Cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam giai đoạn 2007-2012

Một phần của tài liệu Cơ sở khoa học của dự báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học ở việt nam (Trang 80 - 84)

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG DỰ BÁO NHU CẦU NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM

2.1. Khái quát về nhân lực có trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam hiện nay

2.1.2. Cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam giai đoạn 2007-2012

Việt Nam được thế giới đánh giá là có lợi thế về dân số đông, từ 2007 Việt Nam được xác định bước vào thời kỳ “dân số vàng” nên lực lượng trong độ tuổi lao động khá dồi dào. Đây là nguồn lực vô cùng quan trọng để đất nước ta thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020 đã được Đại hội Đảng XI thông qua ngày 16/2/2011. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam vẫn còn thấp và cần phải được cải thiện càng sớm càng tốt.

Thực trạng lao động của Việt Nam hiện nay đang bộc lộ sự mất cân đối. Nếu như trước kia Việt Nam luôn ở trong tình trạng thiếu vốn trầm trọng thì nay đã xuất hiện thêm tình trạng thiếu nhân lực có kiến thức và kỹ năng phù hợp. Nhiều dự án đầu tư đang có nguy cơ phải dừng lại hoặc phải kéo dài thời hạn chuẩn bị vì thị trường lao động của Việt Nam không đáp ứng được nhu cầu nhân lực. Mặc dù nước ta đang “sở hữu” lực lượng lao động hùng hậu với trên 50 triệu người trong độ tuổi lao động, song lại thiếu lao động có kỹ năng. Điều này đặt ra sự cấp thiết đối với quy hoạch phát triển nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng với kinh tế thế giới.

Số lượng nhân lực qua đào tạo những năm qua tăng tương đối nhanh, tỷ lệ lực lượng lao động có trình độ cao đẳng, đại học chiếm 8,4% (theo Báo cáo Điều tra Lao động Việc làm năm 2012 của Bộ Kế hoạch Đầu tư). Trong cơ cấu nhân lực qua đào tạo theo ngành nghề, thì nhân lực được đào tạo chuyên

các ngành xã hội, luật, kinh tế, ngoại ngữ… lại quá cao. Hiện đang thiếu nhiều kỹ sư và công nhân kỹ thuật lành nghề, trước hết là trong các ngành trọng điểm (cơ khí, điện tử - kỹ thuật điện, hóa chất…) và ở các khu công nghiệp lớn, các khu kinh tế mới thành lập. Cơ cấu nhân lực qua đào tạo theo vùng miền còn chưa hợp lý, chưa phù hợp với đặc điểm và nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của vùng nên chưa thể khai thác và phát huy có hiệu quả những tiềm năng và thế mạnh của từng vùng, nhất là lao động có trình độ cao đẳng, đại học thường có tâm lý chung là tập trung bám trụ tại các thành phố lớn.

Bng 2. 2. Lc lượng lao động và lao động có trình độ CĐ, ĐH Đơn vị: 1.000 người

Năm

Tổng số lao động đang làm việc trong nền KTQD

Nhân lực có trình độ CĐ, ĐH

Tốc độ tăng so với năm

trước (%)

% so với tổng số nhân

lực qua đào tạo

2007 46.000 2.700 5,35 5,98

2008 46.500 2.900 6,92 6,22

2009 47.700 3.100 6,47 6,45

2010 50.800 3.700 22,19 7,40

2011 51.700 4.100 8,62 7,90

2012 52.300 4.400 7,61 8,40

Ngun: i) Trung tâm Thông tin tin học, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2007-2009); ii) Báo cáo Điều tra lao động việc làm năm 2012, Tổng cục

Thống kê (2010 - 2012)

Nhìn vào số liệu thống kê ở bảng trên ta thấy, trong những năm gần đây (từ 2007 đến 2012), lực lượng lao động có trình độ CĐ, ĐH toàn quốc có xu hướng phát triển tăng đều, tốc độ tăng năm sau cao hơn năm trước và tăng mạnh nhất ở năm 2010 (22,2%)và nâng tổng số đạt tới 3,7 triệu người. Xu hướng phát triển đã dần ổn định với mức tăng hàng năm từ 200.000 người đến

400.000 người. Đặc biệt, sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, tốc độ phát triển của lực lượng lao động có trình độ (CĐ, ĐH) vẫn duy trì nhịp tăng năm sau so với năm trước đều ở mức 6-7%. Tỷ trọng lao động có trình độ CĐ/ĐH trong tổng lực lượng lao động cũng tăng tương ứng, từ 5,98% năm 2007 lên đến 8,4% năm 2012. Mặc dù vậy, lao động phổ thông vẫn chiếm số đông, và nhân lực chất lượng cao chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp. Như vậy, nguồn nhân lực của nước ta tuy trẻ và dồi dào nhưng trình độ chuyên môn còn thấp. Chúng ta không thể nói đến nhân lực chất lượng cao khi chất lượng giáo dục đại học và tỷ lệ lao động đã qua đào tạo thấp, cùng với trình độ ngoại ngữ, khả năng sử dụng máy tính, công nghệ thông tin của lực lượng lao động còn yếu… Thực tế cho thấy, phần lớn đội ngũ nhân lực, kể cả những người có trình độ đại học, trên đại học chưa có khả năng sử dụng ngoại ngữ để tham khảo, nghiên cứu tài liệu nước ngoài hoặc theo học các chương trình đào tạo tiếng nước ngoài. Trong môi trường làm việc có yếu tố nước ngoài thì ngoại ngữ luôn là điểm yếu kém của lao động Việt Nam.

Theo phân tích của Nguyễn Bá Ngọc [67]: Báo cáo Năng lực Cạnh tranh Toàn cầu năm 2012-2013 do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) xuất bản năm nay cho thấy: chỉ số năng lực cạnh tranh kinh tế toàn cầu của Việt Nam năm 2012-2013 đứng ở vị trí 75 trong số 144 nước tham gia xếp hạng, chúng ta đã bị tụt 16 hạng so với chỉ số 2010-2011; Việt Nam bị tụt hạng trong 3 năm liên tiếp, từ vị trí 59/139 năm 2010 xuống vị trí 65/142 năm 2011 và xuống tiếp vị trí 75/144 năm 2012. Trong 8 nước ASEAN tham gia xếp hạng chúng ta chỉ đứng trên Campuchia (Lào và Myanmar không tham gia xếp hạng), chúng ta bị bỏ sau Trung Quốc rất xa. Chúng ta bị đánh giá rất thấp, với 9/12 trụ cột bị tụt hạng, không có trụ cột nào nằm trong top 50, nhiều trụ cột quan trọng nằm dưới vị trí 100.

So sánh trực tiếp hai trụ cột phản ánh năng lực cạnh tranh của nhân lực về giáo dục đại học, đào tạo nhân lực và về sự sáng tạo với các nước trong khu vực thì nhân lực của Việt Nam gần như đứng cuối cùng (sau cả Campuchia) trong 9 nước tham gia xếp hạng. Campuchia đứng sau chúng ta về chỉ số giáo dục đại học, đào tạo nhân lực (vị trí 111 so với 96 của Việt Nam) nhưng họ đứng trên nước ta về sáng kiến, sáng tạo với vị trí 67 so với

khoảng cách rất xa: Trung Quốc đạt vị trí 62 về giáo dục đại học, đào tạo nhân lực và rất được đánh giá cao về sáng kiến, sáng tạo với vị trí thứ 33.

Bng 2. 3. So sánh năng lc cnh tranh ca nhân lc Vit Nam vi các nước ASEAN và Trung Quc

Ch s v giáo dc đại hc, đào

to nhân lc

Ch s v sáng kiến, sánh to

Ch s năng lc cnh tranh kinh tế

toàn cu 1. Singapore

- Xếp hạng

- Điểm số Vị trí 2/144 nước

Đạt 5,93/7 điểm 8/144

5,39/7 2/144

5,67/7 2. Malayxia

- Xếp hạng - Điểm số

39 4,83

25 4,38

25 5,06 3. Brunei

- Xếp hạng - Điểm số

57 4,4

59 3,31

28 4,87 4. Trung Quc

- Xếp hạng - Điểm số

62 4,32

33 3,85

29 4,83 5. Thái Lan

- Xếp hạng - Điểm số

60 4,35

68 3,19

38 4,52 6. Indonesia

- Xếp hạng - Điểm số

73 4,17

39 3,61

50 4,4 7. Philipine

- Xếp hạng

- Điểm số 64

4,3 97

2,97 65

4,23 8. Việt Nam

- Xếp hạng - Điểm số

96 3,69

81 3,07

75 4,11 9. Campuchia

- Xếp hạng - Điểm số

111 3,82

67 3,19

85 4,01

Nguồn: Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2012-2013, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (tổng số tham gia xếp hạng là 144 nước, điểm cho mỗi phần đánh giá là 7 điểm)

Nếu phân tích sâu hơn về các chỉ số thành phần, chúng ta thấy: Trong giáo dục đại học, đào tạo nhân lực, chúng ta yếu nhất về khả năng nghiên cứu và cung cấp các dịch vụ đào tạo nhân lực của các trường (xếp hạng 126), chất lượng thấp của các trường quản lý (xếp hạng 125) và chất lượng thấp của đội ngũ giáo viên (xếp hạng 116).

Một phần của tài liệu Cơ sở khoa học của dự báo nhu cầu nhân lực trình độ cao đẳng, đại học ở việt nam (Trang 80 - 84)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(216 trang)