Dự báo thị trường lao động

Một phần của tài liệu Cơ sở khoa học của dự báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học ở việt nam (Trang 95 - 99)

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG DỰ BÁO NHU CẦU NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM

2.2. Các dự báo nhu cầu nhân lực đã được thực hiện

2.2.2. Dự báo thị trường lao động

Dự báo thị trường lao động có vai trò trong việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển thị trường lao động. Dự báo thị trường lao động cũng là cơ sở để xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia, và đặc biệt có ý nghĩa trong thời gian đang xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Trung tâm Quốc gia Dự báo và Thông tin thị trường lao động, thuộc Cục Việc làm (Bộ Lao động Thương binh và xã hội) đã thực hiện những nghiên cứu về dự báo thị trường lao động. Kết quả của dự báo này cung cấp thông tin về xu hướng biến động của thị trường lao động trong tương lai cho các chủ thể tham gia thị trường lao động (các cơ quan, tổ chức, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp, cá nhân…).

Theo Nguyễn Thế Hà [Nguyễn Thế Hà, 35]: Các nghiên cứu của đơn vị này chỉ ra rằng: i) Dự báo cung lao động phải trên cơ sở các yếu tố biến động dân số bao gồm số lượng dân, cơ cấu dân số theo giới tính và độ tuổi; Các tác động của môi trường, chính sách, tập quán đến nguồn lao động và ước tính nguồn lao động hay lực lượng lao động bằng tỷ lệ tham gia lực lượng lao động. ii) Dự báo Cầu lao động dựa trên nhu cầu nền kinh tế sử dụng lao động, cơ cấu các ngành kinh tế quốc dân và yếu tố sử dụng để sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Sau đó, đưa vào mô hình dự báo cung cầu lao động

Về lý thuyết, các mô hình dự báo đều dựa trên 2 phương pháp định lượng và định tính. Phương pháp định lượng sử dụng một số mô hình toán học xác định qui luật biến động theo thời gian và theo các yếu tố để dự báo một cách định lượng mức độ, tỷ lệ của quá trình hay hiện tượng trong tương lai. Phương pháp dự báo định tính được thực hiện thông qua việc phân tích xu thế đặc trưng vận động của hiện tượng, từ đó cho các dự báo có tính xu thế.

Trên thực tế, mô hình dự báo thường dựa trên các phương pháp chuyên gia, phương pháp thống kê, kinh tế lượng và mô hình cân bằng tổng thể (CGE).

Bản chất của phương pháp chuyên gia là lấy ý kiến đánh giá, phân tích của các chuyên gia để làm kết quả dự báo. Phương pháp này được triển khai theo một quy trình chặt chẽ bao gồm nhiều khâu: thành lập nhóm chuyên gia, đánh giá năng lực chuyên gia, lập biểu câu hỏi và xử lý toán học kết quả thu được từ ý kiến chuyên gia. Khó khăn của phương pháp này là việc tuyển chọn và đánh giá khả năng của các chuyên gia. Ưu điểm của phương pháp chuyên gia là thích hợp trong việc dự báo những vấn đề mang tính định tính và số liệu chưa đầy đủ, tuy nhiên, nhược điểm là khó xử lý, tổng hợp ý kiến của các chuyên gia, đặc biệt khi các ý kiến tản mạn, trái ngược nhau.

Phương pháp thống kê và kinh tế lượng, trong phương pháp này có các mô hình hồi qui đa biến và mô hình chuỗi thời gian. Ưu điểm của hồi qui đa

xu thế tác động của các yếu tố tới việc làm, năng suất lao động và thu nhập của lao động. Nhược điểm là Kết quả dự báo sẽ thiếu chính xác khi các biến độc lập trong mô hình quá phân tán; Khi mô hình sử dụng các yếu tố phụ thuộc thời gian có thể làm phức tạp quá trình tính toán.

Một mô hình khác được nghiên cứu ở đây là mô hình chuỗi thời gian.

Mô hình này có ưu điểm là đơn giản, không đòi hỏi phải sử dụng nhiều loại số liệu, phản ánh được xu thế của biến số cần dự báo. Tuy nhiên, nhược điểm của mô hình là yêu cầu về số liệu phải liên tục; Kết quả dự báo sẽ bị sai lệch lớn khi tình hình kinh tế xã hội vận động không ổn định; Không chỉ ra được tác động hay những mối liên hệ cụ thể của các yếu tố đến biến số cần dự báo

Mô hình cân bằng tổng thể thì phân tích tác động của toàn nền kinh tế nhưng không đòi hỏi chuỗi số liệu đủ dài theo thời gian mà chỉ cần có bảng kế toán quốc gia SAM (Ma trận hạch toán xã hội) cho một năm nào đó, và nắm bắt được các quan hệ qua lại trực tiếp giữa các ngành sản xuất với nhau, với các yếu tố sản xuất và với cầu cuối cùng. Tuy nhiên, nhược điểm là mô hình không phản ánh được biến động theo thời gian của công nghệ cũng như hành vi tiêu dùng và đầu tư của các bộ phận khác nhau trong nền kinh tế và không cho phép xem xét sự điều chỉnh của nền kinh tế khi thay đổi chính sách.

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về các mô hình, Trung tâm đã: i) Xây dựng mô hình và dự báo lực lượng lao động đến năm 2020; ii) Xây dựng mô hình và dự báo nhu cầu việc làm theo nghề đến năm 2020; iii) Xây dựng mô hình dự báo ngắn hạn hàng năm về việc làm theo nghề, xây dựng biểu nghề cho từng tỉnh, thành phố và cả nước; và iv) Đánh giá mức độ cung đáp ứng cầu lao động trong những năm tới.

Để thực hiện các dự báo dài hạn, Trung tâm đã sử dụng Mô hình dự báo liên ngành cấp vĩ mô cho Việt Nam LOTUS (Long – Term Occupation and Traning Utilization System, tạm dịch là hệ thống trợ giúp nghề nghiệp và đào

tạo dài hạn) của trường Đại học Maryland (Hoa Kỳ): với Đầu vào là các số liệu kinh tế vĩ mô, Bảng Vào Ra, số liệu về dân số và lực lượng lao động và Đầu ra là lao động có việc làm theo ngành và nghề, tỷ lệ thất nghiệp trong tương lai. Mô hình LOTUS dự báo cho 10 năm hoặc xa hơn cho tương lai của nền kinh tế và thị trường lao động Việt Nam. Tâm điểm của mô hình này là nhu cầu lao động theo nghề và những yêu cầu về đào tạo để phát triển nguồn cung ứng lao động cần thiết đáp ứng những nhu cầu đó. Mô hình chú ý đến kỹ năng nghề của lao động, để xác định nơi nào thừa, nơi nào thiếu các loại lao động có kỹ năng nhất định. Mô hình cũng đề xuất một phạm vi phân tích rộng cho các vấn đề lao động, những ảnh hưởng của chính sách kinh tế vĩ mô khác nhau.

Ngoài ra, để dự báo thị trường lao động, Trung tâm còn sử dụng mô hình dự báo cung cầu lao động của trường Đại học Kinh tế quốc dân (NEU), với Đầu vào là Số liệu doanh nghiệp, dân số và lực lượng lao động và Đầu ra là Cầu lao động theo ngành và Dân số không tham gia hoạt động kinh tế. Mô hình phối hợp tiếp cận hàm sản xuất và tăng trưởng của trường KTQD gồm: i) Phần Dự báo cung được thực hiện trên cơ sở phương pháp chuyển tuổi và các mô hình thống kê; ii) Phần Dự báo cầu dựa trên các hàm sản xuất đã được ước lượng đối với 125 ngành cấp 2 để nhận dạng và kiểm tra tính phù hợp của mô hình. Trên cơ sở đó ước lượng các hàm sản xuất có tiến bộ kỹ thuật theo thời gian cho 19 ngành (theo phân ngành của GSO) và 3 ngành gộp lớn là Nông nghiệp, Công nghiệp và Dịch vụ.

Nội dung ước lượng hàm sản xuất và hàm cầu lao động gồm: Hàm sản xuất theo ngành và theo thời kỳ Y= F(t, K,L), sau đó tính ra giá vốn và giá lao động. Kết hợp kiểm tra với điều kiện hiệu quả theo qui mô để tính ra Hàm cầu lao động theo doanh thu và tỷ giá vốn trên lao động, sau đó tính toán Tăng trưởng sản lượng Y và hệ số Vốn và Lao động.

Ưu điểm của mô hình trường KTQD là Dự báo được mức tăng trưởng của các yếu tố trong quá trình dự báo cầu và các yếu tố tác động đến cầu lao động. Sử dụng cho các cấp dự báo khác nhau như toàn quốc, khu vực, tỉnh thành hay doanh nghiệp. Khắc phục được các nhược điểm của việc tính toán trực tiếp một cách thụ động trên các mô hình tiếp cận CGE. Mô hình cho phép đưa các thay đổi theo thời gian và luôn sẵn sàng ước lượng khi có dữ liệu bổ sung, nhất là dữ liệu của chính thời kỳ đã dự báo.

Nhược điểm của mô hình này là do ước lượng các hàm sản xuất từ số liệu vi mô, dẫn đến ước lượng thấp cầu lao động vì các mô hình này xác định cầu hiệu dụng của lao động từ các doanh nghiệp. Mô hình ước lượng từ số liệu vi mô (doanh nghiệp), có thể không đầy đủ số liệu.

Trong các dự báo ngắn hạn, trung tâm sử dụng dự báo của Tố chức Dịch vụ Việc làm Công của Thụy Điển với Đầu vào là các báo cáo doanh nghiệp được khảo sát và Đầu ra là Cầu lao động ngắn hạn theo nghề.

Một phần của tài liệu Cơ sở khoa học của dự báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học ở việt nam (Trang 95 - 99)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(216 trang)