Đánh giá chung về dự báo nhu cầu nhân lực có trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam

Một phần của tài liệu Cơ sở khoa học của dự báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học ở việt nam (Trang 123 - 129)

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG DỰ BÁO NHU CẦU NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM

2.4. Đánh giá chung về dự báo nhu cầu nhân lực có trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam

Phân tích và dự báo cung - cầu nhân lực là công cụ rất quan trọng trong việc lập kế hoạch phát triển nhân lực. Mục đích chính của công tác này là tạo cơ sở khoa học cho việc định hướng về đào tạo theo nhu cầu xã hội – một trong những lĩnh vực đầu tư dài hạn. Việc thiếu hụt kỹ năng nghề nghiệp sẽ làm hạn chế các mục tiêu phát triển kinh tế. Ngược lại việc đào tạo tập trung quá mức vào một số ngành sẽ dẫn đến dư thừa, lãng phí nguồn lực. Khi có thông tin dự báo về sự thiếu hụt hay dư thừa nhân lực, các nhà hoạch định chính sách về việc làm và quản lý đào tạo có thể kịp thời điều chỉnh cơ cấu ngành nghề và các kỹ năng của nhân lực được đào tạo, từ đó làm giảm những ảnh hưởng xấu của việc mất cân đối nhân lực cũng như góp phần giải quyết vấn đề tỷ lệ thất nghiệp ngày càng tăng cao. Trên thực tế, nhân lực của các ngành kinh tế bị tác động bởi nhiều yếu tố (đã được phân tích ở chương 1) như việc phát triển công nghệ nhanh chóng, sản phẩm tiêu dùng, cấu trúc các

ngành, sự thay đổi quy mô hoạt động kinh tế, thay đổi chương trình của chính phủ hoặc thay đổi chính sách... Do đó việc đánh giá thị trường lao động để thực hiện các dự báo sát thực tế là một việc làm đầy thách thức đối với các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách về việc làm, cũng như các nhà phân tích về nhân lực và lập kế hoạch về giáo dục và đào tạo.

Năm 2007, Việt Nam mới có được số liệu thống kê theo nghề cấp 2 trong các ngành kinh tế đến cấp 2. Các số liệu điều tra thống kê từ trước đến nay chưa có được số liệu về lao động phân theo lĩnh vực đào tạo đối với mỗi ngành kinh tế và nghề làm việc. Từ năm 2013, Việt Nam thực hiện thống kê nhiều chỉ số vĩ mô theo phân ngành kinh tế năm 2007 (VSIC2007), trong khi nhiều số liệu thống kê kinh tế vĩ mô thu thập được theo phân ngành này chỉ có được từ năm 2005. Hồi cố lại số liệu như vậy cho các năm trước đó là rất khó khăn và tốn kém (nhất là cho các tỉnh).

Số liệu về sinh viên nhập học và tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học phân theo lĩnh vực đào tạo là có thể có được khoảng gần 10 năm lại đây mà không đòi hỏi quá nhiều kinh phí (khi các trường ứng dụng tin học để quản lý học sinh, sinh viên), để có được số liệu của nhiều năm trước đó là khó khăn và tốn kém, …

Sự bất cập của việc phân loại trình độ giáo dục giữa cung và cầu lao động. Chẳng hạn với số liệu hiện nay, cầu lao động theo trình độ giáo dục có thể được phân thành 3 nhóm: không có chuyên môn kỹ thuật, có trình độ nghề nói chung và TCCN, cao đẳng trở lên trong khi cung lao động lại phân thành 3 nhóm: trung học phổ thông và thấp hơn, dạy nghề và cao đẳng trở lên.

Như vậy phân loại trình độ đào tạo giữa cung và cầu nhân lực là không khớp nhau, dẫn đến không thể dự báo được mất cân đối cung cầu lao động theo trình độ đào tạo. Và điều đó cũng có nghĩa là thông tin dự báo nhu cầu nhân lực sẽ có tác dụng hạn chế trong việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới các trường đào tạo.

Tại Quyết định số 1216/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 22 tháng 7 năm 2011 về việc Phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam

định theo những tiêu chí rất cụ thể gồm: theo bậc đào tạo, ngành/lĩnh vực, chủ thể tham gia phát triển (nghề) và theo vùng kinh tế - xã hội. Để đáp ứng yêu cầu này, công tác dự báo nhân lực phục vụ quy hoạch cũng phải đảm bảo cung cấp số liệu dự báo về nhân lực theo một ma trận các tiêu chí như vậy. Đây là một yêu cầu khó đặt ra đối với những người làm công tác dự báo.

Trong thực tế, do hạn chế về thời gian và nguồn lực nên công việc dự báo phục vụ xây dựng quy hoạch đã không được triển khai hệ thống và bài bản như mong muốn. Do đó, yêu cầu hiện nay đặt ra là để thực hiện quy hoạch, theo dõi, đánh giá, giám sát cũng như điều chỉnh quy hoạch phát triển nhân lực cần phải dựa trên một nền tảng công tác dự báo có chất lượng hơn. Công tác này là nhiệm vụ nặng nề đặt trên vai các đơn vị dự báo, trong khi số lượng các đơn vị phân tích và dự báo nhu cầu nhân lực còn ít, rải rác ở một số bộ, ngành và địa phương. Các đơn vị này đều gặp phải những hạn chế về nhân lực thực hiện, cơ chế hoạt động và đặc biệt là khó khăn trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu đầu vào... Đánh giá một cách khách quan, công tác dự báo nhu cầu nhân lực của cả nước, đặc biệt là nhân lực có trình độ CĐ, ĐH trong thời gian qua vẫn chưa được thực hiện một cách đầy đủ và khoa học, do nhiều nguyên nhân khác nhau song nguyên nhân cơ bản và quan trọng nhất là Việt Nam chưa có một hệ thống thông tin và dự báo nhu cầu nhân lực quốc gia và chưa từng tiến hành việc dự báo nhu cầu nhân lực ở các ngành, các cấp và các địa phương theo đúng nghĩa.

Chưa có được phương pháp/mô hình dự báo nhân lực dựa trên lý luận khoa học và phù hợp, tương thích với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam: Trong một thời gian dài, mô hình tăng trưởng của nước ta là tăng trưởng theo chiều rộng, trong đó yếu tố vốn, đất đai, khai thác tài nguyên được coi trọng, yếu tố con người chưa được tính đầy đủ trong công thức tăng trưởng. Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, của nền kinh tế tri thức, mô hình mà các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam cần theo đuổi là mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, theo đó con người là một thành tố quan trọng đóng góp mạnh mẽ vào tăng trưởng của một quốc gia. Trên thực tế, đa phần các dự báo đã thực hiện đều thiên về dự báo định lượng do dễ nắm bắt các xu hướng biến đổi của cung – cầu nhân lực theo ngành và theo nghề, tuy nhiên, do điều kiện về số liệu và những thay đổi

chính sách ở Việt Nam, việc lựa chọn phương pháp dự báo sẽ khó khăn hơn vì một phương pháp dự báo riêng lẻ sẽ không thể đáp ứng đủ các tiêu chí đã nêu, vì vậy cần phải kết hợp giữa dự báo định lượng và định tính để có thể giúp các nhà quản lý đưa ra quyết định liên quan đến định hướng phát triển thị trường lao động và nguồn nhân lực quốc gia.

Thông tin phục vụ dự báo nhu cầu nhân lực ở nước ta rất thiếu, độ tin cậy có vấn đề và thường không được cập nhật kịp thời, thiếu đồng bộ:

Vì công tác dự báo nhu cầu nhân lực còn khá mới mẻ tại Việt Nam, nên chúng ta chưa có được một hệ thống thông tin và dự báo nhân lực quốc gia.

Hiện tại, công tác thông tin và dự báo nhân lực mới được làm một cách rời rạc ở một số nơi, chưa có sự gắn kết, thống nhất với nhau, phạm vi còn hạn chế.

Chưa có cơ quan nào có thể tiến hành công tác thông tin và dự báo một cách bài bản, khoa học về nhu cầu nhân lực theo trình độ đào tạo, ngành nghề, lĩnh vực... Do đó, các cơ sở đào tạo, cũng như các chủ thể sử dụng lao động ở nước ta chưa có đầy đủ căn cứ để đưa ra những định hướng chiến lược và kế hoạch hoạt động một cách chính xác và hợp lý. Thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị làm công tác thông tin và dự báo nhu cầu nhân lực tại các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp. Thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị này với các cơ quan quản lý, chỉ đạo, điều hành, xây dựng chính sách phát triển nguồn nhân lực ở các cấp. Mỗi đơn vị làm công tác dự báo đều tự xây dựng cho mình một cơ sở dữ liệu riêng, mà không có sự kết nối hay kế thừa từ các đơn vị khác có cùng nhu cầu thông tin. Việc xây dựng này được tiến hành một cách đơn lẻ và độc lập. Chính vì vậy, điểm tồn tại lớn nhất trong hoạt động thông tin và dự báo nhu cầu nhân lực là thông tin bị chia cắt và không thể chia sẻ giữa các đơn vị nắm giữ thông tin. Điều đó dẫn tới lãng phí nguồn lực, ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả, chất lượng công tác thông tin và dự báo nhu cầu nhân lực. Cũng chính vì sự thiếu liên kết này mà nguồn thông tin đầu vào cho các cơ quan làm nhiệm vụ dự báo nhu cầu nhân lực không đủ, không chính xác, dẫn đến kết quả dự báo của những đơn vị này có độ tin cậy không cao; việc sử dụng các kết quả dự báo vào công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ cũng chưa được quan tâm đúng mức.

Đội ngũ cán bộ làm công tác dự báo còn ít và trình độ chuyên môn còn hạn chế: Công tác phát triển nguồn nhân lực nói chung và công tác thông tin và dự báo nhu cầu nhân lực nói riêng chưa được coi trọng và thực hiện tại hầu hết các bộ, ngành và địa phương. Mặc dù trong những năm gần đây có nhiều chuyển biến tích cực nhưng nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực, trong đó có công tác thông tin và dự báo nhu cầu nhân lực tại Việt Nam vẫn chưa theo kịp với những chuyển đổi mạnh mẽ của thực tiễn.

Những hạn chế trên đây về bản chất bắt nguồn từ hai khía cạnh: thực tiễn và nhận thức.

Về thực tiễn, trong một thời gian dài nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nên công tác thông tin và dự báo nhu cầu nhân lực không phải là yêu cầu cấp thiết. Từ khi thực hiện Đổi mới, nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường, độ chênh giữa cung và cầu về nhân lực trở thành vấn đề nổi cộm. Công tác thông tin và dự báo cung - cầu nhân lực mới trở thành nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết.

Về nhận thức, công tác dự báo cung - cầu nhân lực thường được coi là việc riêng của mỗi bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp. Công tác này thường không dựa trên một hệ thống thông tin và dự báo khoa học, đầy đủ.

Điều này xuất phát từ việc ở nước ta từ trước tới nay chưa xây dựng được hệ thống thống tin về cung - cầu nhân lực.

Việc điểm qua thực trạng công tác dự báo phục vụ xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực ở Việt Nam qua ba bước như trên đã cho thấy yêu cầu đặt ra là vô cùng lớn. Trong khi đó, thực tế Việt Nam chưa chuẩn bị sẵn sàng nguồn lực mọi mặt để đáp ứng nhu cầu.

Kết chương 2:

Trong chương 2, luận án đã trình bày khái quát về nhân lực có trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam qua: i) nguồn cung nhân lực (hệ thống đào tạo cao đẳng, đại học ở Việt Nam); ii) Quy mô nhân lực trình độ CĐ, ĐH ở VN;

iii) Cơ cấu nhân lực trình độ CĐ, ĐH ở VN. Đây chính là cơ sở cho dự báo cầu nhân lực trình độ CĐ, ĐH ở VN.

Một số dự báo nhân lực đã được thực hiện trong một số công trình nghiên cứu, ứng dụng về dự báo nhu cầu nhân lực ở Việt Nam. Luận án trình bày về các phương pháp dự báo cung cầu nhân lực đã được sử dụng trong các công trình này, đặc biệt ứng dụng của phương pháp dự báo cho kết quả cụ thể của: Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và Quy hoạch nhân lực tỉnh Kontum giai đoạn 2011 – 2020. Tuy nhiên, những dự báo này vẫn còn thực hiện trong các điều kiện chưa đảm bảo cho kết quả tốt nhất của dự báo như: thiếu số liệu, nhân lực làm công tác dự báo chưa được đào tạo bài bản, chưa có nhiều kiến thức về dự báo, ...

Qua số liệu của điều tra, khảo sát và phân tích thực trạng cho thấy một bức tranh chung toàn cảnh về hoạt động dự báo nhân lực hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, từ phương pháp, quy trình dự báo, hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu phục vụ dự báo đến nhân lực làm công tác dự báo.

Những đánh giá về dự báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam hiện nay ở chương 2, đặc biệt là những hạn chế chính là những cơ sở để đề xuất các giải pháp ở chương 3.

Một phần của tài liệu Cơ sở khoa học của dự báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học ở việt nam (Trang 123 - 129)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(216 trang)