NHỮNG CĂN CỨ THIẾT KẾ VƯỜN CÂY ĂN QUẢ

Một phần của tài liệu Giáo trình cây ăn quả đại cương (Trang 83 - 87)

Chương 5. THIẾT KẾ, XÂY DỰNG VƯỜN CÂY ĂN QUẢ

5.2. NHỮNG CĂN CỨ THIẾT KẾ VƯỜN CÂY ĂN QUẢ

Điều tra cơ bản là một trong những yêu cầu quan trọng trước khi thực hiện lựa chọn vị trí trồng vườn cây ăn quả. Quá trình điều tra được tiến hành tại địa điểm dự kiến lập vườn và dựa trên các thông tin về lịch sử khu đất.

Các thông tin cần thiết cho quá trình điều tra được tổng hợp gồm:

* Điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên luôn phức tạp bao gồm điều kiện nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, bức xạ mặt trời, đất đai, độ dày tầng canh tác, nguồn nước và điều kiện tưới tiêu, quỹ đất, địa hình, hướng gió thịnh hành và các điều kiện thời tiết khí hậu đặc biệt ảnh hưởng bất lợi cho sản xuất cây ăn quả như sương muối, hạn hán, bão lụt... Việc xác định đúng các tính chất của khí hậu, đất đai trong vùng sẽ quyết định đến việc lựa chọn loại cây trồng, thiết kế vườn trồng và các biện pháp quản lý đi kèm.

* Điều kiện kinh tế - xã hội

Trước tiên, cần đánh giá tình hình sản xuất nông - lâm nghiệp, các hệ thống nông nghiệp trong vùng, đánh giá hiệu quả sản xuất nông nghiệp và cây ăn quả, cơ cấu giống cây trồng, tỉ trọng và cơ cấu giống cây ăn quả, năng suất, sản lượng các loại quả. Các nguồn thông tin này có tác động đến việc xây dựng quy mô vườn quả, hướng đến các yếu tố có thể cạnh tranh được với các mặt hàng đã có sẵn trước đó trong vùng.

* Cơ sở hạ tầng: Có giao thông, điện nước, máy móc thiết bị sản xuất, cơ sở chế biến, hệ thống bao gói và bảo quản sản phẩm, các loại hình dịch vụ nông nghiệp, giá cả và thị trường tiêu thụ sản phẩm, phương tiện chuyên chở... Các điều kiện hạ tầng tốt sẽ giúp giảm tối đa các chi phí để xây dựng và thiết lập trong khu vực vườn quả.

* Lao động và dân trí: Nguồn lao động và trình độ dân trí có ảnh hưởng đến việc quyết định về chi phí đầu tư cho vườn quả. Chi phí lao động là một trong những yếu tố rất quan trọng trong cơ cấu chi phí sản xuất. Chi phí lao động quá cao sẽ làm tăng chi phí sản xuất, giảm hiệu quả kinh tế. Ngược lại, chi phí lao động rẻ nhưng trình độ thấp cũng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm đầu ra.

Dựa trên các yếu tố này, việc xây dựng, thiết lập vườn quả sẽ đảm bảo về quy mô, chủng loại và tổ chức sản xuất cho phù hợp nhất.

5.2.2. Chọn đất lập vườn

Chọn đất trồng cây ăn quả cần căn cứ vào các tính chất lý, hóa tính và các đặc điểm địa hình, khí hậu của khu đất. Các yếu tố cần phải lưu ý như loại đất và kết cấu đất, khả năng giữ ẩm và tưới, độ xốp và thoát nước, hướng dốc, chắn gió và khoảng cách đến tán rừng (Lewis & Wicks, 1907).

Theo Trần Thế Tục & cs. (1998), cây ăn quả phần lớn là cây lâu năm, bộ rễ khá phát triển về chiều ngang và chiều sâu, do đó đất trồng cây ăn quả tốt nhất là có tầng dày, ít sỏi đá, độ phì cao, mực nước ngầm thấp, mùa khô không bị hạn nặng, mùa mưa lụt không bị úng ngập. Các loại đất chua phèn, nhiễm mặn nếu không có điều kiện cải tạo thì không nên trồng.

Về thành phần cơ giới đất tốt nhất là đất cát pha, đất thịt nhẹ có hàm lượng mùn 1,5-2,0% độ pH 5,5-6,5 mực nước ngầm không cao quá 1,0-1,5m, độ dốc không quá 20- 30º (Lewis & Wicks, 1907, Usha, 2015, Đường Hồng Dật, 1999).

Đất vườn cây ăn quả cần chọn nơi gần nguồn nước tưới, vị trí ở gần đường giao thông để tiện vận chuyển sản phẩm. Hướng vườn nên tránh các hướng gió hại: khô nóng Tây nam, gió rét Đông bắc hướng gió bão mạnh. Ở các hướng gió này cần làm đai rộng phòng hộ (quy mô trang trại) hay hàng rào cản gió (vườn hộ).

5.2.3. Những điều cần chú ý về vườn cây ăn quả trên các loại đất thường gặp

* Đối với đất vườn ở vùng đồng bằng

Đất vườn ở vùng đồng bằng tuy hẹp song rất màu mỡ, dễ bị ngập úng trong mùa mưa lụt, nhất là vùng đất thấp, ven sông. Bởi vậy khi lập vườn phải đào mương sâu vượt luống cao. Ở đồng bằng sông Cửu Long, nông dân thường đào mương lên líp, và nếu chưa có điều kiện thì đắp mô trồng cây lên trên đó, rồi hàng năm đắp thêm đất cho mô đất rộng ra. Ban đầu mô cao 1,5m, đường kính 2m. Sau 3-4 năm đường kính mô có thể rộng đến 4-5m.

Việc đào mương lên líp nhằm mục đích:

Nâng cao tầng đất mặt tránh ngập úng.

Hạ mực nước ngầm thường xuyên xuống thấp.

Tháo nước nhanh trong mùa mưa lũ và đưa nước vào vườn trong mùa nắng.

Nguồn: Đoàn văn Lư, 2008

Hình 5.1. Sơ đồ lên líp cho vườn quả Hình 5.2. Sơ đồ bố trí cây trồng xen và trồng thay thế

Bảng 5.1. Kích thước líp và mương nước trồng cây ăn quả ở Đồng bằng sông Cửu Long Loại cây

trồng

Chiều rộng mặt líp (m)

Chiều rộng đáy líp (m)

Độ cao líp (m)

Chiều rộng mặt mương

(m)

Chiều rộng đáy mương

(m)

Độ sâu (m)

Bưởi 5,8-7,0 6,8-9,0 0,3-0,4 2,5-3,1 1,5-1,9 1,0-1,4

Cam sành 5,3-9,0 6,2-10 0,0-0,3 2,8-5,0 1,7-4,0 1,0-1,5

Quýt 5,1-6,5 6,3-8,1 0,2 2,4-3,8 1,2-2,3 1,0-1,3

Chanh 6,6-7,4 8,0-8,5 - 0,2-0,3 2,5-3,3 1,5-2,0 1,0-1,1

Ổi 7,2-7,5 7,9-9,0 0,2-0,4 2,3-3,3 1,3-2,1 1,1-1,5

Nhãn 6,2-6,8 7,8-10,0 - 0,2-0,4 2,8-4,6 1,7-2,9 1,0-1,2

Xoài 7,5-7,6 9,4-10,4 0,2-0,4 4,0-7,0 2,2-7,0 1,0-1,4

Nguồn: Lê Thanh Phong & Nguyễn Bảo Vệ, 2010

* Đối với đất vườn đồi dốc

Đất gò đồi vùng núi thấp, thường có độ dốc lớn, dễ bị xói mòn trong mùa mưa và hạn nặng trong mùa khô. Vì vậy, cần thiết kế vườn cây ăn quả theo đường đồng mức, làm ruộng bậc thang. Đất núi đá, núi đất không liền khoảnh thì đào hố vảy cá. Để bảo vệ đất, chống xói mòn trong mùa mưa cần trồng thêm các băng phân xanh, trồng xen với các cây lương thực thực phẩm ngắn ngày như ngô, lạc, đỗ tương…, đào rãnh để cắt bớt dòng chảy và giữ nước.

Nguồn: Đoàn văn Lư, 2008

Hình 5.3. Mô hình bố trí băng cây giữa đất và giữ nước trên đất dốc

* Đối với vườn đất cát ven biển

Đặc điểm của loại đất này là có ít mùn, chất hữu cơ phân giải mạnh, đạm, lân, kali tổng số và dễ tiêu nghèo, đất có phản ứng trung tính, ít chua, tổng số cation kiềm trao đổi từ 1,5-6,0 me/100g đất.

Một phần đáng kể diện tích đất cát biển ở nước ta được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp. Tuy đất cát biển có độ phì thấp nhưng nếu đầu tư cải tạo tốt vẫn cho năng suất cao như trồng lạc ở Diễn Châu (Nghệ An), khoai lang ở Quảng Bình, ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng... đồng thời trồng nhiều cây ăn quả như dừa, cam, chanh, táo, thanh long, ổi, na… Để vườn cây ăn quả phát triển tốt trên đất cát cần chú ý các biện pháp thuỷ lợi giữ nước, tăng cường phân bón, nhất là phân hữu cơ kết hợp với phân hóa học NPK, nhưng trong kỹ thuật bón phân cần bón ít, bón sâu, bón nhiều lần đồng thời để bảo vệ đất, giữ ẩm, giữ màu cần xây dựng đai rừng chắn gió.

Nguồn: Đoàn Thu Thủy, 2017

Hình 5.4. Mô hình trồng dứa trên đất cát ven biển

* Đối với đất phèn

Theo Lê Thanh Phong & Nguyễn Bảo Vệ (2003), đất phèn là đất có độ sâu tầng phèn xung quanh 1,5m tính từ mặt đất, tập trung nhiều ở Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên - Hà Tiên và Cà Mau. Ở một số vùng, đất phèn được khai khẩn để làm nông nghiệp. Nhờ vào nước trời để gieo trồng 1 vụ lúa vào mùa mưa, hoặc có thể 2 vụ đông xuân và hè thu. Phần diện tích khác được lên lớp hoặc mô trồng dứa, mía hoặc cây ăn quả khác.

Điển hình là vùng dứa quy mô tập trung 8.000ha ở huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang trồng trên đất phèn hoạt động.

Tính chất chung của đất phèn: có tỉ lệ hữu cơ cao, mức độ phân giải thấp, đạm tổng số khá, lân tổng số trung bình và nghèo, kali tổng số thường giàu, lân dễ tiêu rất nghèo, đất rất chua Al3+ di động cao, cao, thành phần cơ giới đại bộ phận là sét.

Các biện pháp thích hợp để trồng cây ăn quả trên đất phèn là phối hợp tốt giữa làm đất như lên líp, đào mương, xây dựng hệ thống mương tưới tiêu nước chủ động.

Biện pháp lên líp rất quan trọng, tuy nhiên, mương đào cần chú ý không được chạm tới tầng phèn. Mùa khô nắng giữ nước trong mương để "ém phèn" mùa mưa tiêu bớt nước ngập thừa để cải thiện tình trạng ứ đọng nước sâu. Khi sử dụng phân bón trên đất phèn, việc bón bột đá phospho (300-600 kg/ha) để giảm độ chua của đất, để quá trình phân giải phosphat 3 canxi, tạo thành phosphat 2 canxi hoặc 1 canxi để được cây trồng đồng hóa. Đất thiếu lân nên sau khi bón bột đá phosphat vài vụ có thể bón thêm phân lân nung chảy. Khi sử dụng thêm đạm cho cây, đối với đất phèn không nên dùng các phân vô cơ có gốc SO42-.

* Đất nâu đỏ

Đất nâu đỏ phân bố tập trung ở các tỉnh Tây Nguyên. Đông Nam Bộ, Quảng Trị, Nghệ An, Thanh Hóa… là loại đất quý của nước ta, trong đó có nhiều sản phẩm được sản xuất có tỷ trọng cao trong nông nghiệp như cà phê, cao su và đang có nhiều triển vọng phát triển tốt. Ở các vùng này ngoài cà phê, cao su cũng trồng các loại cây ăn quả như cam, quýt, chôm chôm, sầu riêng, bơ, xoài...

Đặc điểm tốt của đất như có tầng đất dày, tơi xốp, giàu mùn… một số nhược điểm như chua, nghèo kali và lân dễ tiêu, khô tầng mặt… Vì vậy, khi sử dụng đất nâu đỏ cần:

- Chống xói mòn chủ yếu là băng rộng.

- Che phủ giữ ẩm đất vào mùa khô

- Làm đất tối thiểu để bảo vệ cấu trúc đất.

- Bổ sung nguồn phân cân đối. Lân, kali, giữ vững và tăng nguồn phân hữu cơ bằng phân xanh, bổ sung đạm khi cần.

Một phần của tài liệu Giáo trình cây ăn quả đại cương (Trang 83 - 87)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(141 trang)