MẬT ĐỘ VÀ PHƯƠNG THỨC TRỒNG CÂY ĂN QUẢ TRONG VƯỜN QUẢ 83 1. Mật độ trồng

Một phần của tài liệu Giáo trình cây ăn quả đại cương (Trang 93 - 97)

Chương 5. THIẾT KẾ, XÂY DỰNG VƯỜN CÂY ĂN QUẢ

5.4. MẬT ĐỘ VÀ PHƯƠNG THỨC TRỒNG CÂY ĂN QUẢ TRONG VƯỜN QUẢ 83 1. Mật độ trồng

Mật độ - khoảng cách trồng trong các loại cây ăn quả khác nhau được quyết định dựa trên sự phát triển của cây, loại cây ăn quả, lượng mưa, loại đất và độ phì của đất, sức sống của rễ, phương pháp cắt tỉa và kiểu trồng. Nếu khoảng cách quá rộng, năng suất trên một đơn vị diện tích sẽ bị giảm đáng kể.

Đối với cây ăn quả canh tác theo hướng hiện đại, sử dụng công nghệ và máy móc như hiện nay, xu hướng chung trên thế giới cả ở vùng ôn đới cũng như nhiệt đới là trồng dày và tìm nhiều biện pháp làm cây lùn xuống, tán cây nhỏ bớt (ví dụ chọn dựng gốc ghép lùn…) để có thể trồng dày hơn trên cùng đơn vị diện tích.

Trồng dày có những lợi ích sau đây:

- Nhanh chóng có quả, thu hồi vốn nhanh.

- Sản lượng những năm đầu cao, thu được lợi nhuận sớm.

- Tiện cho chăm sóc phòng trừ sâu bệnh và thu hái quả bằng cơ giới.

Ví dụ: trên cây ổi, trung tâm nghiên cứu cây trồng á nhiệt đới Ấn Độ đã nghiên cứu biện pháp trồng mật độ siêu dày (2 × 1m) trong 5 năm. Năng suất thu được vượt trội so với các mật độ thưa hơn.

Bảng 5.2. Năng suất ổi ở các mật độ khác nhau tại Ấn Độ (tấn/ha)

Mật độ Năm thứ 3 Năm thứ 4 Năm thứ 5

1,5 × 3m 26.0 38.0 47.0

3 × 3m 18.0 26.0 30.0

6 × 3m 11.0 17.0 24.0

6 × 6m 6.0 12.0 15.0

2 × 1m 40.0 50.0 60.0

Nguồn: Singh & Gorakh, 2008

Tuy nhiên, việc trồng dày cũng phải tính đến đầu tư nhiều về lao động, vật tư và nhất là số cây giống ban đầu nhiều hơn. Trong một thời gian ngắn có đủ số cây giống tốt, sạch bệnh không phải dễ. Nếu cây quá gần, cây sẽ mọc cao khiến việc cắt tỉa, phun thuốc và thu hoạch khó khăn. Có sự cạnh tranh gốc rễ đối với nước và chất dinh dưỡng và cây cho năng suất thấp hơn hoặc tạo ra những quả nhỏ hơn, có màu kém. Kết quả trồng dày có thể cho năng suất cao hơn trên một đơn vị diện tích trong thời kỳ đầu của cây nhưng ít hơn trong những năm sau đó (Usha & cs., 2015). Vì vậy, trồng dày mặc dù có nhiều ưu điểm và mang lại hiệu quả kinh tế song cần phải kèm theo một hệ thống kỹ thuật như giống, kỹ thuật canh tác: tạo hình cắt tỉa, bón phân, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh, điều tiết sinh trưởng…

Dưới đây giới thiệu khoảng cách một số cây ăn quả hiện đang trồng:

Bảng 5.3. Khoảng cách và mật độ trồng các cây ăn quả phổ biến ở Việt Nam

Giống Khoảng cách (m) Mật độ (ha)

Chuối: - Giống cao cây 3 × 3 1.100

- Giống nhỏ 2 × 2,5 2.000

- Giống lớn 2 × 2 2.500

Dứa: - Trồng cơ giới hóa 0,3 × (0,3 + 1,2) 44.000

- Trồng thủ công 0,3 × (0,3 + 0,9) 55.500

Cam chanh 6 × 5 333

Cam sành, quýt

- Vĩnh Long 3 × 3 1.100

- Hà Giang 4 × 4 625

Bưởi 5 × 6 333

6 × 6 277

6 × 7 238

Sầu riêng 8 × 6 × 7 178-208

10 × 8 125

Giống Khoảng cách (m) Mật độ (ha)

Măng cụt 6-7 × 6-7 204-277

Xoài (bán thâm canh) 6 × 6 277

(thâm canh cao) 6 × 4 416

Nhãn: - miền Nam 6 × 5 333

5 × 4 500

- miền Bắc 7 × 7 204

8 × 8 156

Vải thiều 7 × 7 204

Đủ đủ 2,5-3 × 2 2.000-1.666

Táo ta 5 × 6 333

Hồng 5 × 5 400

8 × 8 156

Nguồn: Trần Thế Tục & Đoàn Văn Lư, 2000

5.4.2. Phương thức trồng

Phương thức trồng là cách bố trí cây trồng trên vườn để đảm bảo các cây nhận và sử dụng tốt không gian và diện tích dành cho chúng. Mỗi loại cây tùy vào đặc điểm nông sinh học của chúng mà bố trí phương thức trồng cho phù hợp. Hiện nay, các nghiên cứu áp dụng phương thức trồng ở đồng bằng đã chỉ ra có 4 kiểu trồng chính (Trần Thế Tục & Đoàn Văn Lư, 2010).

a, Kiểu trồng hình vuông

Đây là kiểu trồng mà khoảng cách cây với cây, hàng với hàng bằng nhau. Kiểu trồng này có điểm yếu là diện tích trống lớn, nên việc kết hợp với trồng xen canh các loại cây ở giữa.

Tổng diện tích cây = Diện tích đất/(khoảng cách cây × khoảng cách hàng) b, Kiểu trồng hình chữ nhật

Kiểu trồng này được sử dụng phổ biến, nó có đặc trưng là khoảng cách giữa các hàng rộng, lớn hơn khoảng cách giữa các cây. Kiểu trồng này rất phù hợp cho việc áp dụng cơ giới trong chăm sóc vườn và trồng xen.

Tổng diện tích cây = Diện tích đất/(khoảng cách cây × khoảng cách hàng).

c, Kiểu trồng đường chéo

Đây là dạng biến thể từ mô hình trồng hình vuông, trong đó, trung tâm của hình vuông được bố trí thêm 1 cây trồng. Tuy nhiên, để có thể đảm bảo không gian sinh trưởng cho cây đòi hỏi khoảng cách của các cây lớn hơn so với kiểu trồng hình vuông.

Do vậy, mật độ trồng kiểu tam giác thấp hơn so với trồng hình vuông.

Tổng diện tích cây = Diện tích đất/(khoảng cách cây × khoảng cách hàng) × 2

d, Kiểu trồng hình tam giác hay lục giác đều

Đây là kiểu trồng cây mà khoảng cách cách cây là bằng nhau, 6 cây được trồng ở 6 đỉnh của hình lục giác và một cây được trồng ở điểm trung tâm. Phương pháp này có mật độ cây cao hơn so với trồng hình vuông đến 15%.

Tổng số cõy = Diện tớch đất/(diện tớch 1 cõy = ắ ì A ì A ì 2), trong đú A là độ dài cạnh tam giác.

a. Trồng theo hình vuông b. Trồng theo hình chữ nhật

c. Trồng theo hình tam giác d. Trồng theo hình lục giác Hình 5.7. Sơ đồ bố trí trồng trong vườn cây ăn quả đối với vùng đồng bằng

Bên cạnh đó, với những địa hình phức tạp như đồi núi, việc áp dụng phương thức trồng có những tính chất đặc thù. Ở vùng địa hình này chỉ sử dụng hai phương pháp sau:

e, Kiểu trồng theo đường đồng mức

Đây là kiểu trồng áp dụng đối với vùng đồi dốc, các cây được trồng chạy ngang theo các đường đồng mức nhằm giảm thiểu tối đa sự xói mòn. Xen giữa các hàng cây ăn quả là các băng cản nước hoặc các đường giao thông hào cắt nước. Bề rộng của băng

trồng cây phụ thuộc vào độ dốc của địa hình và mật độ trồng cây trên băng. Một số tác giả cho rằng, việc trồng băng cây cản nước kép cho hiệu quả giữ đất tốt hơn 22% so với việc trồng băng cản nước đơn.

f, Kiểu trồng tự do

Đây là kiểu trồng được sử dụng đối với các địa hình phức tạp như núi cao hoặc trong các loại vườn hộ gia đình.

Một phần của tài liệu Giáo trình cây ăn quả đại cương (Trang 93 - 97)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(141 trang)