CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG DỰ BÁO NHU CẦU NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
2.1. Khái quát về nhân lực có trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam hiện nay
2.1.1. Nguồn cung nhân lực trình độ cao đẳng, đại học
Cùng với sự phát triển về số lượng trường CĐ, ĐH, qui mô đào tạo của giáo dục đại học cũng tăng rất nhanh. Có thể thấy điều này qua con số tuyển sinh theo các mốc thời gian (xem bảng dưới đây). Năm 1987 số sinh viên tuyển mới là 34.110, năm 1997 là 123.969 (tăng 3,6 lần so với 1987), đến năm 2009 là 503.618 (tăng 4 lần so với năm 1997 và tăng 14,7 lần so với năm 1987) và đến năm 2012 thì con số này là 574.927, tăng 16,9 lần so với năm 1987. Tỉ lệ sinh viên tăng trung bình hàng năm là rất cao, kể cả so với tiêu chuẩn Đông Á.
Quy mô đào tạo đại học, cao đẳng tăng dần qua các năm. Năm 1987 tổng số sinh viên là 133.136, năm 1997 là 715.231 (tăng 5,4 lần), năm 2009 là 1.719.499 (tăng 2,4 lần so với năm 1997 và gần 13 lần so với năm 1987) và đến năm 2012 thì quy mô đào tạo là 2.204.313, tăng 16,6 lần so với năm 1987. Năm 1987 có 19.900 sinh viên tốt nghiệp, năm 1997 có 73.736 (tăng 3,7 lần so với 1987) và năm 2009 có 222.665 (tăng 11 lần so với năm 1987) và đến năm 2012 thì số SV tốt nghiệp là 402.277, tăng 20,22 lần so với năm 1987. Số sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng đã từng bước đáp ứng nhu cầu nhân lực qua đào tạo cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Bảng 2. 1. Sự gia tăng số lượng giảng viên, sinh viên của giáo dục đại học qua các giai đoạn
STT Thông tin 1987 1997 2009 2012
1 Số sinh viên tuyển mới 34.110 123.969 503.618 574.927 Tỷ lệ (%) tăng so với
năm 1987 - 3,63 14,76 16,86
2 Qui mô đào tạo 133.136 715.231 1.719.499 2.204.313 Tỷ lệ (%) tăng so với
năm 1987 - 5,37 12,92 16,56
3 Số sinh viên tốt nghiệp 19.899 73.736 222.665 402.277 Tỷ lệ (%) tăng so với
năm 1987 - 3,71 11,19 20,22
4 Giảng viên 20.212 25.774 61.190 84.109
Tỷ lệ (%) tăng so với
năm 1987 - 1,28 3,03 4,16
5 Tổng số trường ĐH, CĐ 101 126 376 419
6 Dân số cả nước
(1.000 người) 62.452 74.307 86.967 88.780
Nguồn: Tính toán từ số liệu thống kê hàng năm của Bộ GD&ĐT
Tỷ lệ sinh viên/1 vạn dân của cả nước cũng tăng. Năm 1997 cả nước mới có 80 sinh viên/1 vạn dân, năm 2006 tăng lên là 166,5 sinh viên/1 vạn dân, năm 2009 là 194 sinh viên/1 vạn dân. Tuy nhiên, nếu so với quốc tế và với các nước trong khu vực thì tỷ lệ sinh viên/1 vạn dân của Việt Nam vẫn còn rất thấp (năm 2005 Thái Lan có 374 sinh viên/1 vạn dân; Nhật Bản có 316 sinh viên/1 vạn dân, Anh có 380 sinh viên/1 vạn dân, Úc có 504 sinh viên/1 vạn dân, Mỹ có 576 sinh viên/1 vạn dân và Hàn quốc có 674 sinh viên/1 vạn dân).
Cùng với sự gia tăng về qui mô đào tạo của các trường CĐ, ĐH, đội ngũ giảng viên các cơ sở GDĐH đã được bổ sung, tuy nhiên cũng chưa đồng bộ về số lượng, chất lượng so với số lượng sinh viên ngày càng gia tăng. Năm học 2010-2011, số giảng viên đại học, cao đẳng có trình độ thạc sỹ mới đạt được mức 40,7% và trình độ tiến sỹ là 10,6%, như vậy còn khoảng gần 50%
giảng viên ở các trường ĐH, CĐ là chưa có bằng tiến sỹ và thạc sỹ. Do đó, vấn đề đặt ra hiện nay là liệu nguồn nhân lực sau khi đào tạo tại các trường ĐH, CĐ có thực sự đạt chất lượng. Theo Nghị quyết của Chính phủ số 14/2005/NQ-CP, ngày 2/11/2005 về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam xác định yêu cầu phải đạt tỷ lệ giảng viên là tiến sĩ qua từng giai đoạn, mục tiêu đến 2020 phải đạt ít nhất là 35% giảng viên có trình độ tiến sĩ. Song trên thực tế, tỉ lệ giảng viên có học hàm GS, PGS, và có bằng tiến sĩ trong các cơ sở GDĐH đã giảm đi trong thập niên vừa qua do sự gia tăng quá nhanh về số lượng.
Sự phát triển quy mô của giáo dục đại học những năm qua đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của nhân dân, tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội, nhưng cũng cần nhìn nhận một cách rõ ràng những bất cập về sự thiếu đồng bộ trong việc gia tăng số lượng với các điều kiện đảm bảo chất lượng. Điều này liên quan tới ban hành các chính sách và việc quản lý chất lượng giáo dục đại học của Nhà nước trong thời gian qua chưa được chặt chẽ, dẫn đến làm tăng nguy cơ giảm sút chất lượng GD ĐH.
Trình độ khoa học kỹ thuật của Việt Nam đang được từng bước cải thiện, ứng dụng trong sản xuất và đời sống, tuy mới chỉ ở giai đoạn ban đầu.
Mặc dù vậy, để chuẩn bị cho giai đoạn phát triển tiếp theo ở trình độ cao hơn, Việt Nam cần phải chuẩn bị cho mình nguồn nhân lực có khả năng ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất. Theo một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, ở mỗi giai đoạn tiến bộ kỹ thuật có những đòi hỏi về nguồn nhân lực khác nhau, cơ cấu nhân lực ở trình độ cao ngày càng chiếm tỷ trọng lớn. Điều đó thể hiện nhu cầu về nhân lực trình độ cao đẳng, đại học của xã hội ngày càng gia tăng. Sinh viên cao đẳng, đại học ra trường có thể kiếm được việc làm với thu nhập tương đối ổn định. Một số ngành có nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học cao thuộc các lĩnh vực: y tế, du lịch - dịch vụ, tài chính - ngân hàng - kế toán, sư phạm, giao thông - xây dựng, cơ khí, điện - điện tử, công nghệ thông tin,...
Thực hiện chủ trương đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu xã hội, nhiều trường cao đẳng, đại học đã tổ chức các buổi hội thảo về chương trình hành động đào tạo theo nhu cầu xã hội, tổ chức các ngày hội tư vấn việc làm, chủ
động tìm đến doanh nghiệp để tìm hiểu nhu cầu, ký kết các hợp đồng đào tạo nhân lực, mời doanh nghiệp tham gia xây dựng và đánh giá chương trình đào tạo, qua đó các trường nhận thức được nhu cầu bức thiết phải xác định chuẩn đào tạo, đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp dạy học để đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp. Nhìn chung, một không khí sôi động về đẩy mạnh đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội đang lan tỏa sâu rộng trong hệ thống các cơ sở đào tạo từ dạy nghề, TCCN đến CĐ và ĐH.