Chương 5. THIẾT KẾ, XÂY DỰNG VƯỜN CÂY ĂN QUẢ
5.3. THIẾT KẾ VƯỜN CÂY ĂN QUẢ
5.3.1. Thiết kế lô, đường đi và hàng cây trong vườn quả
Công việc này có tính chất quyết định đến cây trồng, các kỹ thuật chăm sóc trong vườn, quản lý vườn cây. Do đó, nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và năng suất của vườn quả (Vũ Mạnh Hải, 2010). Điều này cho thấy, việc thiết kế vừa yêu cầu phải có kiến thức am hiểu đặc điểm nông sinh học của các loại thực vật sử dụng, đặc tính kỹ thuật của từng loại cây dự định sản xuất vừa phải có con mắt của nhà thiết kế, mang tính khoa học, logic và thẩm mỹ.
a, Thiết kế lô trồng
Khi thiết kế một trang trại trồng cây ăn quả phải kết hợp nhiều mặt giữa cây trồng chính với giao thông vận chuyển, thuỷ lợi, cơ giới hóa… Để tiết kiệm đất, thông thường có thể chia theo tỉ lệ sau: 80% đất cho cây ăn quả, 10-12% cho đai rộng cản gió, 5-6% cho đường đi, 2-5% cho nhà cửa, kho tàng, sân bãi (Trần Thế Tục & cs., 1998; Vũ Mạnh Hải, 2010).
Trên đất dốc thiết kế theo đường đồng mức, ruộng bậc thang, đất dựng cho cây ăn quả khoảng 60%. Trong khi đó, ở đất phèn, thấp trũng do phải lên lớp làm kênh mương thì đất cho cây ăn quả chỉ xấp xỉ 50% (Trần Thế Tục & cs., 1998).
Tỉ lệ sử dụng đất chỉ áp dụng đối với các trang trại cây ăn quả, còn đối với các vườn quy mô diện tích nhỏ có thể giảm theo ý đồ của chủ vườn.
Diện tích lô trồng cây ăn quả phụ thuộc vào địa hình và quy mô chung của vườn quả. Diện tích tối đa cho 1 lô trên đất bằng phẳng từ 2-4ha, vườn đất dốc từ 1-2ha vùng đất trũng, chua phèn 0,5-1,0ha.
Tuỳ theo địa hình đất để thiết kế vườn cho phù hợp cách trồng cây trên lô. Ví dụ:
Với đất bằng hoặc có độ dốc <5º thì trồng cây trong lô theo kiểu hình vuông, hình chữ nhật hoặc hình tam giác (kiểu nanh sấu). Đất có độ dốc 5-8º, trồng cây theo đường đồng mức, độ dốc 8-10ºtrồng cây theo đường đồng mức nhưng thiết kế kiểu bậc thang đơn giản, độ dốc > 10º thiết kế theo kiểu bậc thang kiên cố.
b, Thiết kế đường giao thông
Thiết kế mạng lưới giao thông trong vườn cây ăn quả phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
Chọn tuyến đường ngắn, ít dốc, ít sông suối đi lại thuận tiện cho người và gia súc, thuận tiện cho việc cơ giới hóa, tiết kiệm đất đai và không gây tác hại xói mòn.
Mạng lưới giao thông phải kết hợp chặt chẽ với mạng lưới đai rừng, thuỷ lợi và các công trình chống xói mòn.
Các loại đường trong trang trại cây ăn quả được phân chia thành các cấp, mỗi cấp đường có một chức năng, nhiệm vụ khác nhau nhưng kết hợp thành một khối giao thông thống nhất trong vườn quả. Các loại đường trong vườn quả gồm có:
Đường trục chính: Nối liền khu trung tâm với các cơ sở sản xuất, cơ sở kinh tế xã hội khác. Mặt đường rộng 5-6m. (không kể chiều rộng đất hai bên đường để trồng cây).
Đường liên đồi: Là đường nối từ đường trục chính đến các quả đồi hoặc đi từ đồi này sang đồi khác. Bề rộng đạt 2,5-3,0m cho xe cơ giới đi 1 chiều (có thiết kế đoạn tránh), xe cải tiến đi lại 2 chiều.
Đường lên đồi: Là đường nối liền đường lên đồi để đi lên đỉnh đồi. Để giảm bớt độ dốc, đường làm theo kiểu đường xoắn ốc, bề rộng mặt đường 2,5-3m nếu sử dụng phương tiện canh tác bằng cơ giới, hay rộng 1,5-2,0m nếu sử dụng xe cải tiến và sức vật kéo.
Đường đồng mức lưng đồi: Là đường nhằm cản nước lưng đồi, ở những quả đồi dốc có chiều dài 150m trở lên, cứ 80-90m bố trí 1 đường mức lưng đồi, chiều rộng giống như đường liền đồi (2,5-3,0m).
Đường chăm sóc phụ: Cứ 50-60m theo chiều dài lô bố trí 1đường chăm sóc phụ cắt ngang lô, bề rộng 1-2m, không trồng cây, không đào đắp, mục đích để đi lại, thu hoạch chăm sóc cho dễ dàng.
Hình 5.5. Phân lô đất dốc trên ruộng bậc thang
Nguồn: Trần Thế Tục & cs., 1998
Hình 5.6. Sơ đồ bố trí lô ở đất bằng
Đường lô: Đường được bố trí ở vùng đất bằng hoặc những đồi thấp 4-5o. Bố trí mỗi lô 1 đường lô riêng hoặc 2 lô bố trí 1 đường lô. Chiều rộng đường lô giống như đường lên đồi.
5.3.2. Lập đai rừng phòng hộ
Đai rừng phòng hộ là một trong những thành phần quan trọng đối với vườn quả.
Đai rừng có tác dụng hạn chế xói mòn, rửa trôi đất, giữ nước, hạn chế gió bão, lụt lội, giữ ẩm cho vườn cây, giảm lượng bốc hơi nước, điều hoà nhiệt độ; giảm bức xạ mặt trời
trực tiếp lên bề mặt quả (Vũ Mạnh Hải, 2010). Ngoài ra, đai rừng còn tạo ra vi khí hậu cho các loài côn trùng thụ phấn trong vườn quản (Lê Thanh Phong & Nguyễn Bảo Vệ, 2010).
a, Chọn loài cây trồng
Yêu cầu chung đối với các loại cây trồng trong đai rừng chắn gió phải có sức sinh trưởng nhanh, khoẻ, khả năng chống đỡ gió bão tốt, có tán dày, không là ký chủ sâu bệnh hại các cây trồng chính, có thể kết hợp trồng cây lấy mật, cây thụ phấn cho cây trồng chính (Trần Thế Tục & cs., 1998). Đồng thời, đai rừng không được tác động quá mạnh đến sự sinh trưởng của cây như cạnh tranh dinh dưỡng, che lấp ánh sáng đối với cây trồng chính (Lewis & Wicks, 1907).
Trong đai rừng chính có thể trồng cây lâm nghiệp sinh trưởng mạnh, thân tán cao to. Trong đai rừng phụ có thể trồng cây lâm nghiêp, cây ăn quả hoặc các loại cây cải tạo đất. Nhóm cây ăn quả có thể được lựa chọn như bơ, mít, chay, sấu, xoài, muỗm, vải, nhãn… Có thể chọn các nhóm cây lâm nghiệp phổ biến như keo tai tượng, keo lá chàm, keo dậu, muồng đen, cốt khí, bồ đề, bạch đàn, phi lao, bồ kết, tre nứa…
b, Thiết kế đai rừng
Tùy thuộc vào cấp đai rừng, vị trí trồng mà có các thiết kế phù hợp. Nguyên tắc chung nhất là đảm bảo việc chắn gió và phòng hộ. Vì vậy, đai rừng phải trồng dày, vuông góc hoặc chếch một góc 30ºvới hướng gió chính. Hiệu quả bảo vệ của hàng rào phụ thuộc vào chiều cao, độ dày, độ xuyên của hàng rào và góc độ của gió gây hại.
Theo nhiều tác giả, có thể phân chia đai rừng thành 3 loại:
Loại đai rừng kín: Đây là đai rừng dày, trồng cây với các tầng tán đa dạng, nhiều lớp. Kiểu hình này thường áp dụng ở những vùng có gió mạnh như khí hậu biển, vùng gió nóng khô như miền Trung.
Loại đai rừng hở: Loại đai rừng này cho phép gió đi xuyên qua phía dưới tán cây.
Mật độ cây trồng thưa, chủ yếu là cây tán cao để che bóng mát. Kiểu đai rừng này thường áp dụng ở các vùng ít chịu ảnh hưởng của bão gió, hoặc thiết kế theo các đường giao thông nội đồng.
Loại đai rừng kín vừa: Đây là loại đai rừng phổ biển ở các vùng sản xuất cây ăn quả ở nước ta. Theo các nghiên cứu về loại đai rừng này, tốc độ gió giảm 40% ở khoảng cách bằng hai lần chiều cao hàng rào; 35% ở khoảng cách bằng bốn lần chiều cao hàng rào, sau khoảng cách này tốc độ gió dần phục hồi và đạt vận tốc ban đầu ở khoảng cách 20-25 lần chiều cao hàng rào chắn gió.
Cách bố trí đai rừng: Một đai rừng có 1-2 hàng cây chính trồng ở giữa, hai bên là các hàng cây phụ, phía ngoài cùng là cây bụi và bán bụi. Hàng cây cuối cùng của đai rừng trồng cách xa hàng cây đầu tiên của vườn 8-10m. Khoảng cách giữa các hàng dao động từ 2-3m; giữa các cây trong hàng từ 1-2m. Tổng chiều dài một đai rừng chính không quá 20m, có thể có độ dày 7-8m ở vùng đồi núi, 8-10m ở vùng đồng bằng, 15-
20m ở vùng đất cát ven biển. Nếu vườn rộng cần trồng nhiều đai rừng phụ ở những khoảng cách cần thiết để giảm bớt tác hại của các yếu tố khí hậu bất thuận.
5.3.3. Hệ thống tưới, tiêu và xây dựng các đập chắn
Hệ thống tưới tiêu phải đảm bảo cung cấp và thoát nước tốt cho toàn bộ khu vườn.
Dựa trên điều kiện và nhu cầu sử dụng của vườn quả mà bố trí hệ thống tưới chủ động với các biện pháp tưới hiện đại như: tưới bép, tưới nhỏ giọt, tưới phun mưa… để tăng hiệu quả sử dụng nước cho cây.
Thông thường, hệ thống tưới gồm có:
- Nguồn nước tự nhiên (sông, suối, ao hồ, nước ngầm).
- Hệ thống đường ống dẫn: Hệ thống này được thiết kế với trục chính và các đường nhánh.
- Bộ điều khiển và bơm nước: Các đường ống dẫn được nối với một hoặc nhiều bơm để dẫn được nước đến các khu vực xa nhất trong vườn quả. Hệ thống bơm hút và bơm đẩy được tính toán để áp lực nước đảm bảo cho việc tưới nước cho toàn bộ khu vườn.
Vị trí xây dựng hồ chứa nước cho vườn quả thường được bố trí ở trung tâm vườn (vườn đồng bằng); thung lũng (vườn đồi). Một số khu vực đồi núi, tận dụng chênh lệch độ cao, các hồ chứa nước được xây đựng trên các khu vực cao hơn để tạo dòng chảy và áp lực tự nhiên.
Các đập chắn ở các nơi hợp thuỷ giữa các sườn đồi để giữ nước tưới cho cây trong mùa khô hạn, có nước để phun thuốc trừ sâu, phân bón và các chất điều hoà sinh trưởng.
Hệ thống tiêu nước cũng rất quan trọng đối với vườn quả. Hầu hết các loại cây ăn quả đều không chịu được ngập úng. Do đó, việc thoát nước kịp thời cho vườn quả có tác động trực tiếp đến năng suất của vườn cây. Hệ thống tiêu nước có thể được bố trí như các loại mương hở hoặc các đường ống ngầm thoát nước sâu, hoặc kết hợp cả hai loại trên. Tuy nhiên, tùy thuộc vào địa hình, lượng mưa, tính chất đất mà người thiết kế đưa ra các biện pháp tiêu nước phù hợp.
5.3.4. Xây dựng cơ cấu cây trồng trong vườn quả
Xu hướng canh tác cây ăn quả bền vững, ổn định, sử dụng triệt để các yếu tố sinh thái trong vườn cây, nhất là đối với các vùng miền, đất nước có quỹ đất không nhiều, đòi hỏi phải xây dựng một cơ cấu giống, loại cây trồng trên vườn một cách hợp lý.
Một cơ cấu giống cây trồng trong vườn quả thông thường gồm các thành phần sau:
Cây ăn quả: Là cây chính trong vườn trồng với mục đích thu sản phẩm chính.
Trong loại cây này có cơ cấu giống chín sớm, chính vụ và thu hoạch muộn nhằm giảm tính thời vụ trong chăm sóc cũng như cung cấp sản phẩm. Ví dụ đối với vườn trang trại trồng vải, thành phần là cây vải với cơ cấu giống gồm giống vải chín sớm chiếm 20%
diện tích (giống Bình Khê), giống chính vụ chiếm khoảng 60% diện tích (giống vải Thiều) và giống chín muộn chiếm 20% diện tích (giống Thiều muộn).
Cây trồng thay thế: Là loại cây được dự tính trồng kế tiếp sau chu kỳ khai thác hoặc phá bỏ cây ăn quả chính trong vườn và được trồng trước khi cây ăn quả hết chu kỳ khai thác khoảng 4-5 năm. Ví dụ đối với vườn vải trang trại, cây trồng thay thế có thể là cây hồng quả.
Cây trồng xen trong vườn: Là các cây trồng ngắn ngày hay dài ngày được trồng xen trên vườn trong thời kỳ kiến thiết cơ bản vườn cây (ví dụ đối với vườn vải trang trại có thể là cây dứa quả, các cây đậu đỗ, rau màu..) hay thời kỳ kinh doanh của vườn cây (ví dụ đối với vườn vải trang trại có thể là cây na, cây cảnh chịu bóng...).
Việc lựa chọn các cây trồng xen cần chú ý đến sự phù hợp về yêu cầu ngoại cảnh, canh tác của cây với cây trồng chính để có chế độ chăm sóc, bón phân tưới nước không ảnh hưởng lẫn nhau, không ký chủ sâu bệnh hại…
Các thành phần sản xuất không phải là trồng trọt: Bao gồm các hoạt động sản xuất ngoài lĩnh vực trồng trọt như chăn thả trong vườn, sản xuất nấm, nuôi ong, các côn trùng có ích khác trong vườn cây nhằm sử dụng hợp lý không gian cũng như các yếu tố sinh thái trong vườn.
Mô hình VAC là một mô hình thành công ở các nông hộ tại Việt Nam. Việc kết hợp giữa nhiều nguồn đầu vào cho khu vườn giúp cho nông dân đa dạng hóa sản phẩm phụ trợ, tăng nguồn thu nhập. Ngoài ra, các biện pháp trồng và nuôi xen có thể hạn chế nguồn sâu bệnh hại (trồng ổi xen vườn cam) hay tăng cường khả năng đậu quả của cây trồng chính (nuôi ong mật trong vườn quả)…. (Lê Thanh Phong & Nguyễn Bảo Vệ, 2010).
5.3.5. Bố trí cây thụ phấn trong vườn
Cây trồng thụ phấn bổ sung được trồng trong vườn quả nhằm cải thiện khả năng đậu quả và chất lượng quả.
Các vườn trồng giống có hoa đơn tính ít hoặc không có hoa đực, bất dục đực ở hoa lưỡng tính, khiếm khuyết trong cấu tạo hoa hoặc tỉ lệ hoa đực thấp, hoa đực và cái nở lệch pha... phải được bố trí trồng cây thụ phấn bổ sung.
Chọn giống cây thụ phấn bổ sung phải tính đến các yếu tố sau:
Cây thụ phấn bổ sung phải sinh trưởng tốt, thích nghi với điều kiện đất đai, lượng hạt phấn dồi dào và ít sâu bệnh.
Thời gian nở hoa của cây cho phấn phải trùng với thời gian nở hoa của cây nhận phấn. Trong thực tế, có thể sử dụng một số biện pháp kỹ thuật để tăng khả năng nhận phấn như thu và bảo quản hạt phấn, xử lý chậm chín thuần thục của nhụy hoa. Tuy nhiên, các biện pháp đều gây ra sự tốn kém và hiệu quả không cao.
Cây cho phấn phải có đặc điểm sinh lý, hóa sinh phù hợp để quá trình thụ phấn, thụ tinh được diễn ra một cách hoàn toàn. Nếu không có sự phù hợp về cấu trúc và sinh lý giữa hạt phấn và noãn thì quá trình thụ phấn không thành công. Do đó, thông thường
các nhà nông học lựa chọn các loài gần huyết thống hoặc cùng loài để làm cây thụ phấn bổ sung.
Bên cạnh đó, cần lưu ý rằng, tỉ lệ cây thụ phấn và nhận phấn cao hay thấp tuỳ thuộc vào khả năng cung cấp phấn, giá trị hàng hoá của cây cho phấn, tác nhân truyền phấn (côn trùng hay gió, thụ phấn nhân tạo). Nếu cây cho phấn có giá trị hàng hoá ngang bằng cây nhận phấn tỉ lệ có thể là 1:1, nếu ít có giá hàng hoá tỉ lệ tốt nhất 1:8-1:10.
Bố trí cây thụ phấn trong vườn: phải hợp lý và đảm bảo cung cấp phấn đầy đủ cho các cây nhận phấn trong vườn. Cần có sơ đồ về vị trí cây thụ phấn trong vườn trước khi tiến hành trồng cây.
5.3.6. Các công trình phụ trợ
Trong vườn quả cần lưu ý bố trí một số công trình phụ trợ. Các công trình này tuy chiếm ít diện tích nhưng hiệu quả đem lại cho quá trình sản xuất là không nhỏ.
Một hệ thống xử lý rác thải kết hợp với việc sản xuất phân hữu cơ hiện nay được áp dụng phổ biển tại nhiều địa phương. Nguồn phân hữu cơ này được sử dụng ngược lại đồng ruộng làm tăng độ xốp, hàm lượng mùn cho đất, giữ ẩm cho đất trên vườn quả.
Bên cạnh đó, các hệ thống hồ nước nhân tạo được đặt rải rác trong một số vườn quy mô lớn đem lại hiểu quả sử dụng nước khá tốt.
Đối với những vườn quả quy mô lớn, cần phải có hệ thống kho bãi tập kết tập trung. Khu vực này vừa tiến hành sơ chế, đóng gói, phân loại sản phẩm vừa có hệ thống bảo quản trong điều kiện chưa thể vận chuyển đến nơi tiêu thụ.