Nam một cách có hệ thống.
Từ khi Việt Nam giành được quyền độc lập, yếu tố văn tự là công cụ quan trọng nhất để xây dựng quốc gia. Chữ ấy chỉ có thể là chữ Hán. Trong những thời kỳứ Việt Nam dưới chế độ phong kiến Trung Quốc đụ hộ, cỏc triều đại phong kiến Việt Nam, nhưng ở Việt nam vẫn lấy chữ Hán làm văn tự chính thức của nhà nước và phát triển học hành, thi cử bằng chữ Hán. Do đó, việc học chữ Hán càng ngày càng phát triển vì được sự ủng hộ của tầng lớp thống trị, tầng lớp trí thức Việt Nam. Chữ Hán vẫn còn tiếp tục được dùng rộng rãi ở Việt Nam, vẫn đọc như dạng ngữ âm tiếng Hán đời Đường. Cách phát âm đó vẫn tồn tại đến ngày nay và được gọi là cách đọc Hán - Việt.
Các từ ngữ tiếp nhận từ tiếng Hán đọc theo âm Hán - Việt là bộ phận chủ yếu trong các từ ngoại lai của tiếng Việt. Nó bao gồm từ ngữ thuộc mọi lĩnh vực hoạt động như kinh tế, chính trị, hành chính, tư pháp, y học, văn hoá giáo dục
v.v…. Chúng ta không thể liệt kê hết tất cả các từ Hán - Việt này bởi vì từ Hán - Việt chiếm một tỷ lệ rất lớn trong từ vựng tiếng Việt.
Nhiều từ được tiếp nhận vào Việt Nam từ lâu. Người Việt sử dụng những từ gốc Hán đó, làm chất liệu để cấu tạo nên những đơn vị từ vựng mới theo cách của Việt Nam. Việc nghiên cứu cách đọc Hán - Việt và yếu tố Hán - Việt là một vấn đề rất thiết thân, rất thiết thực trong sinh hoạt ngôn ngữ ngày nay của Việt Nam.
So sánh đối chiếu căn cứ cách phát âm, ngữ nghĩa, cách tạo từ mới với yếu tố Hán chung trong từ Việt và từ Hàn sẽ là một cống hiến có gía trị đối với lý luận tiếp xúc ngôn ngữ, văn hoá giữa hai nước cùng chịu ảnh hưởng nền văn hoá chữ Hán. Hai thứ tiếng cũng đang dùng chữ Hán, vay mượn rất nhiều từ ngữ Hán.
So sánh đối chiếu từ Hán - Hàn và từ Hán - Việt có một ý nghĩa thực tiễn rõ ràng trong lĩnh vực giảng dạy và học tập hai thứ tiếng. Công việc này cũng cho phép giải quyết hàng loạt những vấn đề thuộc lĩnh vực giảng dạy hai thứ tiếng.
CHệễNG 2.