CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ DỰ BÁO NHU CẦU NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC
1.4. Các yếu tố tác động đến nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học
1.4.1. Các yếu tố về chính sách
Phát triển kinh tế nhanh và bền vững, đào tạo nhân lực chất lượng cao đang trở thành nhiệm vụ trọng tâm của cả nước nói chung và ngành giáo dục nói riêng. Nhằm giải quyết được các yêu cầu nêu trên, những năm gần đây
Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách với tầm nhìn dài hạn để phát triển nhân lực có trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam.
Thông thường chính sách của Nhà nước có vai trò cung cấp một khung nền tảng có tính chất pháp lý làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch đào tạo và thực hiện quản lý phát triển nhân lực ở cấp trường và cấp hệ thống. Những nội dung trên chính là các căn cứ quan trọng để xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng trong giai đoạn hội nhập quốc tế.
Chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội có tầm quan trọng đặc biệt và chi phối hầu hết các chiến lược, chính sách và kế hoạch hành động của các ngành, lĩnh vực trong một quốc gia, bởi lẽ đây vừa là mục tiêu và cũng là định hướng phát triển của một đất nước. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cũng chính là kim chỉ nam cho các định hướng phát triển nhân lực của một quốc gia. Sự phát triển kinh tế theo chiều sâu chủ yếu dựa vào tiến bộ KH-CN, cùng yêu cầu về lao động có trình độ cao với trọng tâm tăng năng suất, hiệu quả sẽ tạo ra nhu cầu lớn về nhân lực trình độ cao đẳng, đại học hơn so với phát triển kinh tế theo chiều rộng dựa vào khai thức tài nguyên, bán nguyên liệu chưa qua chế biến lao động thủ công giá rẻ. Đối với chính sách phát triển kinh tế theo chiều sâu, đội ngũ nhân lực có trình độ cao đẳng, đại học là một trong những nhân tố mang tính quyết định, có ý nghĩa quan trọng trong việc tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, thực hiện có hiệu quả quá trình tái cấu trúc nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng năng suất và hiệu quả.
Chính sách đầu tư của Nhà nước cho giáo dục: Đảng và Nhà nước ta luôn xem giáo dục như là một trong những lĩnh vực ưu tiên hàng đầu trong các chính sách lớn. Do vậy, ngân sách dành cho giáo dục và đào tạo trong thời gian qua luôn chiếm một tỷ lệ đáng kể so với các ngành, lĩnh vực khác. Năm 2008, tổng chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục và đào tạo chiếm khoảng 20%. Tuy nhiên, cơ cấu chi tiêu theo các cấp học và trình độ đào tạo có khác nhau, và ngân sách nhà nước đầu tư có vai trò vô cùng quan trọng để có thể giúp khu vực giáo dục cao đẳng, đại học phát triển đáp ứng nhu cầu phát triển
tầng, trang thiết bị phục vụ học tập và nâng cao chất lượng đào tạo. Đây là cơ sở để tăng thêm sự tin tưởng và thu hút người học tham gia chương trình đào tạo.
Chính sách đối với đào tạo nhân lực cao đẳng, đại học: Cho đến nay, hệ thống đào tạo đại học của chúng ta đang chú trọng đến chất lượng đào tạo và hiệu quả sử dụng nhân lực được đào tạo. Về chất lượng đào tạo: “Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân” (Luật GDDH). tiến hành đào tạo nhân lực theo quan điểm "đào tạo một lần" để với những kiến thức và kỹ năng có được, người lao động có thể lao động và cống hiến suốt đời. Đạt được mục tiêu này, chúng ta sẽ không phải quan tâm đến việc bồi dưỡng, đào tạo lại đội ngũ lao động đã được đào tạo như những năm về trước
Về nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực được đào tạo: Chính sách đào tạo theo nhu cầu xã hội và tăng cường tiềm lực đào tạo ĐH đang được Bộ GD&ĐT nỗ lực thúc đẩy các đơn vị thực hiện. Việc tìm hiểu các doanh nghiệp đang cần lao động trong những ngành nào để từ đó khuyến khích các trường cao đẳng, đại học đào tạo ra nhân lực có trình độ cao trong các lĩnh vực này là vấn đề mấu chốt giải quyết việc mất cân đối cung – cầu lao động.
Quyết định số 630/QĐ-Bộ GD&ĐT ngày 07/02/2007 về việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh, qui trình đăng ký, thông báo chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo được tính toán trên cơ sở đảm bảo chất lượng đào tạo và đáp ứng nhu cầu xã hội.
Chính sách đối với lao động và việc làm: Mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng nhân lực là sự gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau. Quan hệ hợp tác giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sử dụng nhân lực cần được triển khai với nhiều cơ chế đa dạng và phong phú, từ đó các đơn vị tuyển dụng có thể phối hợp với các cơ sở đào tạo theo dõi và tuyển chọn được lao động có chất lượng, có năng lực phù hợp yêu cầu thực tế của đơn vị. Nếu chính sách đào tạo, phân bố và sử dụng lao động có trình độ CĐ, ĐH thiếu đồng bộ, không phù hợp với cơ chế thị trường dẫn tới mất cân đối cung cầu lao động sẽ dẫn
tới tình trạng gia tăng số người thất nghiệp có trình độ. Điều này cũng có thể lý giải rằng: những người có trình độ học vấn có nhiều khả năng kén chọn hơn về loại hình công việc mà họ sẽ làm và vì vậy dễ bị thất nghiệp hơn là chấp nhận ngay công việc với tiền công thấp. Tuy nhiên, điều này không xảy ra với nhóm người có bằng thạc sỹ trở lên.