5) Chương trình nghiên cứu phát triển của các địa phương
3.2.5 Hoạt động chuyển giao công nghệ
Các hoạt động chuyển giao công nghệ có vai trò cực kỳ quan trọng để nâng cao trình độ công nghệ của ngành cơ khí trong những năm qua, đây cũng chính là hình thức mà nên công nghệ của Việt nam tranh thủ những gì đã có của các nước đi trước.
Thông qua hoạt động chuyển giao chúng ta đã nhanh chóng tiếp cận được với những công nghệ mới tiên tiến của nước ngoài. Hiện nay, đối với các ngành kinh tế nới
chung và lĩnh vực cơ khí nói riêng các hình thức chuyển giao xuất hiện ở các hình thức gồm: Nhập khẩu, đầu tư trực tiếp nước ngoài, hỗ trợ qua các dự án viện trợ phát triển. Tuy vậy chuyển giao cong nghé hiện nay chủ yếu thông qua đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Theo số liệu thống kê của Bộ KH&ĐT tính đến hết năm 2003 cả nước có 3.720 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký trên 39.365 triệu USD. Số vốn đã thực hiện là 21.133 triệu USD. Trong đó phần công nghiệp và xây dựng chiếm tới 66% dự án và chiếm 64,5 % vốn đầu tư lĩnh vực này, thu hút tới 70% lao động va tao ra 90% giá trị xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài. Theo số liệu của Bộ Khoa học và Công nghệ thì đến hết năm 2002 tổng số đã phê duyệt là 219 hợp đồng chuyển giao. Chỉ tính riêng công nghệ trong lĩnh vực lắp ráp ôtô xe máy đã có tới hàng chục các hợp đồng chuyển giao, hiện đã có tới L1 liên doanh sản xuất và lắp ráp từ hầu hết các Hãng ôtô nổi tiếng đến từ Nhật bản, Mỹ, Hàn Quốc, Italia, Đức... Một số lượng lớn các công ty trong nước nhận chuyển giao trong lĩnh vực sản xuất xe máy từ Trung Quốc và Nhật Bản. Một số lượng các hợp đồng chuyển giao trong lĩnh vực sản xuất khác như Công ty Cơ khí Hàn -Việt chuyên sản xuất các sản phẩm siêu trường siêu trọng, Công ty Đúc Việt- Nhật với sản phẩm đúc tiên tiến v..v đã góp phần làm đa đạng những công nghệ khác nhau của ngành. [20]
Các hoạt động chuyển giao được diễn ra đối với các dự án đầu tư trong nước.
Nhờ có cơ chế hễ trợ tích cực từ năm 1998 đến nay đã có 52 dự án đầu tư mới với tổng số vốn phê duyệt là 3.485.583 triệu đồng, hiện nay đã có 45 đự án đang tiến hành thực hiện. Mặt khác, theo Chương trình phát triển các sản phẩm cơ khí trọng điểm tính đến tháng 7/2004 Ban chỉ đạo cũng đã tiến hành thẩm định 24 dự án đầu tư khác thuộc một số các Tổng Công ty trong nước như Tổng Công ty Tàu thuỷ, Tổng Công ty Máy và Thiết bị công nghiệp, Tổng công ty máy động lực và một số các doanh nghiệp kể cả tư nhân với số vốn lên đến hàng ngàn tỷ đồng. Đối với ngành công nghiệp ôtô dự kiến kinh phí đầu tư cho ngành từ nay đén 2020 sẽ là 18.000 tỷ đồng. Hầu hết các dự án mới đầu tư đều có công nghệ hiện đại đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Đáng lưu ý trong số các dự án đầu tư hầu hết các dự án được hỗ trợ mua thiết kế hoặc phí chuyển giao công nghệ tiên tiến từ nước ngoài. Sự đa dạng của các dự án đầu tư ở các lĩnh vực cơ khí khác nhau sẽ giúp cho ngành có một vị thế mới tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Riêng đối với ngành đóng tàu trong thời gian qua căn cứ vào Quyết định số 117/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách ưu đãi cho các dự án đóng tàu biển của ngành đóng tàu Việt Nam, theo đó ngành đóng tàu có kế hoạch nâng cấp, cải tiến nhập công nghệ mới cho 40 Nhà máy đóng tàu hiện có với số vốn lên đến 6.325 tỷ đồng trong kế hoạch từ nay đến năm 2010 ngành đóng tàu Việt Nam sẽ có kha năng đóng mới và sửa chữa tàu có tải trọng đến 100.000 tấn với khả năng nội địa lên đến 60% và có khả năng xuất khẩu trị giá là 1 tỷ USD vào năm 2010, đưa Việt Nam trở thành một trong nước có nên cơ khí đóng tàu mạnh trong khu vực.
Xu thế trong việc nhận chuyển giao công nghệ cũng được xác định rõ ràng. Mới đây Tổng Công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp đã thắng thầu Quốc tế trong việc mua lại nhà máy đồng bộ sản xuất và láp ráp ôtô của Hàn Quốc với công nghệ tiên tiến. Với những trang thiết bị đồng bộ và tiến tiến như vậy, các sản phẩm không những sẽ đáp ứng ngay nhu cầu trong nước thay thế nhập khẩu mà còn tham gia ngay
vào thị trường xuất khẩu.
22
Các hoạt động dịch vụ KHCN khác trong thời gian qua cũng đã điễn ra sôi động.
Theo báo cáo của Hiệp Hội các doanh nghiệp cơ khí Việt nam chỉ trong thời gian hai năm trở lại đây Hiệp hội các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam đã trực tiếp cùng với các doanh nghiệp của ngành xây dựng mối quan hệ với hàng chục các đối tác như Tiệp khắc, Ucraina, Nga, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đức, Thái Lan, Italia, Nhật Bản...thông qua hợp tác hai bên đã đi đến thống nhất chương trình phối hợp giữa các lĩnh vực chuyển giao công nghệ, tư vấn sản xuất các sản phẩm cơ khí có chất lượng cao.
Công tác tuyên truyền thông qua các tạp chí chuyên ngành của Hội cơ khí Việt Nam đã giúp quảng bá kịp thời các công nghệ mới của ngành đã phần nào giúp các doanh nghiệp trong nước tự tin hơn trong đầu tư và phát triển sản xuất.
Hàng năm, các doanh nghiệp trong nước đều tiến hành tổ chức triển lãm trưng bày giới thiệu các sản phẩm ngành cơ khí chế tạo máy trong nước và nước ngoài, kịp thời thông tin tới khách hàng những thành tựu mới nhất của ngành và nắm bắt thời cơ liên kết sản xuất với các Công ty nước ngoài. Các cuộc triển lãm đã thu hút số lượng lớn khách hàng tham quan thông qua triển lãm một lượng hợp đồng có giá trị đã được ký kết và quan trọng hơn là sự bắt tay hợp tác đầu tư sản xuất chấm dứt tình trạng sản xuất nhỏ lẻ manh mún.
3.3. Đánh giá thực trạng hoạt động khoa học và công nghệ 3.3.1. Những thành tựu
Trải qua 45 năm, trong điều kiện còn nhiều khó khăn, những nhờ cơ chế khuyến khích, ưu đãi kịp thời của Đảng và Nhà nước, hoạt động khoa học và công nghệ của ngành cơ khí đã có bước phát triển và thu được những thành quả đáng khích lệ đó là:
1) Tiềm lực KHCN của ngành không ngừng được củng cố, nâng cao để tiếp cận và làm chủ các công nghệ tiên tiến trong ngành cơ khí chế tạo máy
Cơ sở vật chất: Su quan tâm đầu tư cho hoạt động KHCN trong những năm gần đây đã góp phần quan trọng củng cố tiêm lực KHCN của cả nước nói chung và của ngành cơ khí nói riêng. Các viện nghiên cứu thuộc chuyên ngành cơ khí chế tạo máy đã không ngừng phát triển nhanh về cả số lượng và chất lượng đáp ứng như cầu phát triển ngày một lớn của ngành. Cho đến thời điểm hiện nay, đã có hàng chục viện nghiên cứu chuyên ngành cơ khí và một số lượng lớn các trung tâm nghiên cứu thuộc các bộ, ngành trong cả nước. Hàng năm, Nhà nước đã hỗ trợ hàng chục tỷ đồng để nâng cấp cơ sở vật chất và điều kiện nghiên cứu cho các viện nghiên cứu. Từ năm 2001 đến nay, hầu hết các Viện đã được đầu tư các phòng thí nghiệm trọng điểm hiện đại với đầy đủ các trang thiết bị tiên tiến phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu khoa học.
Chỉ tính riêng số các phòng thí nghiệm các Viện đang sở hữu con số này đã là 45 phòng thí nghiệm với các chuyên ngành khác nhau có thể kể ra ở đây một số phòng thí nghiệm trọng điểm như phòng thí nghiệm công nghệ hàn và xử lý bề mặt, phòng thí nghiệm tia nước áp suất cao, phòng thí nghiệm máy nâng, phòng thí nghiệm cơ điện tử, phòng thí nghiệm về bơm, phòng thí nghiệm về thiết bị Điện...
Các cơ sở này là sự đột phá về đầu tư tiềm lực KHCN của các ngành và lĩnh vực nói chung, với ngành cơ khí nói riêng đã cho phép các nhà khoa học có đủ các trang
thiết bị tiên tiến nhất của thế giới để phục vụ nghiên cứu đáp ứng nhu cẩu phát triển của nền kinh tế. Điều mà trước đây chỉ có thể thấy ở các Quốc gia phát triển. Hiện
nay, một số Viện đã có thể đảm đương tốt vai trò tư vấn, thiết kế cho các công trình lớn có số vốn hàng trăm triệu USD, trước đây toàn bộ các công việc này đều phải mua
của nước ngoài. - „
Hoạt động của các viện nghiên cứu đã có chuyên biến tốt, đạt được những kết quả rất đáng khích lệ. Hầu hết các viện nghiên cứu đều có số tăng về doanh thu năm sau cao hơn năm trước. Một số có doanh thu tăng đột biến từ 50-100%/năm, điều này đã tạo điều kiện củng cố về cơ sở vật chất và đảm bảo sự phát triển đội ngũ cho tương lai.
Nhân lực KHCN: Lực lượng cán bộ KHCN của ngành cơ khí cũng đã được chú trọng đào tạo và có bước phát triển không ngừng cả về số lượng và chất lượng. Đối với các Viện nghiên cứu chuyên ngành cơ khí, chỉ tính riêng số nhân lực KHCN có trình độ giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ đã lên đến 150 người, chưa kể đến một lực lượng hàng trăm nhà khoa học chuyên ngành cơ khí đang giảng dạy tại các trường đại học và các nhà khoa học đang làm việc tại nhiều lĩnh vực khác nhau trong mọi miền của cả nước.
Hàng năm, hàng trăm thạc sỹ, kỹ sư tốt nghiệp từ các Trường Đại học đã nhanh chóng bổ sung thêm cho lực lượng của ngành. Đây là nguồn cán bộ KHCN quý báu để đáp ứng nhu cầu phát triển không ngừng tăng của ngành cơ khí.
Thông qua các hoạt động KHCN, trình độ của đội ngũ cán bộ KHCN trong ngành cơ khí không ngừng được nâng cao. Do hoạt động theo cơ chế thị trường, nên các nhà khoa học đã có dịp được tiếp cận các công nghệ mới. Hiện nay, đội ngũ các nhà khoa học đã làm chủ được những công nghệ của các dự án đầu tư trong nước. Đại đa số cán bộ KHCN của Việt Nam đã có khả năng ứng dụng công nghệ mới trong lĩnh vực và có trình độ không thua kém các đồng nghiệp các nước trong khu vực.
Cơ sở trang thiết bị máy móc của các doanh nghiệp cơ khí trong nước không ngừng đổi mới, đầu tư và phát triển: Các doanh nghiệp cơ khí đã được quan tâm đầu tư và có bước phát triển nhanh. Trong 5 năm gần đây số các dự án cơ khí được đầu tư trong nước đã lên đến hàng chục dự án, nếu chỉ tính riêng số dự án được Ban chỉ đạo Chương trình cơ khí trọng điểm của Chính phủ phê duyệt từ năm 2002 đến nay cũng đã là 24 dự án với số vốn lên đến hàng ngàn tỷ đồng. Với số lượng lớn các công ty liên doanh sản xuất thuộc lĩnh vực cơ khí chế tạo máy và hàng chục các dự án đầu tư theo chương trình các sản phẩm trọng điểm với hàng chục ngàn tỷ đồng đã làm thay đổi rất căn bản bộ mặt của ngành. Những thế hệ trang thiết bị hiện đại, đồng bộ cho phép ngành cơ khí Việt Nam có khả năng sản xuất được các sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng của nền kinh tế quốc đân và tham gia xuất khẩu.
Cho đến nay, hầu hết các nhà thầu đanh tiếng trên thế giới của Châu Âu, Nhật Bản...
đều đã đặt hàng các doanh nghiệp cơ khí trong nước để cung cấp thiết bị cho các dự án đầu tư. Công ty Cơ khí Hà Nội đã có đây chuyền công nghệ đúc hiện đại mà vật đúc có thể lên đến hơn 10 tấn. Hầu hết các doanh nghiệp cơ khí lớn đều đã trang bị máyvà thiết bị gia công hiện đại CNC và các phần mềm chuyên dụng phục vụ từ khâu
thiết kế đến gia công. Có thể khẳng định vào thời điểm hiện tại ngành cơ khí đang có
được những cơ hội tốt nhất để phát triển. Cho đến nay, ngành đóng tàu đã hoàn toàn làm chủ được công nghệ đóng tàu phức tạp với tải trọng lên đến 50.000 tấn và đang có kế hoạch lên đến 100.000 tấn vào những năm tới, đây là những bứt phá chưa từng thấy trong lịch sử phát triển của ngành. Trong vài năm trước, từ chỗ chúng ta hầu như chỉ
đảm nhận vai trò làm thuê cho nhà thầu phụ giờ đây đã có khả năng trở thành tổng
thần đảm đương các công trình tầm cỡ quốc tế hàng trăm triệu USD như: Nhà máy
Nhiệt điện Uông bí với gần 400 triệu USD, Nhà máy Nhiệt Điện Phả Lại số 2 khoảng 300 triệu USD, hàng loạt các công trình khác như Nhà máy Giấy Thanh Hoá, Nhà máy xi măng Hùng Vương phú Thọ, một số các gói thâu tại khu công nghiệp Dung Quất...toàn bộ các công trình này đều có giá trị hàng trăm triệu USD, đã chứng tỏ một vị thế mới của ngành cơ khí Việt Nam.
2) Trình độ KH&CN của ngành không ngừng được nâng cao, từng bước tiếp cận với trình độ của các nước trong khu vực và thu hẹp khoảng cách với các nước tiên tiến trên thế giới là cơ sở vững chắc cho việc phát triển của ngành, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
Trong những năm qua trình độ công nghệ của ngành đã thay đổi một cách hết sức căn bản. Đã có những chuyển biến hết sức cơ bản về nhận thức của các doanh nghiệp trong ngành cơ khí chế tạo máy đối với vai trò của hoạt động khoa học và công nghệ, điều này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng khi Việt Nam đã chính thức tham gia khối thị trường chung khu vực AFTA hay WTO. Hầu hết các doanh nghiệp đều đã nhận thức được rằng muốn đảm bảo sự tồn tại và phát triển thì không có con đường nào khác là phải iếp cận với công nghệ mới thay đổi những công nghệ cũ lạc hậu.
Việc một số các sản phẩm cơ khí không những chiếm lĩnh thị trường trong nước ma con tham gia thị trường xuất khẩu đã khăng định được trình độ công nghệ của các cơ sở cơ khí trong nước đã có nhiều tiến bộ. Các viện nghiên cứu đã chủ động trong việc tham gia thiệt kê và tư vân các côg trình lớn đã cho thây có sự thay đôi nhanh chóng về khả năng của các nhà khoa học trong lĩnh vực.
3) Các hoạt động quản lý ngày càng có nề nếp và hiệu quả đóng góp xứng đáng vào sự phát triển chung của ngành
Chương trình nghiên cứu về cơ khí chế tạo máy đã không ngừng được củng cố và ngày càng phát huy hiệu quả. Bắt đầu từ năm 2001, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường ( nay là Bộ KH&CN) đã cải tiến đổi mới việc xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cho đến quản lý các đề tài dự án của Chương trình KHCN theo hướng ngày một sát với thực tiễn hơn, ngày một rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và sản xuất, ngày một dân chủ, mình bạch vào hiệu quả hơn. Theo hướng đổi mới này, các đề tài, dự án đã được tuyển chọn một cách dân chủ, công khai, theo một quy trình ngày một chặt chẽ, khoa học. Thời gian thực hiện một đề tài, dự án cũng đã được quy định trong khoảng 24-36 tháng nhằm tránh các Đề tài, dự án kéo dài không có hiệu quả. Quy trình nghiệm thu các đề tài, dự án cũng được cải tiến nhiều nhằm bảo đảm đánh giá chính xác chất lượng thực, giá trị khoa học công nghệ thực của các đề tài, dự án. Sự cải tiến đó đã làm cho chất lượng và nội dung các chương trình KHCN chế tạo máy từ 1986 đến nay ngày càng được nâng cao. Nội dung KHCN của các đề tài, dự án ngày một rõ nét hơn, gắn với sản xuất hơn. Tỷ lệ giữa số lượng đề tài với số lượng dự án sản xuất thử nghiệm trong các chương trình KHCN chế tạo máy đã thay đổi theo chiều hướng ngày càng tăng số dự án sản xuất thử nghiệm, đặc biệt là các dự án SXTN được phát triển trên cơ sở kết quả nghiên cứu của các đề tài KHCN của chương trình. Điều này đã cho thấy hiệu quả rõ rệt của việc đầu tư tài chính cho nghiên cứu và phát triển công nghệ và cho phép tăng khả năng rút ngấn khoảng cách giữa nghiên cứu và sản xuất, nhanh chóng đưa kết quả KHCN vào sản xuất, kinh doanh thương mại.