I. HIỆN TRẠNG CÔNG NGHỆ NGÀNH CƠ KHÍ CHẾ TẠO HAI PHONG.
1. Ngành đóng mới và sửa chữa tàu thuyền.
Hiện nay công nghệ đóng tàu của Thành phố Hải Phòng đã được đổi mới về cơ bản. Tổng Công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam đã hỗ trợ các nhà máy, Công ty vay hàng trăm tỷ đồng từ nguồn vốn vay ưu đãi của Nhà nước, đầu tư mua sắm các trang thiết bị hiện đại như máy đồ hoa vi tính, máy hàn tự động, cất tôn kỹ thuật số CNC; cai tién va dau tu cong nghệ làm sạch, công nghệ phun sơn, công nghệ hạ thuỷ;
dùng thiết bị siêu âm để kiểm tra sản phẩm..., Ngoài ra một số doanh nghiệp còn chủ động số hoá một số máy công cụ như nhà máy đóng tàu Bạch Đằng, nhà máy đóng tàu sông Cấm... Các đơn vị đóng tàu Bạch Đằng, Sông Cấm cồn lắp ráp cần cẩu có sức nặng 80 tấn, 30 tấn để cẩu máy móc, cầu kiện tổng đoan, giúp việc xuống nước an
toàn các con tàu lớn. Một loạt phân xưởng vỏ mới rộng hàng nghìn m” được khởi công xây dựng ở nhiều Nhà máy, Công ty. Công tác quản lý chất lượng, quản lý lao động được nâng lên rõ rệt. Sau khi Nhà máy sửa chữa tàu biển Phả Rừng được cấp chứng chỉ ISO 2002; 2000 cho hệ thống quản lý chất lượng, các Nhà máy đóng tàu Bến Kiên, Bạch Đằng cũng triển khai xây dựng áp dụng các tiêu chuẩn ISO vào hệ thống sản xuất, quản lý, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm của mình.
Mấy năm gần đây, ngành công nghiệp tàu thuỷ Hải Phòng thực hiện chương trình đóng tàu biển cỡ lớn, các cơ sở đóng tàu đầu tư lớn nâng cấp cơ sở hạ tầng, đổi mới thiết bị. Ngành đóng tàu đã chủ động đa dạng hoá các loại hình đào tạo để có một đội ngũ kỹ sư, công nhân kỹ thuật lành nghề đủ sức tiếp cận, tiếp nhận và chuyển giao công nghệ đóng tàu hiện đại. Nhờ đó, ngành hồi sinh vào có những bước đi vững chắc trên con đường CNH & HĐH. Trình độ năng lực đóng mới và sửa chữa tàu biển của các cơ sở đóng tàu Hải Phòng vươn tới tầm cao mới theo hướng tập trung quy mô lớn và chuyên môn hoá. Nhiều tàu biển có trọng tải 6.500 tấn đến 11.500 tấn được hoàn thành đóng mới chỉ trong 7 + 8 tháng (trước đây là hơn 1 năm), ụ nổi 6000 tấn, đóng mới và xuất khẩu sang Irắc tàu "hút xén thổi" công xuất 1000m”/giờ, tàu "hút xén thổi" công suất 1500m/giờ, đóng mới tàu dẫn luồng cho lrắc và tàu kéo công suất
1000 CV/chiếc, xà lan biển 2500 tấn xuất khẩu sang Xin-ga-po.
Tuy có nhiều cố gắng đầu tư đổi mới công nghệ nhưng nhìn chung công nghệ vẫn rất lạc hậu so với thế giới, thực sự chưa có trình độ công nghệ hiện đại, một phần đo thiếu vốn đầu tư nên chậm đổi mới, chưa khai thác được tiểm năng có tính truyền thống của Hải Phòng về cơ sở vật chất và con người phục vụ cho đóng và sửa chữa tàu biển.
2. Ngành Cơ khí chế tạo.
Công nghệ chế tạo Cơ khí Hải Phòng trong vài năm gần đây đã có nhiều đổi mới, nhất là trong các doanh nghiệp sản xuất lắp ráp xe máy.
Các doanh nghiệp đã đầu tư ở mức cao so với phạm vi cả nước, nhiều đơn vị đã có thiết bị sản xuất tự động, bán tự động ở những khâu và chỉ tiết quan trọng như:
Công ty TNHH Hoàng Huy, Công ty TNHH Thuỷ Hải, Công ty cổ phần Thương mại dịch vụ và Kho vận Hải Phòng, Công ty Dịch vụ Thương mại và xuất nhập khẩu Hải Phòng.
Nhiều đơn vị đã mua sắm các thiết bị công nghệ phục vụ chế tạo các loại chỉ tiết nhôm (đầu xy lanh; xy lanh; nắp phải, trái; lốc máy phải, trái; mang cá; moay ơ...) Ở các thiết bị hiện đại như: Hệ thống đúc nhôm áp lực cao bằng khuôn kim loại, đúc bằng khuôn mẫu nóng chảy, dây chuyền sơn fĩnh điện đồng bộ, dây chuyền sản xuất khung và đây chuyên lắp ráp, thiết bị gia công, máy kiểm tra độ kín... về năng lực công nghệ, với các hệ thống thiết bị này cho phép các công ty sản xuất lắp ráp xe gắn máy và động cơ xe hai bánh gắn máy.
- Hầu hết các doanh nghiệp đã có hệ thống kiểm tra các chỉ tiêu chất lượng tổng
hợp của xe máy, động cơ, khung xe máy... Tuy nhiên chưa có các phần mềm tự động
kiểm tra và lưu giữ số liệu trong quá trình kiểm tra.
- Do được đầu tư máy móc, thiết bị, nhà xưởng nên hầu hết các doanh nghiệp đã đạt được tỷ lệ NDH cao trên 30%, trong đó phần doanh nghiệp tự sản xuất cũng được nâng lên đáng kể, đã chú trọng đầu tư vào sản xuất các chỉ tiết thuộc ba nhóm: Động cơ, khung xe và bộ phận truyền động.
Tuy nhiên, sản xuất chủ yếu vẫn dựa trên những thiết bị hiện có và phần lớn là thiết bị vạn năng nên hạn chế chất lượng và tính ổn định chất lượng khi đi vào sản xuất hàng loạt. Công nghệ cơ khí chế tạo và cơ khí tiêu dùng đều là công nghệ cũ, lạc hậu với nên chung là cơ khí sửa chữa nhiều hơn là chế tạo. Phần cơ khí tiêu dùng có được đổi mới, nhưng nhìn chung còn rất nghèo nàn, trình độ kỹ thuật, hàm lượng công nghệ trong sản phẩm thấp.
Sản phẩm chậm đổi mới, mới có một số sản phẩm trang bị cho mô hình cơ khí nhỏ (máy công cụ mini - cơ khí chế tạo); có sản phẩm đã đạt trình độ trung bình của thế giới (sản phẩm cân) nhưng tốc độ và khối lượng sản xuất nhỏ bé. Chưa có sản phẩm nào là sản phẩm mũi nhọn của thành phố.
Trình độ công nghệ: Đã có một số thiết bị được số hoá nhưng chưa nhiều, nhìn chung lạc hậu với thế giới. Khả năng nghiên cứu ứng dụng phục vụ cho nông nghiệp, cho chế biến, các sản phẩm cơ khí cho các ngành này quá nghèo nàn, yếu kém.
HỊ. Định hướng công nghệ cơ khí chế tạo hai phòng đến năm 2010.
Định hướng chung.
Trong công cuộc Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá, thành phố đã xác định rõ nhiệm vụ của ngành công nghiệp trên địa bàn: Phải "phát huy lợi thế của thành phố Cảng công nghiệp có đội ngũ công nhân truyền thống để đẩy mạnh quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa, bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội cao, hiệu quả và bên vững... Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước, huy động sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế, từng bước đẩy mạnh đầu tư đổi mới thiết bị công
nghệ, hình thành các doanh nghiệp công nghiệp hiện đại, tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, quy mô lớn, đủ sức cạnh tranh và đáp ứng yêu cầu của thị trường trong và
ngoài nước. Phát triển mạnh các ngành công nghiệp Hải Phòng có lợi thế, tranh thủ
công nghệ, kỹ thuật cao của các doanh nghiệp liên doanh; tạo điều kiện phát triển 86
công nghiệp nông thôn, các khu, cụm công nghiệp, tạo bước ngoặt phát triển công nghiệp và giải quyết được nhiều việc làm cho người lao động”.
Công nghiệp Hải phòng với cơ cấu vừa có công nghiệp trung ương, công nghiệp địa phương, liên doanh nước ngoài và công nghiệp ngoài quốc doanh.
Để đảm bảo phát triển theo cơ cấu bên vững, ngành công nghiệp thành phố phải
"hiện đại hoá kỹ thuật, công nghệ, hoàn thiện các cụm công nghiệp đã có và xây dựng mới các cụm công nghiệp, các khu công nghiệp kỹ thuật cao, các khu chế xuất là hai nhiệm vụ chủ đạo. Nhằm điều chỉnh và đổi mới cơ cấu công nghiệp theo hướng tăng nhanh công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng xuất khẩu, công nghiệp gia công, chế biến tái xuất. Phát triển các sản phẩm công nghiệp ưu thế của thành phố.
Đổi mới cơ chế quản lý, tạo ra điều kiện cho việc đổi mới công nghệ, đổi mới công nghệ tạo ra động lực cho việc phát triển sản xuất công nghiệp, phải bảo đảm phát huy tối đa sự năng động sáng tạo của từng doanh nghiệp, từng người lao động, từng nhóm ngành để ứng dụng nhanh có hiệu quả công nghệ nhập, cải tiến tạo ra công nghệ mới, sản xuất được các mặt hàng mũi nhọn của kinh tế thành phố.
1. Định hướng công nghệ ngành đóng mới và sửa chữa tàu thuyền:
1.1. Quan điểm mục tiêu đổi mới:
Đóng tàu, sửa chữa tàu là một nhóm sản phẩm được thành phố xác định là sản phẩm mũi nhọn. Đây là nhóm sản phẩm có bề dày truyền thống về thời gian và kỹ thuật của thành phố, lại là sản phẩm phát huy lợi thế Cảng biển của địa phương. Trong 5 năm (1998 + 2002), tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành đóng tàu Hải Phòng đạt 36,5%/năm. Đặc biệt trong hai năm 2001 - 2002, tốc độ tăng trưởng đạt hơn 60%/nam.
Vì vậy hướng đầu tư đổi mới công nghệ phải được tiến hành ngay theo 2 nhóm:
Nhóm đóng mới và Nhóm sửa chữa.
- Về đóng mới: Nâng cấp các cơ sở đóng tàu hiện có, từng bước đầu tư đổi mới trang thiết bị, công nghệ, nhất là những công nghệ cơ bản có tính chất quyết định đến năng suất, chất lượng sản phẩm. Từ nay đến 2005 tập trung cho việc đóng mới tàu 6.500 tấn, đóng mới tàu 11.500 tấn, Ngành đang triển khai đóng tàu chở dầu 13.500 tấn, các tổng đoạn cho tàu chở dầu 100.000 tấn. Từ 2005 đến 2010 đóng mới tàu đến 2 vạn tấn và các tàu hàng, tàu cao tốc, tàu đánh cá xa bờ... Xây đựng mới hoặc nâng cấp các nhà máy đóng mới và sửa chữa tàu thủy trên địa bàn Hải Phòng trở thành một trung tâm đóng mới các loại tàu biển 20.000 tấn và sản xuất các thiết bị, linh kiện phục vụ cho việc đóng và sửa chữa tàu.
- Về sửa chữa: Nâng cáp cơ sở vật chất và nâng cao trình độ công nghệ sửa chữa để đáp ứng nhu cầu sửa chữa ngày càng tăng của đội tàu biển quốc gia và quốc tế.
Đến năm 2005 có thể sửa chữa được tàu 40.000 tấn và tàu 60.000 tấn vào năm 2010.
1.2. Danh mục công nghệ cần đổi mới:
Tuy là một ngành truyền thống của thành phố, nhưng thiết bị đóng mới phần lớn được đầu tư cách đây 30 năm, vì vậy dù có công nghệ mới nhưng khả năng ứng dụng còn rất hạn chế. Song với sự đòi hỏi ngày càng cao của công nghệ đóng tàu, chúng ta
buộc phải đổi mới và đầu tư những công nghệ cơ bản sau:
Cần nhanh chóng đầu tư và ứng đụng công nghệ CAD trong công việc thiết kế,
chế tạo. Đổi mới công nghệ phóng dạng và hạ liệu, ứng dụng công nghệ CAM tiên
tiến của thế giới, ấp dụng kỹ thuật số trong hạ liệu với các máy cắt Plasma - Kỹ thuật NC.
Đối mới công nghệ làm sạch kim loại (thép tấm) bằng công nghệ phun bi va công nghệ sơn phủ hoặc có thể làm sạch bằng nước - áp lực cao và có sơn tốt.
Ứng dụng công nghệ hàn tự động (bằng khí CO; với tàu vỏ thép, khí acgông với tàu vỗ hợp kim nhôm). Nâng cao trình độ chế tạo vỏ tàu bằng hợp kim nhôm Panel hoặc vật liệu mới....
1.3. Hình thức bước đi của quá trình đổi mới:
Hướng tới mục tiêu đóng tàu trọng tải lớn hơn nữa, Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (VINASHIN) có kế hoạch đầu tư 9 thành viên của mình ở Hải Phòng giai đoạn 2001 - 2010 với tổng số vốn 3.825 tỷ đồng. Trong đó, giai đoạn 2001 - 2005 được đầu tư 2.755 tỷ đồng. Nhà máy đóng tàu Bạch Đằng được đầu tư 550 tỷ đồng, Nhà máy sửa chữa tàu biển Phả Rừng 600 tỷ đồng, Công ty công nghiệp tàu thủy Nam Triệu 450 tỷ đồng, Nhà máy đóng tàu Sông Cấm 330 tỷ đồng, Cụm công nghiệp tàu thủy An Hồng 500 tỷ đồng.
Do đặc điểm và điều kiện thực tế về năng lực sản xuất và khả năng tài chính của các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp đóng và sửa chữa tàu thuỷ trên địa bàn, hình thức đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ nên lựa chọn 2 hình thức sau:
- Đối với những doanh nghiệp có khả năng huy động vốn tốt, thị trường ổn định thì đầu tư trọn gói toàn bộ dây chuyên công nghệ hiện đại, đồng bộ từ khâu tổ chức
đến khâu kiểm định sản phẩm cuối cùng và xử lý môi trường.
- Đối với những doanh nghiệp còn nhiều khó khăn cả về vốn và thị trường thì đầu tư từng phần, từng công đoạn công nghệ để bổ sung cho hoàn chỉnh dây chuyền.
Song dù đầu tư từng phần cũng phải là thiết bị, công nghệ tiên tiến, kiên quyết không vì tính phù hợp với dây chuyền thiết bị cũ mà đầu tư công nghệ lạc hậu.
Việc chuyển giao công nghệ có thể lựa chọn hình thức liên doanh, liên kết;
hoặc đầu tư dây chuyển trả chậm. Song qua tổng kết trong quá trình đổi mới vừa qua hình thức liên doanh, liên kết mang lại hiệu quả nhanh hơn.
2. Ngành Cơ khí chế tạo.
2.1. Quan điểm mục tiêu đổi mới:
Cơ khí là ngành sản xuất công nghiệp quan trọng ảnh hưởng đến sự thành công
của chiến lược Công nghiệp hoá và Hiện đại hoá. Có thể khẳng định: ngành cơ khí là
một ngành có tính chất cơ sở hạ tầng của các ngành công nghiệp khác. Nhưng hiện nay, máy móc thiết bị của các doanh nghiệp cơ khí Hải Phòng hầu hết là các thiết bị lẻ, không đồng bộ, không có chuyển giao công nghệ, phân lớn đã hết khấu hao. Khắc phục tình trạng đó không thể nhanh chóng được, càng không thể chỉ bắt ngành cơ khí đi tìm và phát huy nội lực của mình, mặc dù ngành cơ khí ở Hải Phòng đã có bề dày thời gian tồn tại.
Để ngành cơ khí chế tạo tổn tại và phát triển phải đổi mới cả công nghệ và thiết
bị, nhất là đầu tư những công nghệ thiết bị hiện đại, trên cơ sở lựa chọn công nghệ phù hợp với phương án sản phẩm đã xác định. Cần nhanh chóng đi thẳng vào những khâu công nghệ cần thiết quyết định chất lượng sản phẩm. Nhập công nghệ, thiết bị
để đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ trong sản xuất của ngành. Trên cơ sở công nghệ nhập, cần phải nhanh chóng nắm vững, làm chủ và cải tiến tạo ra công nghệ
mới, sản phẩm mới phục vụ mục tiêu sản xuất các sản phẩm thay thế nhập khẩu và hướng tới xuất khẩu.
2.2. Danh mục công nghệ cần đổi mới:
Có thể nói ngành cơ khí hiện nay rất nhiều công nghệ phải nâng cấp hoặc phải được chuyển giao công nghệ mới đảm bảo tính tiên tiến.
- Công nghệ tạo phôi (cần chú ý đặc biệt đến phôi đúc).
- Công nghệ lấy dấu, định vị.
- Công nghệ gia công cơ khí: cắt gọt, gia công bánh răng, hàn...
- Công nghệ nhiệt luyện.
- Công nghệ xử lý bề mặt.
- Công nghệ lắp ráp sản phẩm.
- Công nghệ kiểm tra.
2.3. Hình thức bước đi của quá trình đổi mới.
Sau khi đổi mới tổ chức quản lý toàn ngành cơ khí trên địa bàn, từ 2000 đến
2005 tập trung đầu tư nhóm cơ khí sửa chữa và cơ khí tiêu dùng.
Từ 2003 lập phương án đầu tư đổi mới nhóm cơ khí chế tạo máy móc thiết bị đến 2010.
Trong thời gian này ngành vừa tiến hành sắp xếp phân công lại theo 3 nhóm: cơ khí chế tạo, cơ khí sửa chữa, cơ khí tiêu dùng; vừa tiến hành đầu tư đổi mới công nghệ để chế tạo những thiết bị phục vụ ngành may, ngành giày đép, giao thông vận tải và các thiết bị khác để chào hàng, dần chiếm lĩnh thị trường.
Bước đi cụ thể có thể linh hoạt hoặc tuần tự từng nhóm hoặc đồng thời cả 3
nhóm phụ thuộc vào khả năng vốn. Song các bước đổi mới phải được giải quyết đứt điểm theo tuần tự:
- Trước hết đổi mới và cải tạo hoàn toàn công nghệ đúc.
- Sau đó đến cải tạo, nâng cấp, đổi mới công nghệ gia công áp lực, công nghệ lấy dấu, gia công kim loại, nhiệt luyện... đến kiểm tra sản phẩm theo hệ thống quản lý chất lượng ISO-9000.
3. QUY HOẠCH PHÁT TRIEN