VỀ MẶT CẤU TẠO TỪ
2. Từ đơn Hán - Việt
3.1.2. Từ ghép Hán - Việt đẳng lập
Về cấu tạo, từ ghép đẳng lập là một kết hợp hai yếu tố song kết. Từ ghép đẳng lập được định nghĩa như sau trong sách giáo khoa trung học.
Giữa các yếu tố của từ ghép đẳng lập có quan hệ bình đẳng về ngữ pháp (Tiếng Việt 6). Số lượng lớn của các từ ghép đẳng lập là từ Hán - Việt hay gồm một yếu tố Hán -Việt ghép với một yếu tố thuần Việt. Từ ghép đẳng lập cũng là hai âm tiết và phân loại theo nghĩa của các yếu tố trong từ ghép Hán - Việt như
trường hợp các yếu tố đồng nghĩa, trường hợp các yếu tố trái nghĩa, trường hợp các yếu tố đối xứng nghĩa. Từ ghép đẳng lập có danh từ, động từ và tính từ.
Vớ duù:
Sinh sản 생산 saeng san 生産 Phụ mẫu 부모 bu mo 父母
Hử voõ 허무 hŏ mu 虛無 Sụn thuỷy 산수 san su 山水
Giang sơn 강산 gang san 江山 Huynh đệ 형제 hyŏng je 兄弟
Quoác gia 국가 guk ga 國家 Thò phi 시비 si bi 是非
Thắng bại 승패 sŭng pae 勝敗 Âm nhạc 음악 ŭm ak 音樂 Dị động 이동 i dong 移動 Phong phú 풍부 pung bu 豊富
Một điểm cần chú ý là từ đơn Hán - Việt có khả năng ghép với từ thuần Việt theo quan hệ chính- phụ và quan hệ đẳng lập như “ sinh sống”, “ nghề nghiệp”,
“duù dỗ’, “lộ tẩy”, “đền đỏp”…
3.2. Từ láy Hán - Việt
Theo định nghĩa từ láy của tác giả Nguyễn Thiện Giáp, từ láy là những cụm từ cố định được hình thành do sự lặp lại hoàn toàn hay lặp lại có kèm theo sự biền đổi ngữ âm nào đó của từ đã có. Chúng vừa sự hài hòa về ngữ âm, vừa có giá trị biểu cảm, gợi tả( Từ vựng học tiếng Việt, tr.91,1985).
Từ láy được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức phối hợp bằng cách hòa phối âm thanh lặp lại hoặc láy đôi. Còn gọi là từ lấp láy, từ láy âm, từ ghép láy, từ phản điệp. Từ láy tiếng Việt chủ yếu là từ thuần Việt (phần lớn là hai tiếng) và có thể tìm được một số từ láy Hán - Việt. Hình thức láy từ thường được cấu tạo nên các đơn vị song tiết. Các tổ hợp có 3, 4 tiếng có quan hệ ngữ
âm lặp cũng được gọi là từ láy: láy ba, láy tư. Từ láy song tiết được chia nhỏ ra thành hai kiểu: láy hoàn toàn và láy bộ phân. Hinh thức láy ba trong tiếng Việt không nhiều và hình thức láy bốn thường được xây dựng trên cơ sở các ngữ láy đôi bộ phận.
Từ láy hoàn toàn là từ láy có sự đồng nhất, tương ứng hoàn toàn giữa các thành phần cấu tạo của hai thành tố (Từ tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học,1998).
Vớ duù :
xanh - xanh xanh, đỏ - đo đỏ, nhớ - nhơ nhớ, xa - xa xa lù - lù lù, lăm – lăm lăm, ngày – ngày ngày, kìn – kìn kìn….
Đối với tiếng Việt, đơn vị được cấu tạo nhỏ phương thức láy bao giờ cũng là sự lặp lại của các từ ngữ đã có. Còn một số từ láy Hán - Việt sau đây thì có thể cấu tạo nên đơn vị song tiết cũng như bốn âm tiết. Từ láy này là kiểu có mô hình cấu tạo ABỈAABB (láy tư) và AỈAA (từ láy song tiết).
Vớ duù:
Huứng hoồ 熊虎 (AB) ặ huứng huứng hoồ hoồ 熊熊虎虎 (AABB) Đường chính 堂正(AB) Ỉđường đường chính chính 堂堂正正 (AABB) Bỡnh 平 (A) ặ bỡnh bỡnh 平平 (AA)
Cao 高 (A) ặ cao cao 高高 (AA)
Từ láy bộ phận có nhiều trường hợp, do đó không thể nói về cách láy như thế nào trong luận án này nhưng bản thân tôi đã tìm cả Từ điển từ láy tiếng Việt (Viện ngôn ngữ học,1998), đã phát hiện một số từ láy Hán -Việt thôi. Có thể nói từ láy Hán - Việt chiếm tỉ lệ nhỏ trong từ vựng tiếng Việt. Có những từ láy Hán - Việt mà ngày nay nhiếu người lầm tưởng là thuần Việt vì từ láy như “bại
hoại敗壞, bàng hoàng 彷徨, đường đột唐突, lục tục 碌續, mê muội迷味, mông muội夢味, quyến luyến 眷戀, Đạo mạo道貌, Lam lũ 襤褸, Linh tinh 零星, Bôn ba 奔波, Bàng bạc磅膊 …”.
Và có nhiều từ láy mà cấu tạo của nó là “ từ đơn Hán - Việt + yếu tố thuần Việt như “ngang tàng, hùng hục…”.