Khoa học công nghệ với việc triển khai thực hiện chiến lược phát triển ngành Cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020

Một phần của tài liệu Nghiên cứu xây dựng định hướng công nghệ cơ khí chế tạo Việt Nam từ nay đến năm 2010 (Trang 196 - 233)

BAO CAO TOM TAT

2. Khoa học công nghệ với việc triển khai thực hiện chiến lược phát triển ngành Cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020

Ngày 26 tháng 12 năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt bản Chiến lược phát triển ngành Cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020.

Để đạt được mục tiêu cụ thể của chiến lược phải xác định được bước đi và nội dung phát triển của khoa học công nghệ chế tạo máy một cách hợp lý. Quan điểm chung về chiến lược phát triển khoa học - công nghệ chế tạo máy đến năm 2010 là:

- Xây dựng ngành chế tạo máy trở thành một ngành kinh tế chủ lực đủ sức trang bị phần lớn máy móc, thiết bị phụ tùng cho các ngành công nghiệp khác nhằm từng bước cơ khí hóa, tự động hóa quá trình sản xuất.

- Trước hết cần tập trung đổi mới các khâu công nghệ cơ bản của ngành trên cơ sở đầu tư có trọng điểm các thiết bị mới ứng với công nghệ tiên tiến của thế giới, kết

hợp hài hòa giữa công tác nghiên cứu triển khai áp dụng công nghệ mới với việc nhận chuyển giao công nghệ từ nước ngoài. Tận dụng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có trên cơ sở đồng bộ hóa, cải tiến và trang bị lại một số thiết bị, kể cả thiết bị lớn trong các dây truyền công nghệ nhằm tạo ra các sản phẩm chế tạo máy đạt chất lượng trung bình tiên tiến trong khu vực nhằm đáp ứng cho yêu cầu phát triển của các lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp chế biến, giao thông vận tải, xây dựng, năng lượng,

đầu khí ...

- Cần thực hiện một cơ cấu công nghệ kết hợp nhiều trình độ, nhiều qui mô, coi trọng qui mô vừa và nhỏ, tranh thủ đi thẳng vào công nghệ hiện đại có chọn lọc ở những khu vực cần thiết, hình thành những khu vực công nghệ cao để tạo đà cho sự phát triển của toàn ngành.

- Phát triển sản phẩm Cơ khí phải gắn liền với các thành tựu khoa học của các

ngành khác như vật liệu mới, công nghiệp điện tử - tin học, công nghệ nanô.

Với các định hướng chung nêu trên, thời gian tới cần tiến hành đổi mới công nghệ ở những khâu cơ bản sau:

- Đổi mới cơ bản công nghệ tạo phôi trong ngành chế tạo máy. Loại bỏ dần công nghệ đúc lạc hậu, triển khai áp dụng công nghệ đúc phổ biến hiện nay trên thế giới. Các sản phẩm có yêu cầu cao phải được đúc bằng những công nghệ hiện đại.

- Hạn chế tới mức thấp nhất công nghệ rèn tự do trên máy búa, triển khai áp dụng rộng rãi công nghệ rèn khuôn, dập thể tích và các loại hình công nghệ gia công bằng áp lực tiên tiến khác.

- Đổi mới cơ bản công nghệ hàn trong công tác chế tạo và sửa chữa, phục hồi.

Loại bỏ các thiết bị hàn cũ, lạc hậu, áp dụng các phương pháp hàn tiên tiến, tùy theo điều kiện của các loại sản phẩm mà áp dụng có hiệu quả công nghệ hàn mới, cơ khí hóa và từng bước tự động hóa quá trình công nghệ hàn đặc biệt trong lĩnh vực hàn các thiết bị chịu áp lực, đóng tàu, các thiết bị hóa chất.

- Đổi mới về cơ bản công nghệ và thiết bị nhiệt luyện, mạ, sơn, phủ. Loại bỏ các công nghệ và thiết bị nhiệt luyện đã lạc hậu, không đảm bảo chất lượng. Triển khai áp dụng vào sản xuất các công nghệ nhiệt luyện, mạ, sơn phun phủ kim loại tiên

tiến nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng đủ sức cạnh tranh với hàng nhập khẩu trên

thị trường trong nước. :

- Trên cơ sở đổi mới các công nghệ cơ bản, cải tạo các đây chuyền thiết bị của các nhà máy chế tạo Cơ khí theo công nghệ tiên tiến của sản phẩm. Trang bị có chọn lọc các thiết bị gia công chính xác cần thiết, các thiết bị đo lường kiểm nghiệm nhằm đảm bảo chất lượng yêu cầu của sản phẩm.

- Từng bước trang bị các thiết bị lớn để chế tạo các sản phẩm Cơ khí chế tạo máy hạng nặng cho một số nhà máy Cơ khí đã được chọn lọc, tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện của ngành chế tạo máy trong giai đoạn đến nãm 2010.

- Triển khai áp dụng mạnh mẽ kỹ thuật tự động và nửa tự động trong ngành chế tạo máy. Xây dựng một số trung tâm gia công CAD/CAM/CIM/PLC/CNC đủ mạnh để hỗ trợ cho việc đào tạo và triển khai trong công nghiệp. Cải tạo và nâng cao trình độ tự động hóa của các nhà máy công cụ hiện có. Đưa các nhà máy gia công kim loại CNC van nang và chuyên dùng vào quá trình chế tạo các chi tiết phức tạp có độ chính xác cao, một số loại khuôn mẫu...

- Đầu tư thích đáng để củng cố và đổi mới các cơ sở nghiên cứu triển khai, giảng dạy đào tạo của ngành chế tạo máy, theo kịp với trình độ phát triển chung của các nước trong khu vực. Trong đó đặc biệt quan tâm tới các kỹ thuật hiện đại, kỹ thuật

tự động hóa, các công nghệ về vật liệu mới.

- Củng cố và phát triển công tác đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật, kỹ sư và công nhân lành nghề của ngành Cơ khí trên cơ sở đổi mới chương trình đào tạo, cơ sở vật chất kỹ thuật cho đào tạo. Đặc biệt cần quan tâm đào tạo và đào tạo lại đội ngũ chuyên gia giỏi, các cán bộ khoa học kỹ thuật mạnh về công nghệ cơ bản, công nghệ thiết kế và tự động hóa đủ sức tiếp thu và làm chủ các công nghệ tiên tiến, đồng thời có thể tạo ra công nghệ riêng của đất nước, đáp ứng một cách cơ bản yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa của đất nước. Cần chú trọng đào tạo đội ngũ kỹ sư thực hành để quản lý vận hành sản xuất.

Cụ thể đối với từng chuyên ngành Cơ khí chế tạo máy cần đáp ứng được các

yêu câu sau:

1. Thiết bị toàn bộ.

Nâng cao năng lực chế tạo thiết bị toàn bộ với công nghệ tiên tiến. Đảm bảo sản xuất được thiết bị có độ phức tạp cao, thay thế dần dần nhập khẩu, tiến tới xuất khẩu được sản phẩm ra thị trường khu vực và thế giới. Nâng cao năng lực thiết kế thiết bị toàn bộ, gắn kết có hiệu quả với công nghệ tiên tiến của từng ngành công nghiệp, làm chủ được khả năng cung cấp tài liệu thiết kế dây chuyển công nghệ hoặc thiết bị.

Đầu tư có trọng điểm thiết bị và công nghệ vào các khâu cơ bản mà lâu nay ta còn yếu kém như đúc, tạo phôi lớn, đáp ứng yêu cầu chế tạo chi tiết, cụm chỉ tiết lớn trong dây chuyền.

2. Máy động lục.

Đầu tư chiều sâu, hiện đại hóa thiết bị và công nghệ, nâng cao năng lực chế tạo máy động lực. Tập trung đổi mới vào các khâu công nghệ trọng điểm cón lạc hậu như tạo phôi, nhiệt luyện, gia công tình. Tiến tới sản xuất được bộ bơm cao áp, vòi phun, loc dau ...

3. Cơ khí phục vụ nông - lâm - ngư nghiệp và công nghiệp chế biến.

Đầu tư thiết bị và công nghệ mới cho các cơ sở Cơ khí chuyên ngành có đủ điểu kiện để thiết bị và chế tạo được các sản phẩm có chất lượng cao. Tập trung nghiên cứu và sản xuất các thiết bị chế biến nông - lâm - sản thay thế nhập ngoại từ thiết bị lẻ, một phần dây chuyền thiết bị đến thiết bị toàn bộ các dây chuyền chế biến cỡ nhỏ và vừa.

4. Máy công cụ.

Nghiên cứu thiết kế các mẫu máy mới hiện đại (PUC, CNC) và các thiết bị gia công đặc biệt. Đến 2010 thiết kế chế tạo được phần lớn các máy công cụ cỡ nhỏ và trung. Một mặt chế tạo các máy công cụ vạn năng truyền thống nhưng theo hướng hiện đại hóa, các máy CNC, máy gia công đặc biệt. Ưu tiên chương trình cải tạo, hiện đại dàn máy công cụ hiện có trong các cơ sở công nghiệp theo hướng CNC hóa.

$. Cơ khí xảy dung.

Đầu tư chiều sâu, đầu tư mới các cơ sở chế tạo máy xây dựng với trang thiết bị và công nghệ hiện đại nhằm chế tạo sản phẩm máy xây dựng có sức cạnh tranh cao về chất lượng và giá cả. Đáp ứng cơ bản nhu cầu của các lĩnh vực vật liệu xây dựng, thi công xây lấp, xây dựng đô thị, nông thôn, tiến tới xuất khẩu các sản phẩm sang các nước khu vực và trên thế giới.

6. Cơ khí đóng tàu thủy.

Phát triển công nghiệp tàu thuỷ thành một chuyên ngành kinh tế kỹ thuật đồng bộ từ đào tạo, nghiên cứu, thiết kế đến sản xuất và hiện đại sẵn phẩm. Cần tập trung những cơ sở vật chất hiện có kết hợp với đầu tư chiều sâu và đầu tư mới về công nghệ thông qua các dự án sản phẩm, trước mắt chế tạo từng bộ phận rồi tiến tới chế tạo các cụm tổng thành máy và trang thiết bị trên tàu, lắp ráp được động cơ Điezel cỡ lớn với ty lệ NĐH tăng dân. Phấn đấu đến năm 2010 nâng tỷ lệ giá trị phần chế tạo sản xuất trong nước các phụ tùng và linh kiện đạt 60+70%% toàn giá trị con tàu.

7. Thiết bị điện.

Xây dựng ngành thiết bị điện hiện đại, đến năm 2020 Việt Nam đạt trình độ tiên tiến về chế tạo thiết bị điện và vật liệu điện. Đầu tư chiều sâu thiết bị với công nghệ tiên tiến nâng cao năng lực chế tạo thiết bị điện, thay thế dần các thiết bị nhập

khẩu, nâng cao năng lực thiết kế và làm chủ được công nghệ chế tạo các sản phẩm thiết bị điện hiện vẫn phải nhập khẩu.

8. Ô tô - Xe máy - Toa xe.

Đầu tư tập trung có trọng điểm thiết bị và công nghệ hiện đại, tránh đầu tư phân tán, không nhập công nghệ lạc hậu, để đi tắt đón đầu cần tiếp cận công nghệ hiện đại, tăng dần tỷ lệ NĐH thông qua việc khuyến khích sản xuất chỉ tiết, phụ tùng, bộ phận, xe nguyên chiếc hoặc toa xe, lấy bảo đảm chất lượng và yêu cầu kỹ thuật là mục tiêu hàng đầu của ngành.

Hiện nay trình độ khoa học và công nghệ của ngành chế tạo máy Việt Nam có một khoảng cách khá xa so với các nước tiên tiến. Nâng cao trình độ khoa học - công nghệ cho ngành chế tạo máy nhằm thu hẹp khoảng cách trên, tạo năng lực mới cho lĩnh vực công nghiệp đặc biệt quan trọng này vừa là mục tiêu, vừa là đòi hỏi cấp bách của đất nước trên con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa, nhất là tiến trình hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới đang đến gần.

Đổi mới khoa học và công nghệ chính là đầu tư cho phát triển, đây là một yếu tỡ cực kỳ cần thiết để nâng cao năng lực cho ngành, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm chế tạo máy Việt Nam. Đây cũng chính là một trong các biện pháp cơ bản để triển khai thực hiện có hiệu quả chiến lược phát triển ngành Cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020 đã được Chính phủ phê duyệt.

3. Về chương trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ chế tạo máy giai đoạn 2001+2005.

Mở đầu kế hoạch khoa học công nghệ 5 năm 2001+2005, ngày 24/05/2001, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã ký quyết định số 82/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt phương hướng, mục tiêu nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ chủ yếu và danh mục các Chương trình Khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 5 nam 2001+2005.

Ngày L] tháng 6 năm 2001, Bộ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) đã ký các Quyết định phê duyệt mục tiêu, nội dung 10 Chương trình Khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2001+2005, trong đó có Chương trình Nghiên cứu Khoa học và phát triển Công nghệ Chế tạo máy mang mã số KC.05.

Mục tiêu và nội dung chủ yếu của Chương trình KC.05, trong Quyết định số 20/200 1/QD-BKHCNMT Ia:

- Xây dựng tiềm lực Khoa học và Công nghệ làm cơ sở cho việc tiếp nhận thích nghi, làm chủ, cải tiến và phát triển Công nghệ Cơ khí Chế tạo máy.

- Nắm vững, áp dụng vào sản xuất và nâng cao các công nghệ cơ bản tiên tiến trong lĩnh vực chế tạo máy.

- Chế tạo được những máy móc, thiết bị dây chuyền công nghệ, phụ tùng thay thế thích hợp với điều kiện Việt Nam trong các lĩnh vực: Công nghiệp chế biến và sản xuất nông lâm hải sản, sản xuất hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng, dệt may, y tế, giao thông vận tải, xây dung, quốc phòng, môi trường, đo kiểm, máy công cụ CNC.

Nội dung chủ yếu của chương trình:

- Nghiên cứu nắm vững, làm chủ và nâng cao các công nghệ cơ bản tiên tiến như: công nghệ tạo phôi, công nghệ gia công cơ khí, công nghệ xử lý bề mặt, công nghệ lắp rấp bằng những công nghệ cao để áp dụng vào chế tạo máy, thiết bị, day chuyền công nghệ, phụ tùng thay thế.

- Nghiên cứu áp dụng các thành quả của tin học, vật liệu mới, phóng sinh học, tự động hóa,... vào lĩnh vực chế tạo máy,

- Nghiên cứu thiết kế chế tạo máy móc, thiết bị, phụ tùng thay thế thuộc các lĩnh vực: công nghiệp chế biến và sản xuất nông lâm hải sản, sản xuất hàng tiêu dùng, sản xuất vật liệu xây dựng, đệt may, y tế, giao thông vận tải, xây dựng, quốc phòng, môi trường, đo kiểm, máy công cụ CNC.

- Nghiên cứu các vấn đề khoa học và công nghệ trong lĩnh vực chế tạo, phục hồi, sửa chữa các máy móc, thiết bị, phụ tùng thay thế và chẩn đoán tình trạng kỹ thuật của máy móc, thiết bị và hệ thống.

- Nghiên cứu các vấn đề về kinh tế - kỹ thuật trong chế tạo máy theo hướng chuyên môn hóa và hop tác hóa cao.

Từ mục tiêu và nội dung chủ yếu nêu trên, trong quá trình thực hiện với những đòi hỏi bức xúc của thực tế sản xuất, với tư duy đổi mới, Bộ Khoa học và Công nghệ đã cho phép Chương trình hàng năm tuyển chọn thêm các Đề tài, Dự án mới. Tính đến nay Chương trình đang triển khai 24 Đề tài nghiên cứu và 6 Dự án sản xuất thử nghiệm, thụ hút nhiều trường Đại học, hàng chục Viện nghiên cứu, hàng chục Cơ sở sản xuất từ Bắc đến Nam chủ trì hoặc tham gia phối hợp nghiên cứu thử nghiệm. Các Đề tài, Dự án này bao quát hầu hết các nội dung Khoa học Công nghệ của chế tạo máy: từ nghiên cứu ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong chế tạo máy đến thiết kế, chế tạo các mẫu máy móc, thiết bị, phụ tùng, dây chuyền công nghệ thuộc nhiều lĩnh vực sản xuất và đời sống thay thế cho hàng nhập khẩu, hướng tới xuất khẩu.

Nhiều đề tài đã có sản phẩm đưa vào ứng dụng trong sản xuất hoặc có sản phẩm thay thế nhập ngoại, như các Đề tài:

KC.05.01 "Nghiên cứu công nghệ tạo mẫu nhanh để gia công các chỉ tiết có bề mặt phức tạp", KC.05.02 "Nghiên cứu thiết kế chế tạo động cơ Diezel loại từ ¡ đến 3 xi lanh công suất từ 30HP đến 45HP và nghiên cứu sản xuất phụ tùng cho động cơ Diezcl công suất từ 400HP đến 600HP”, KC.05.04 "Nghiên cứu công nghệ chế tạo và lắp ráp các linh kiện quang học của thiết bị nhìn đêm đựa trên nguyên lý khuyếch đại ánh sáng mờ", KC.05.05 "Nghiên cứu công nghệ đúc các chỉ tiết máy đặc biệt bằng gang cầu cường độ cao, gang hợp kim", KC.05.06 "Nghiên cứu thiết kế chế tạo hệ thống máy phay, tiện điều khiển số bằng máy tính (CNC) phục vụ cho đào tạo nghề cơ khí", KC.05.07 "Nghiên cứu thiết kế và công nghệ để chế tạo thiết bị đóng cọc nhiều hướng trên xà lan 2000 tấn phục vụ thi công công trình thủy", KC.05.I1

"Nghiên cứu ứng dụng hệ thống tính toán song song hiệu năng cao để lập trình gia công bề mặt khuôn mẫu trên máy công cụ CNC", KC.05.13 "Nghiên cứu qui trình công nghệ kiểm soát đánh giá trạng thái kỹ thuật của máy móc, thiết bị bằng phương pháp phân tích đao động, nhiệt độ và đầu bôi trơn", KC.05.16 "Nghiên cứu thiết kế chế tạo các khuôn dập vỏ ô tô”, KC.05.17 "Nghiên cứu thiết kế chế tạo máy ép thuỷ

lực 400 tấn có điều khiển Logic theo chương trình (PLC)".

Các Dự án sản xuất thử nghiệm sau đây đã cho những sản phẩm đầu tiên phục

VỤ sản Xuât:

Dự án KC.05.DA.0I "Chế tạo dây chuyền chế biến thức ăn gia súc đến 3tấn/giờ có điều khiển tự động", Dự án KC.05.DA.02 "Hoàn thiện công nghệ chế tạo hộp giảm tốc cỡ lớn”,

Có những Đề tài đã cho thấy hiệu quả khoa học và hiệu quả kinh tế tương đối ro nét nhu Dé tai KC.05.01, KC.05.02, KC.05.04, KC.05.05, KC.05.06, KC.05.07, K€.05.L1, KŒ.05.13, KC.05.16, v.v...

Một phần của tài liệu Nghiên cứu xây dựng định hướng công nghệ cơ khí chế tạo Việt Nam từ nay đến năm 2010 (Trang 196 - 233)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(233 trang)