Phương pháp nhân giống vô tính

Một phần của tài liệu Giáo trình cây ăn quả đại cương (Trang 66 - 79)

Chương 4. VƯỜN ƯƠM VÀ KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CÂY ĂN QUẢ

4.3. CÁC PHƯƠNG PHÁP NHÂN GIỐNG CÂY ĂN QUẢ

4.3.2. Phương pháp nhân giống vô tính

Phương pháp này được thực hiện thông qua các cách làm khác nhau, tạo những cơ thể mới từ những phần riêng biệt (lá, rễ, chồi, mắt, cành, tế bào) của cơ thể mẹ dựa trên cơ sở khoa học sau: “Mỗi bộ phận của thực vật, ngay đến mỗi tế bào có tính độc lập về mặt sinh lý rất cao, chúng có khả năng khôi phục lại tất cả các cơ quan không đầy đủ và trở thành một cá thể mới hoàn chỉnh” (Viện sĩ Macximốp, 1976). Cùng với những thành tựu trong công nghệ sinh học, các phương pháp nhân giống cây ăn quả ngày càng hoàn thiện.

Chú thích: a - Ghép mắt; b - Nuôi cấy in vitro; c - Giâm chồi nách; d - Giâm cành; e - Giâm rễ; f - Giâm rễ; g - Tách chồi, tách bụi; h - Chiết cành; i - Gieo hạt đa phôi

Hình 4.1. Các phương pháp nhân giống vô tính áp dụng trong trồng cây ăn quả

a, Chiết cành

Chiết cành là phương pháp sử dụng cành dinh dưỡng ở trên cây, tác động các biện pháp kỹ thuật thích hợp tạo điều kiện cho cành ra rễ để có một cây con hoàn chỉnh. Sau đó cắt rời khỏi cây mẹ đem đi trồng.

* Ưu và nhược điểm của phương pháp chiết cành - Ưu điểm

Cây giữ nguyên được những đặc trưng, đặc tính tốt của giống, có nghĩa là giữ nguyên được đặc tính di truyền của cây mẹ.

Cây sớm ra hoa kết quả, rút ngắn thời kỳ kiến thiết cơ bản vì cành chiết tiếp tục giai đoạn phát triển của cây mẹ.

Sớm có cây giống để trồng: chỉ cần 3-6 tháng sau khi chiết là có cây giống.

Cây trồng bằng cành chiết thường thấp, tán cây gọn, phân cành cân đối thuận lợi cho chăm sóc thu hoạch.

- Nhược điểm

Hệ số nhân giống không thật cao, nếu chiết nhiều cho sản xuất sẽ ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng phát triển của cây mẹ.

Tuổi thọ của vườn cây trồng bằng cành chiết không cao do cây không có rễ cọc, bộ rễ ăn nông trồng ở vùng đồi hay gặp hạn, gặp gió bão để bị đổ.

Với một số giồng cây ăn quả như hồng, mít, táo, bơ… dùng phương pháp chiết tỉ lệ ra rễ của cành chiết rất thấp.

* Những yếu tố có ảnh hưởng đến tỉ lệ ra rễ của cành chiết - Chủng loại và giống cây

Đối với các loại cây ăn quả khác nhau thì tỉ lệ ra rễ khi chiết cũng rất khác nhau.

Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm cây dễ ra rễ khi chiết: chanh, roi, mận, nhót, lựu, ổi, bưởi, quất…; Cây tương đối khó ra rễ khi chiết: mít, hồng xiêm, trứng gà, xoài, nhãn và chiết khó ra rễ: táo, hồng, bơ…

- Thời vụ chiết cành

Đa số các giống cây ăn quả cho kết quả tốt vào 2 thời vụ trong năm: vụ xuân (tháng 3-4); vụ thu (tháng 8-9). Tuy nhiên, tuỳ theo giống khác nhau có thể chiết sớm hay muộn hơn trong khoảng thời gian trên để cành chiết cho tỉ lệ ra rễ cao. Ví dụ: đối với những giống cây ăn quả rụng là mùa đông (mận, đào…) nên chiết sớm khi cây bắt đầu ra hoa từ 15/2 và kết thúc trước 15/3. Ở các tỉnh miền Trung nên chiết vào vụ thu.

Không nên chiết vào vụ xuân (tháng 3-4) vì tháng 5-6 gặp gió Tây nắng, nóng, tỉ lệ ra rễ thấp.

- Tuổi cây, tuổi cành và vị trí cành

Chọn cây để chiết tốt nhất là những cây sinh trưởng khoẻ, ở thời kỳ sung sức đang có năng suất cao và phẩm chất quả tốt. Tuỳ loại giống khác nhau mà chọn các loại cành có độ lớn khác nhau. Chọn cành đã hoá gỗ có đường kính từ 1-2cm. Không chiết những cành quá lớn vì sẽ khó ra rễ, và tỉ lệ ra rễ thấp. Cũng có thể chiết các cành có đường kính 0,5cm để tăng hệ số nhân giống, nhưng phải chăm sóc cành chiết sau khi cắt hạ bầu chiết và giâm trong vườn ươm giống cây để bộ rễ phát triển thêm hoàn chỉnh trước khi đem đi trồng. Vị trí cành chiết: chọn những cành ở vị trí giữa tầng tán, chỗ phơi ra ngoài ánh sáng, không chiết các cành vượt, cành la, cành trong tán thiếu ánh sáng.

- Chất dinh dưỡng trong bầu chiết (chất độn bầu)

Chất độn bầu có ảnh hưởng lớn đến tỉ lệ ra rễ và chất lượng bộ rễ của cành chiết.

Chất độn bầu cần bảo đảm đủ dinh dưỡng, có độ thoáng thích hợp (đủ O2, độ ẩm đạt 70% độ ẩm bão hòa), thông thường chất độn bầu là phân chuồng hoai mục, mùn cưa, trấu bổi hoặc rơm rác mục với đất mặt hoặc đất bùn ao phơi khô đập nhỏ.

* Kỹ thuật chiết cành

Hỗn hợp bầu chiết được phối trộn theo tỉ lệ 2/3 đất còn 1/3 là một trong các nguyên liệu như phân chuồng hoai mục, rơm rác mục... Chiều dài khoanh vỏ cành chiết:

tốt nhất bằng 2-3 lần đường kính cành chiết. Chiều dài khoanh vỏ ngắn hoặc dài quá tỉ lệ ra rễ sẽ thấp. Cạo bỏ hết lớp tế bào tượng tầng còn dính trên lõi gỗ của vết khoanh.

Đặt lõi gỗ và tâm của bầu chiết. Bó bầu bằng giấy polyetylen để giữ cho bầu luôn luôn đủ ẩm. Bầu phải bó chặt không để bầu bị xoay.

* Sử dụng chất kích thích sinh trưởng trong chiết cành

Để xúc tiến tốc độ ra rễ, tăng tỉ lệ ra rễ, tăng số lượng rễ trên bầu chiết và tăng tỉ lệ ra rễ đối với những giống cây ăn quả khó ra rễ, người ta đã sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng như IBA (Indol butyric axit) và α-NAA (alpha-naphthalene acetic acid) IAA (Indol axetic axit) bằng cách bôi trực tiếp dung dịch các chất này vào phía trên vết cắt khoanh vỏ với các nồng độ thích hợp từ 1.000-2.000ppm. Riêng IAA tác dụng kích thích ra rễ kém hơn IBA và α-NAA nên trong thực tế ít sử dụng. Dung dịch chất kích thích sau khi đã chuẩn bị được sử dụng bôi, quét vào phần vỏ phía trên của cành chiết 1- 2cm tính từ vết cắt khoanh bỏ vỏ của cành.

b, Tách chồi và giâm hom - Tách chồi

Một số giống cây ăn quả như chuối, dứa, nho, dâu tây phương pháp nhân giống được áp dụng phổ biến là phương pháp tách chồi.

Đối với cây chuối: chọn cây con 4-6 tháng tuổi, có 3-4 lá đuôi chiên, cây cao 1- 1,2m, đường kính gốc đo ở cổ rễ 8-10cm. Cắt thân giả cách mặt đất 20cm, gọt hết rễ và những phần vỏ bị thối. Ngâm củ trong benlate nồng độ 0,5%.

Ngày nay, cùng với những thành tựu mới trong công nghệ sinh học, nhiều nước trồng chuối đã áp dụng phương pháp nuôi cấy mô để nhân giống chuối rất thành công như ở Philippin, Trung Quốc, Đài Loan...

Đối với cây dứa: Các kết quả nhân giống dứa nhóm Cayen bằng phương pháp nuôi cấy mô trong phòng thí nghiệm đã thành công và tạo được nhiều cây con trong một thời gian ngắn, nhưng để áp dụng được vào sản xuất còn phải tiếp tục giải quyết một số vấn đề như tính đồng đều của cây giống, các biện pháp giảm giá thành... Vì vậy, hiện nay phương pháp tách chồi, giâm hom vẫn được áp dụng trong sản xuất cây giống hàng hoá.

Trên cây dứa có thể dùng chồi ngọn, chồi cuống, chồi nách để làm vật liệu nhân giống, song các vật liệu trên có hệ số nhân giống không cao. Bởi vậy phải dùng thêm phần thân và mầm lá của chồi ngọn để nhân giống, tăng thêm hệ số nhân giống. Ví dụ từ 1 cây giống ban đầu sau 2 năm có thể cung cấp được 1.000 cây con, cây giống vẫn có độ đồng đều cao.

Để mang lại hiệu quả cao cần có nhà giâm, trang bị hệ thống phun sương, tạo ẩm… và phải bảo đảm các yếu tố kỹ thuật theo đúng quy trình nhân giống dứa.

- Giâm hom/giâm cành

Giâm cành là phương pháp nhân giống được thực hiện bằng cơ quan dinh dưỡng của cây (thường là cành) cắt rời khỏi cây mẹ cắm vào giá thể trong điều kiện thích hợp để cành giâm hình thành rễ bất định, mọc cành mới phát triển thành một cây hoàn chỉnh.

Giâm cành được áp dụng đối với các loại cây ăn quả thân leo như nho, dứa, lạc tiên, các loại cây ăn quả thân gỗ như chanh, roi, bưởi, hồng xiêm, nhãn vải thiều, nhót…

* Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp giâm cành - Ưu điểm

Giữ được đặc tính sinh học, đặc tính kinh tế của giống cây mẹ.

Cây sớm ra hoa kết quả.

Hệ số nhân giống cao, sớm có lượng cây giống lớn đáp ứng nhu cầu sản xuất.

- Nhược điểm

Đối với những giống cây ăn quả khó ra rễ sử dụng phương pháp này đòi hỏi phải có những trang thiết bị cần thiết để có thể khống chế được điều kiện nhiệt độ, ẩm độ và ánh sáng trong nhà giâm.

Cây con có thể mang theo mầm bệnh từ cây mẹ; vì vậy, khi lấy cành giâm phải lấy ở những cây mẹ khoẻ, sạch bệnh.

Nhân giống bằng phương pháp giâm cành qua nhiều thế hệ liên tiếp sẽ dẫn đến hiện tượng thoái hoá giống.

* Những yếu tố ảnh hưởng đến sự ra rễ của cành giâm - Yếu tố ngoại cảnh

Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp cho việc hình thành rễ bất định của cành giâm khoảng 21-27ºC, tuỳ thuộc vào giống.

+ Ẩm độ: Cần duy trì ẩm độ không khí cao để giúp cành giâm không bị khô héo trước khi ra rễ để tự hút nước. Ngày nay, người ta đã làm các bồn giâm với các thiết bị phun sương mù tự động, giữ không để ẩm độ quá cao, nấm bệnh dễ phát triển sinh, ẩm độ giá thể trong khoảng 75-80%. Nền giâm thoát nước tốt, không bị úng để tránh thối cành.

+ Ánh sáng: Cường độ ánh sáng vừa phải có tác dụng kích thích sự ra rễ của cành giâm. Cần tránh ánh sáng trực xạ, tốt nhất là nhà giâm cành lợp bằng những vật che phủ mờ đục bằng lưới đen phản quang.

+ Giá thể giâm: Nền giâm cành (giá thể) cần thoáng, xốp giữ ẩm tốt không có mầm mống nấm bệnh. Có thể dùng than bùn, trấu hun, cát sông sạch, đất thịt nhẹ… phải thay hoặc khử trùng giá thể sau mỗi đợt giâm.

- Các yếu tố bên trong

Chất dinh dưỡng dự trữ trong cành giâm giàu hydrat carbon sẽ đâm rễ dễ dàng hơn. Thí nghiệm ở California đối với nho giống Sultamina, nhúng gốc cành vào Iod để xem độ đậm nhạt (màu tím) chứng tỏ hàm lượng tinh bột nhiều hay ít. Kết quả cho thấy, sự ra rễ biến thiên từ 17-62% tuỳ theo hàm lượng tinh bột trong cành. Để tăng các chất dự trữ trong cành trước khi giâm người ta khoanh vỏ 5-7 ngày trước khi cắt rời khỏi cây mẹ. Không nên bón N nhiều, sẽ làm cho cành giâm ra đọt nhiều hơn là ra rễ.

Độ già hay tuổi của cành: Tuỳ thuộc vào loài cây. Chọn cành mọc ở giữa tầng tán, vươn ra ngoài ánh sáng đã hoá gỗ (bánh tẻ) có 1 năm tuổi trở lại. Trên cành chỉ sử dụng đoạn giữa cành để giâm là chính, tuy vậy nếu đoạn ngọn cành không quá non, đoạn gốc cành không hoá gỗ cứng cũng có thể sử dụng để giâm.

Chiều dài hom giâm, số lá trên hom: Biến động theo giống, hom ngắn quá sẽ thiếu dự trữ dinh dưỡng, dễ chết trước lúc ra dễ, hom dài quá dễ bị héo trước lúc ra rễ.

Thường chiều dài hom giâm từ 5-10-15cm.

Về số lá trên hom giâm: Nếu ít quá hom sẽ thiếu dinh dưỡng, nhiều quá hom mất nước dễ chết. Cần để lại ở mỗi hom giâm từ 2-4 lá tuỳ theo giống. Với một số cây ăn quả ôn đới như mận, đào… khi giâm không cần để lá.

* Kỹ thuật giâm cành

Các hom giâm sau khi đã được cắt từ cây mẹ, cắt bớt lá và nhúng chất kích thích ra rễ được giâm trên giá thể trong nhà có mái che giữ ẩm cho cành giâm với độ ẩm không khí 85-90% và duy trì ít nhất 1-2 tuần lễ tùy thuộc vào loại hom và chủng loại cây. Mật độ hom giâm tùy thuộc loại cây và hom có thể biến động từ 200-330 hom/m2 giá thể với khoảng cách các hom và hàng cách hàng là 3-5cm × 10cm. Các hom giâm được giâm sâu 3-5cm trong giá thể và được phun mù giữ ẩm trong thời gian hom giâm tạo sẹo (callus) và ra rễ.

Khi hom giâm có rễ đã ổn định, màu rễ vàng sáng cây được ra ngôi trồng trên luống hoặc bầu trong vườn ươm.

c, Ghép cây

Ghép cây là phương pháp nhân giống vô tính được thực hiện bằng cách gắn một bộ phận (mắt, đoạn cành) của cây giống sang 1 cây khác (gọi là gốc ghép) để tạo ra một cây mới. Cây này đem trồng vẫn giữ nguyên được những đặc tính của cây giống.

Ghép cây là phương pháp nhân giống phổ biến nhất đối với nghề trồng cây ăn quả của các nước trên thế giới cũng như ở nước ta, nhất là đối với những giống cây ăn quả thân gỗ.

* Ưu điểm của phương pháp ghép trong sản xuất cây giống

Cây ghép hoàn toàn giữ được các đặc tính tốt của cây mẹ do cành, mắt ghép được lấy trên những cây giống tốt đã được tuyển chọn, đã thành thục, có đặc tính di truyền ổn định.

Trồng cây ghép sớm ra hoa kết quả, thông thường ở năm thứ 3 đã ra hoa, có quả.

Hệ số nhân giống cao, trong 1 thời gian ngắn sản xuất được nhiều cây giống tốt cho sản xuất, ít ảnh hưởng đến cây mẹ.

Thông qua việc chọn lọc được cây gốc ghép thích hợp trong tổ hợp ghép mà có thể điều tiết được sinh trưởng của cây: tạo cho cây ghép lùn, tán nhỏ sẽ tăng được mật độ trồng trên đơn vị diện tích, để đạt được năng suất cao.

Ví dụ: ở Anh đã dùng gốc ghép M9, M116 làm gốc ghép lùn cho táo tây, tạo được bước đột phá mới trong nghề trồng táo ở châu Âu trong thế kỷ XX. Dùng cây cam 3 lá Poncirus trifoliata cho quýt Unshiu ở Nhật và các nước trồng cam quýt ven Địa Trung Hải tạo ra được cây lùn và chống chịu rét tốt...

Nhờ vào khả năng sinh trưởng và tính chống chịu của các gốc ghép đã chọn lọc làm cho giống được nhân ra có được những tính chất đặc biệt. Ví dụ như tính chịu hạn, chịu úng, chống chịu sâu bệnh, chịu rét, chịu nóng và chịu được đất xấu…

Thông qua phương pháp ghép, có thể phát hiện sớm những cây bị bệnh hoặc kháng bệnh của giống nhất là trong công tác tuyển chọn cây đầu dòng sạch bệnh dùng trong nhân giống cam quýt.

* Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sống của tổ hợp ghép Mối quan hệ giữa gốc ghép với mắt và cành ghép:

Cây gốc ghép và cây để lấy cành, mắt ghép phải có mối quan hệ di truyền gần nhau. Thường chúng trong cùng 1 loài hay 1 họ thực vật với nhau. Ví dụ: Các cây cam, quýt, bưởi chanh trong họ phụ cam quýt với nhau, hoặc xa hơn ở cùng 1 họ cam quýt như cam quýt với cam 3 lá (Poncirus trifoliata); táo quả nhỏ, táo chua dùng làm gốc ghép cho các giống táo Gia Lộc, H12, H32, táo xuân, xuân 21... Nhãn nước, nhãn tro địa phương làm gốc ghép cho nhãn lồng, nhãn cùi, nhãn đường phèn, nhãn Hương Chi… Mắc cọt làm gốc ghép cho các giống lê; các cây trong họ na (Anonaceae) có thể ghép cho nhau như na ghép lên lê, mãng cầu xiêm ghép lên bình bát…

Chọn giống, loại làm gốc ghép: giống làm gốc ghép có các tiêu chuẩn sau:

+ Có sức hợp sinh học cao với cành ghép và thường được đánh giá thông qua tỉ lệ giữa đường kính gốc ghép và đường kính cành ghép;

+ Hạt có thể đa phôi hoặc có thể nhân được bằng phương pháp vô tính;

+ Dễ nhân giống, hệ số nhân giống cao, sinh trưởng khoẻ;

+ Chịu hạn và chống gió bão tốt;

+ Thích nghi với các điều kiện đất đai khí hậu khác nhau;

+ Cây có tán gọn, thấp, ít phân cành, ít hoặc không có gai trên thân chính;

+ Có khả năng chống chịu tốt với các bệnh virus, nấm và tuyến trùng;

+ Tổ hợp ghép có năng suất cao và phẩm chất tốt.

Chọn cành ghép, mắt ghép

+ Chọn cành để lấy mắt ghép, đoạn cành để ghép trên các cây mẹ ở vườn cây mẹ hoặc cây đầu dòng đã tuyển chọn trong sản xuất có ít nhất từ 4 đến 6 năm tuổi, đã ra hoa kết quả cho năng suất cao và ổn định, chất lượng quả tốt, đặc trưng cho giống.

+ Cành ghép là những cành thành thục từ 6 đến 8 tháng tuổi, có đường kính từ 0,4 đến 1,0cm to tương ứng với đường kính gốc ghép.

+ Cành ghép là những cành ở vị trí cấp cành cao (cấp 4, 5) ở giữa tầng tán, sinh trưởng khoẻ, không có mầm mống vết sâu bệnh hại nghiêm trọng.

Thời vụ ghép: Chọn thời vụ ghép là một khâu quan trọng để tăng tỉ lệ sống ở các tổ hợp ghép. Tuỳ thuộc vào điều kiện khí hậu thời tiết ở mỗi vùng, vào chủng loại giống cây ăn quả khác nhau để chọn được thời vụ thích hợp. Có thể ghép vào 2 thời vụ chính đối với các tỉnh miền Bắc: Vụ xuân: tháng 3-4; Vụ thu: tháng 8-9. Ở các tỉnh miềm Nam nên ghép vào đầu hoặc cuối mùa mưa. Các tỉnh miền núi phía Bắc nên tập trung ghép từ tháng 5-8.

Thao tác kỹ thuật thành thạo: Là khâu quan trọng quyết định tỉ lệ sống của cây ghép. Nó phụ thuộc vào tay nghề của người ghép và công tác chuẩn bị dụng cụ (dao ghép, kéo cắt cành, dây ghép…) trước khi ghép (thao tác cụ thể sẽ giới hạn ở bài thực hành). Những điều cần quan tâm là:

Thao tác ghép cần nhanh gọn.

Dao ghép phải sắc để lát cắt được nhạnh gọn, phẳng không bị xơ không xước.

Đảm bảo vệ sinh cho mắt ghép, vết cắt cành ghép và gốc ghép.

Đặt mắt ghép (cành ghép) vào gốc ghép sao cho diện tích tiếp xúc tượng tầng của 2 bên càng nhiều càng tốt.

Vết ghép và cành ghép cần được buộc chặt đều bằng dây nilon bản mỏng, tránh nước lọt vào mắt ghép và tránh thoát hơi nước của cành ghép.

* Các phương pháp ghép cây ăn quả

Tuỳ thuộc vào từng chủng loại cây ăn quả khác nhau để chọn phương pháp ghép cho phù hợp. Cũng do tập quán sản xuất cây giống ở mỗi vùng khác nhau nên có khi

Một phần của tài liệu Giáo trình cây ăn quả đại cương (Trang 66 - 79)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(141 trang)