Ngành đóng mới và sửa chữa tàu biển

Một phần của tài liệu Nghiên cứu xây dựng định hướng công nghệ cơ khí chế tạo Việt Nam từ nay đến năm 2010 (Trang 96 - 99)

VÀ CÁC SAN PHAM MŨI NHỌN CỦA HẢI PHÒNG ĐẾN

2. Ngành đóng mới và sửa chữa tàu biển

Ngành đóng mới và sửa chữa tàu biển nằm trong phân ngành sản xuất phương tiện vận tải (Mã số 35). Ở Hải Phòng ngành sản xuất phương tiện vận tải chiếm 3,3%

công nghiệp Hải Phòng thì công nghiệp tàu biển đã chiếm 2,5%. Tàu biển là sản phẩm cơ bản của đất nước trong kinh tế đối ngoại, trong chiến lược kinh tế biển. Hải Phòng lại có truyền thống về đóng tàu. Ngành đóng tàu biển Hải Phòng hiện chiếm 32% đóng tàu toàn quốc (nếu không kể các doanh nghiệp phụ trợ của ngành đóng tàu Việt Nam thì tỷ trọng ngành đóng tàu biển Hải Phòng chiếm trên 60% ngành đóng tàu toàn quốc). Vì những lẽ đó nên mặc dù mới chiếm tỷ trọng 3,2% công nghiệp Hải Phòng, đóng tàu biển Hải Phòng vẫn xác định là ngành công nghiệp chủ đạo, là sản phẩm mũi nhọn.

2.1. Nhu cầu thị trường tàu biển đến năm 2010.

Theo dự báo của Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam thì trong 10 năm sắp tới cơ cấu của đội tàu biển quốc gia như sau:

Loại tàu Số lượng tàu (chiếc) | Tổng trọng tải (1.000 tấn)

‘ 2000 | 2005 | 2010 | 2000 | 2005 | 2010

- Tau dau 65.000 tan 6 8 10 390 480 624

- Tau Container 20.000 tan 23 50 56 4600| 1.118} 1.150 - Tàu hàng rời 25.000 tấn 1ô 32 48 400 800| 1.200 - Tau hang bao 10.000 tấn 28 40 58 280 400 578 - Tàu ven biển 2.000 tấn 178| 285| 428 350 572 847 Tổng cộng 251| 415| 600| 1880| 3270| 4.399

Ở thời điểm này ngành công nghiệp đóng tàu Việt Nam mới đang thực hiện đóng con tàu 6.500 tấn tại Nhà máy đóng tàu Bạch Đằng và đang đóng con tàu trọng tải 11.500 tấn, mở đầu cho việc đáp ứng nhu cầu tàu biển trọng tải lớn. Theo dự báo đội tàu Việt Nam trong 5 năm tới 2001 + 2005 chỉ tính riêng nhu cầu của vận tải biển đã cần trên 70 con tàu có trọng tải từ 10.000 tấn trở lên. Đây chẳng những là cơ hội về thị trường cho 16 Nhà máy đóng và sửa chữa tàu biển trong Tổng Công ty Công

nghiệp tàu thuỷ Việt Nam (9 Nhà máy ở miền Bắc, 4 nhà máy ở miền Trung, 3 nhà

máy ở miền Nam) mà là cơ hội lớn cho 6 nhà máy đóng và sửa chữa tàu biển ở Hải Phòng, vì công nghiệp tàu biển ở Hải Phòng có nhiều ưu thế, ưu điểm hơn các nhà máy ở các tỉnh và vùng khác. Như vậy có thể nói thị trường tàu biển trong 10 năm nữa là không hạn chế.

2.2. Phương hướng phát triển.

2.2.1. Quan điểm.

- Hướng phát triển nhằm vào sản xuất và cung cấp những tàu có trọng tải lớn, tàu chuyên dùng với tiêu chuẩn của hàng bải quốc gia và tiêu chuẩn chuyên ngành quốc tế.

- Đầu tư thiết bị công nghệ hiện đại vào đúng các công trình, các dây chuyền, các khâu có tính đột phá, quyết định đến việc nâng cao năng lực chế tạo. Lấy nguồn lực trong nước là chính, đặc biệt là nguồn lực của Tổng Công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam, Bộ Giao thông vận tải và Bộ Công nghiệp. Tranh thủ nguồn vốn từ liên doanh với nước ngoài.

2.2.2. Mục tiêu phát triển:

a) Tốc độ phát triển.

Căn cứ quy hoạch phát triển của Tổng Công ty Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam đến năm 2010, xác định tốc độ tăng trưởng của ngành đóng mới khoảng 20% + 25%, ngành sửa chữa khoảng 18% (trong đó có sự tham gia của Liên doanh Huyndai - Vinashin), ngành công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu biển Hải Phòng chọn phương án tăng trưởng với tốc độ bình quân 25% cao hơn tốc độ tăng trưởng của phân ngành sản xuất phương tiện vận tải của Hải Phòng là 23%.

Đơn vị tính: tỷ đồng

Giá trị SXCN (GO) Tốc độ Pal trién Biq

2000 | Đến 2005 | Dén 2010 | 2005/2001 | 2010/2001

Céng nghiép Hai Phong 8.70 18.50 38.07 16 16

- Phan công SX phương

tiên vận tải 28 71 2.30 23 20

- Ngành đóng mới và sửa

chữa tàu biển Hải Phòng + số 200 25 22

b) Sản phẩm: Phấn đấu đạt được các loại sản phẩm sau đây:

* Giai doan 2001 +2005:

Khởi đầu giai đoạn là việc đóng con tàu 11.500 tấn, chuẩn bị các điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất kỹ thuật, tiến tới đóng được tàu 25.000 tấn vào năm 2005.

- Đóng mới vận tải ven biển tới 15.000 tấn.

- Đóng các loại tàu đặc chủng: tàu thăm đò, tàu du lịch, tàu đánh cá xa bờ công suất lớn, tàu quân sự, tàu tuần tra, sà lan tự hành...

- Sửa chữa tàu có trọng tải tới 40.000 tấn (2001: tới 25.000T).

* Giai đoạn 2006 +2010:

96

Đây là giai đoạn có nhiệm vụ nặng nề và có tính chất quyết định: tiếp tục đầu tư

để nâng cao sức cạnh tranh, triển khai rộng các sản phẩm trọng tải lớn, phấn đấu hội

nhập sản phẩm với các nước trong khu vực.

- Tiếp tục đóng mới tàu vận tải biển tới 30.000T và 50.000T, tàu chở dầu, tàu container.

- Đóng mới các loại tàu công trình như tàu cuốc, tàu khai thác dầu khí, tàu hút bùn.

- Xây dựng một nhà máy lắp ráp động cơ Diezen tàu thuỷ công suất 300+3000 CV, chế tạo đồng bộ các hộp số và hệ trục chân vịt biến bước.

2.3. Nhu cầu đầu tư:

Mấy năm gần đây, ngành công nghiệp tàu thủy Hải Phòng thực hiện chương trình đóng tàu biển cỡ lớn, các cơ sở đóng tàu đầu tư lớn nâng cấp cơ sở hạ tầng, đổi mới thiết bị, tay nghề, tiếp nhận và chuyển giao công nghệ, đóng tàu hiện đại. Nhờ đó, ngành hồi sinh và có những bước đi vững chắc trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trình độ năng lực đóng mới và sửa chữa tàu biển của các cơ sở đóng tàu Hải Phòng vươn tới tầm cao mới theo hướng tập trung quy mô lớn và chuyên môn hoá. Nhiều tàu biển có trọng tải 6.500 đến 11.500 tấn được hoàn thành đóng mới chỉ trong 7 + 8 tháng, trước đây hơn 1 nam. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất các doanh nghiệp đóng tàu đang phải đối mặt vẫn là vốn để nâng cao năng lực, trình độ, xây dựng cơ sở hạ tầng, mua vật tư, thiết bị, máy móc. Trong 5 năm (1998 + 2002), tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành đóng tàu Hải Phòng đạt 36,5%/năm. Ngành đang triển khai đóng tàu chở đầu 13.500 tấn, các tổng đoạn cho tàu chở dầu 100.000 tấn.

Hướng tới mục tiêu đóng tàu trọng tải lớn hơn nữa, Tổng Công ty Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam (VINASHIN) có kế hoạch đầu tư 9 thành viên của mình ở Hải phòng giai đoạn 2001 + 2010 với tổng số vốn 3.825 tỷ đồng, trong đó, giai đoạn 2001 + 2005 được đầu tư 2.755 tỷ đồng. Nhà máy đóng tàu Bạch Đằng được đầu tư 550 tỷ đồng, Nhà máy sửa chữa tàu biển Phà Rừng 600 tỷ đồng, Công ty công nghiệp tàu thuỷ Nam Triệu 450 tỷ đồng, Nhà máy đóng tàu Sông Cấm 330 tỷ đồng. Cụm công nghiệp tàu thuỷ An Hồng 500 tỷ đồng.

Tổng Công ty Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam đã có kế hoạch đầu tư cho các Nhà máy đóng và sửa chữa tàu Hải Phòng giai đoạn 2001 + 2010 như sau:

Đơn vị tính: Tỷ đồng

2001:2005 | 2006:2010 | 2001+2010

- Nhà máy Đóng tàu Bạch Đằng 550 - 550

- Nhà máy sửa chữa tàu thủy Phà Rừng 600 500 1.100

- Nhà máy đóng tàu Sông Cấm 330 - 330

- Nhà máy đóng tàu Bến Kién 130 - 130

- Nhà máy đóng tàu Nam Triệu 450 300 750

- Nhà máy đóng tàu Tam Bạc 30 - 30

- Cong ty công nghiệp và phá dỡ tàu cũ 140 - 140

- Cy phá dỡ tàu cũ và xuất khẩu phế 25 50 25

iéu

- ~ nha máy khí cụ tàu thuỷ lắp ráp 500 220 720

au Diezen

Tong dau tu 2.755 1.070 3.825

Một phần của tài liệu Nghiên cứu xây dựng định hướng công nghệ cơ khí chế tạo Việt Nam từ nay đến năm 2010 (Trang 96 - 99)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(233 trang)