NHÓM CÔNG NGHỆ NGOẠI VI
1. Đối mới về quản lý nhà nước về hoạt động nghiên cứu triển khai trong ngành
cơ khí
Thứ nhất, doi mới việc xác định và xây dựng nhiệm vụ KH&CN. Xây dựng các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học công nghệ phải đảm bảo sự gắn kết và có tác động trực tiếp đến sự phát triển của ngành. Hiện nay toàn bộ quy định xác định các nhiệm
vụ khoa học và công nghệ trong ngành cơ khí thực hiện theo Luật khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, đê nhanh chóng đáp ứng nhu cầu của xã hội và tiếp nhận được những công nghệ mới, giai đoạn này nên theo hướng chủ đạo là “Bắt chước công nghệ ”. Để đảm bảo được việc bắt chước công nghệ của các nước tiên tiến cần đòi hỏi đầu tư nghiên cứu nghiêm túc của các nhà khoa học, trong điêu kiện thực tê của Việt Nam để từng bước thiết kế và làm chủ công nghệ, chế tạo được những sản phẩm cơ khí có tính năng và chất lượng tương đương với hàng ngoại nhập. Nhat Ban va Han Quốc những năm 70 và Trung Quốc hiện nay là những quốc gia cũng đã bắt đầu với nên công nghiệp cơ khí theo con đường này và đã đạt được những kết quả rất tốt.
Việc này cho phép chúng ta rút ngắn quá trình phát triển và thực hiện việc đi tắt đón
đầu về công nghệ, khai thác những thành tựu công nghệ tiên tiến, tiết kiệm công sức,
tiên của một cách đáng kể. Coi hoạt động KHCN chế tạo máy là một trong những hướng ưu tiên của hoạt động KHCN trong giai đoạn CNH, HĐH đất nước mà nhiệm vụ cơ bản của nó từ nay đến 2010 là tiếp nhận, chuyển giao và phát triển công nghệ cao trong lĩnh vực chế tạo máy. Theo hướng này ngoài việc cấp kinh phí hoặc hỗ trợ kinh phí cho các đẻ tài, dự án KHCN Nhà nước nên có chính sách hỗ trợ vốn cho các trường đại học, các viện nghiên cứu và các doanh nghiệp trong các dịch vụ kỹ thuật như thuê chuyên gia, mua thiết kế, mua công nghệ hoặc thuê tư vấn thiết kế, tư vấn công nghệ cao trong lĩnh vực chế tạo máy. Trên cơ sở đó các nhà khoa học trong nước 68
tập trung vào việc khai thác làm chủ và triển khai rộng rãi công nghệ mới phục vụ
chiến lược phát triển của ngành.
Đối với đề tài nghiên cứu triển khai cần phải coi dia chỉ ứng dụng là yếu tố
quyết định hàng đầu. Trong giai đoạn này, các nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng, cần
phải bám sát vào tám nhóm sản phẩm trọng điểm mà chiến lược ngành đã xác định đó
là: Thiết bị toàn bộ, Máy động lực, Cơ khí phục vụ nông lâm ngư nghiệp, Cơ khí xây dựng, Cơ khí đóng tàu, Thiết bị kỹ thuật điện-điện tử, Cơ khí ôtô và cơ khí giao thông.
Chỉ có trên cơ sở như vậy. các nhiệm vụ KHCN mới thiết thực gắn được vào sản xuất và phục vụ cho sản xuất và có định hướng phát triển một cách lâu dài.
Thứ hai, đỗi mới nội dụng: hoạt động của chương trình “Nghiên cứu khoa hoc va phat trién công nghệ chế tạo máy “. Bên cạnh chương trình có thời hạn 5 năm phục vụ cho nhu cầu phát triển trước mắt rất cần có các Chương trình nghiên cứu theo các hướng công nghệ ưu tiên phục vụ cho chiến lược dài mười, hai mươi năm hoặc xa hơn nữa. Xây dựng chương trình khoa học công nghệ cơ khí chế tạo máy theo mô hình gồm nhiều đề án KHCN có tầm cỡ giải quyết trọn gói một vấn đề lớn có mục tiêu cụ thể với tầm nhìn xa hơn phục vụ cho chiến lược phát triển ngành cơ khí của đất nước. Những đề án này bao gồm nhiều đề tài và dự án nhỏ. Những đề tài, dự án này chỉ nên thực hiện trong khoảng thời gian 12+24 tháng. Như vậy, các đề tài, dự án không bị kéo dài mà vẫn tập trung để giải quyết được những vấn đề lớn.
Xây dựng các chương trình nghiên cứu, ngoài việc tư vẫn của các nhà khoa học trong nước nên tham khảo một số các chuyên gia nước ngoài có kinh nghiệm. Làm như vậy chắc chắn chất lượng các nhiệm vụ nghiên cứu sẽ tốt hơn, có ích hơn cho thực tế sản xuất của ngành cơ khí. Các nhiệm vụ nghiên cứu không chỉ đơn thuần là chế tạo máy thông thường mà nên bao gồm các nhiệm vụ nghiên cứu về tin học, vật liệu, tự động hoá... phục vụ cho ngành cơ khí, bởi vì để phát triển mỗi chuyên ngành ngoài việc tự nâng cao trình độ công nghệ của mình. rất cần có sự gắn kết của các ngành khác tạo nên sự phát triển hoàn chỉnh phục vụ nền kinh tế.
Tình trạng tản mạn, vụn vặt của các nhiệm vụ nghiên cứu kể cả cấp bộ và cấp nhà nước hiện nay đã đến lúc cần phải xem xét nghiêm túc. Xoá bỏ gianh giới giữa nhiệm vụ cấp bộ và các nhà nước, tạo ra sự thống nhất liên tục có tính gắn kết trong ngành cơ khí chế tạo máy. Chỉ có như vậy các nhiệm vụ cấp Bộ mới tránh được sự vụn vặt và phát huy được tác dụng của tiền ngân sách. Do đặc thù của ngành cơ khí cần phải có sự liện hệ chặt chẽ hơn giữa chương trình cấp Bộ, cấp Nhà nước ở tại các Bộ khác nhau trong cả nước nhằm triệt để sử dụng tài chính, lực lượng và điều kiện cở vật chất trang bị hiện có của các Bộ, ngành.
Thứ ba, tiếp tục có những cải tiến đổi mới quản lý của các nhiệm vụ khoa học công nghệ. Hiện nay việc quản lý chưa thực chất, chưa có chiều sâu. Cần xây dựng cơ sở pháp lý gắn trách nhiệm các thành viên Ban chủ nhiệm các chương trình KH&CN với tư cách giúp Bộ KH&CN quản lý các chương trình nghiên cứu. Việc tổ chức Chương trình nghiên cứu khoa học và phát. triển công nghệ là cần thiết tuy nhiên cần xem lại theo các hướng: Thứ nhất, tăng quyên lực có tính pháp lý thực sự cho các Ban chủ nhiệm chương trình. Điều này là rất khó bởi vì các thành viên đều có nhiệm
vụ khác trong xã hội và chỉ làm việc kiêm nhiệm như vậy dù các thành viên trong ban chủ nhiệm khó có thể tập trung toàn tâm toàn ý cho việc của chương trình. Thứ hai, tổ chức chương trình một mục tiêu, theo các hướng nghiên cứu của ngành cơ khí và giao trực tiếp cho các viện nghiên cứu, trường Đại học, doanh nghiệp... có chức năng và thế mạnh đảm đương. Đây là hướng tổ chức thực tế và rễ thực hiện hơn cả trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, hiện nay một số nước tiên tiến cũng vẫn đang áp dụng theo hình thức tổ chức này. Thứ ba, Bộ KH&CN quản lý trực tiếp toàn bộ các chương trình nghiên cứu chỉ thông qua việc tư vấn các nhà khoa học chuyên ngành khi cần thiết. Tuy nhiên điều này có nhiều khó khăn trong điều kiện hiện tại do Bộ KH&CN chỉ thực hiện chứa năng quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ nhưng các doanh nghiệp nơi ứng dụng lại trực thuộc các Bộ ngành khác nhau.
Tổ chức quan lý quá trình thực hiện cũng cần có những thay đổi. Thực tế cho thấy việc tuyển chọn được làm công phu nhưng việc kiểm tra đôn đốc quá trình thực hiện (là một trong những chức năng rất quan trọng của quản lý) thì lại được thực hiện sơ sài và không được coi trọng đúng mức. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nay 1a do su phân công, phân nhiệm chưa thực sự rõ ràng. Các bên đều có thể đổ lỗi cho nhau khi nhiệm vụ không được như ý muốn. Đặc biệt các quy định quản lý của Bộ KH&CNchư thực sự chặt chẽ, đôi lúc việc xử lý thiếu kịp thời khi có yêu cầu. Từ đó cho thấy cần nhanh chóng thành lập các trung tâm đánh giá KH&CN độc lập đảm nhận việc đánh giá các kết quả nghiên cứu. Ban hành những quy định cụ thể đánh giá kết quả, cũng như quá trình thực hiện của các nhiệm vụ nghiên cứu để từ đó có thể loại trừ các nhiệm vụ KHCN không đạt yêu cầu ngay trong quá trình thực hiện. Điều này sẽ có tác dụng động viên các nhà khoa học làm việc nghiêm túc, đồng thời tránh lãng phí tiền của và công sức, thời gian và loại bỏ đối với các nhiệm vụ không khả thi. Ban hành những quy định cụ thể và rõ ràng về trách nhiệm đối với các Bộ chủ quản cũng như các cơ quan, đơn vị chủ trì các nhiệm vụ KHCN theo xu hướng phân quyền và trách nhiệm, bởi vì suy cho cùng đó chính là các đơn vị được thụ hưởng các kết quả nghiên cứu. Thành lập các Hội đồng KHCN chuyên ngành cơ khí thuộc các Bộ chuyên ngành với mục tiêu tư vấn toàn bộ quá trình từ đề xuất đến kiểm soát quá trình thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu. Đó chính là sự sàng lọc để tránh sự chồng chéo, lẫn lộn giữa nhiệm vụ KHCN cấp Bộ và Nhà nước trong cùng một lĩnh vực, đồng thời có sự tập trung trí tuệ trong việc đề xuất các nhiệm vụ đối với cấp Nhà nước.[24]
Thứ tư, đổi mới về quản lý tài chính đối với các nhiệm vụ nghiên cứu. Hiện nay việc quản lý việc chi tiêu cho các nhiệm vụ nghiên cứu KHCN thực hiện theo Lmật ngân sách. Tuy nhiên, hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ có những đặc thù riêng là hoạt động trí tuệ cao, rất cần phải có sự linh hoại nhằm phát huy tối đã khả năng sáng tạo của các nhà khoa học. Có thể khẳng định trong những năm gần đây Nhà nước, Bộ KHCN đã có rất nhiều đổi mới trong công tác tài chính phục vụ cho hoạt động KHCN. Nguôn chi ngân sách hàng năm, cơ chế theo hướng ngày càng thông thoáng hơn cho các chủ nhiệm đề tài và cơ quan chủ trì, đáp ứng tài chính cho các nhiệm vụ là tương đối thoả đáng Tuy vậy, chúng ta thừa nhận rằng tài chính vẫn là một vấn đề cần phải đổi mới theo hướng tránh gò bó. Thay vì việc giao nhiệm vụ, thẩm định kinh phí một cách cứng nhắc như hiện nay nên chăng từ thực tế nhiệm vụ nghiên cứu, Nhà nước ký hợp đồng với các cá nhân và tổ chức KHCN thực hiện. Trên cơ sở kết quả thực hiện tiến hành thực chỉ, thực thanh. Như vậy chắc chắn sẽ tăng
trách nhiệm của các cá nhân và tổ chức tham gia thực biện và tránh được hình thức không thực chất hiện nay là xét đuyệt đưa ra con số mang tính áp đặt không thực tế.
Trong việc xác định kinh phí cũng cần phải phân chia thật rõ sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân đối với từng loại hình nghiên cứu, ưu tiên các nhiệm vụ có sự đóng góp của các cơ sở ting dụng tham gia. Đây cũng là một trong các căn cứ giàng buộc và gắn nghiên cứu với sản xuất. Ban hành chế tài với các cá nhân và tổ chức vi phạm các quy định về tài chính thật rõ ràng thông qua hệ thống pháp luật hiện hành để tránh tình trạng sử dụng sai nguyên tắc tài chính hoặc chây ì, vô trách nhiệm trong việc thu hồi tiền ngân sách cho các dự án được vay hỗ trợ từ ngân sách.
Thứ năm, thiết lập cơ chế hỗ trợ các sản phẩm nghiên cứu khoa học và công nghệ ứng dụng vào sản xuất. Đây có lẽ là vấn đề bức xúc lâu nay. Có nhiều ý kiến trái ngược nhau trong vấn đề hiệu quả đầu tư vào nghiên cứu. Một thực tế mà chúng ta phải thừa nhận trong giai đoạn vừa qua là rất ít các kết quả nghiên cứu trở thành những sản phẩm có thương hiệu rõ ràng trong xã hội. Điều này có nhiều nguyên nhân song có một thực tế là nhiều kết quả nghiên cứu không có cơ hội trở thành những thương phẩm chỉ dừng lại trên giây là do thiếu cơ chế trợ giúp của Nhà nước trong giai đoạn chứng nước, mà điều này chỉ có Nhà nước hoặc doanh nghiệp mới có khả năng đầu tư kinh phí thực hiện. Trên thực tế, do nhiều các lý do các doanh nghiệp (nhất là doanh nghiệp được bao cấp như của Việt Nam) thường không mạo hiểm trong việc tiếp nhận những công nghệ mới, mà công nghệ đó lại do các nhà khoa học trong nước nghiên cứu. Do đó Nhà nước phải thật sự trở thành bà đỡ cho quá trình hoàn thiện kết quả nghiên cứu này. Phương thức “Lồng ấp công nghệ” đã được các nước công nghiệp phát triển trong cộng đồng Châu âu, các nước mới phát triển (NICSs) thực hiện. Kết quả là hàng trăm doanh nghiệp ở các nước trên thế giới đã được hình thành theo phương thức này. Hình thành cơ chế chính sách hỗ trợ các sản phẩm nghiên cứu theo kiểu những “Lồng ấp công nghệ” hay những “Công ty mới khởi nghiệp ” là hết sức cần thiết trong thời điểm hiện nay đối với Việt Nam. Có như vậy các kết quả nghiên cứu mới có cơ hội trở thành những sản phẩm có thương hiệu trong xã hội và từ đó xã hội cũng dễ dàng nhận thấy sự đóng góp của KHCN đối với nền kinh tế và xã hội. Rà soát lại toàn bộ các kết quả đã nghiên cứu trong thời gian vừa qua của chương trình nghiên cứu về KH&CN trong ngành chế tạo cơ khí để tiến hành thực hiện việc trợ giúp công nghệ theo hình thức trên, nhằm nhanh chóng phát triển các kết quả nghiên cứu.
Hàng năm Nhà nước cần có sự rà soát và đưa ra danh mục các thiết bị và công nghệ mà trong nước có khả năng làm chủ và kiên quyết cấm nhập khẩu các thiết bị công nghệ này. Có những cơ chế hỗ trợ xứng đáng khuyến khích các doanh nghiệp mạnh dạn sử dụng các sản phẩm nghiên cứu lần đầu như: chỉ định thầu, ưu tiên vay vốn ưu đãi đầu tư, giảm thuế...cố như vậy mới thúc đẩy được việc đưa các sản phẩm nghiên cứu ra ngoài cuộc sống.
2. Các giải pháp về tăng cường tiểm lực KHCN cho các cơ sở nghiên cứu ngành cơ khí chế tạo máy
Thư nhất, đổi mới hoạt động các tổ chức khoa học và công nghệ trong ngành
cơ khí chế tạo máy. Hiện nay số lượng các viện, trung tâm nghiên cứu ngành cơ khí
khá đa dạng, chủ yếu trực thuộc các Tổng Công ty Cơ khí, Lắp máy thuộc các Bộ như: Công nghiệp, Giao thông, NN&PTNT, Xây Dựng, Quốc phòng....Do nằm rải rác phân tán cho nên phần lớn năng lực các viện nghiên cứu là yếu thậm chí một số viện trực thuộc các Tổng Công ty không phát huy được khả năng ngay trong Tổng Công ty của mình. Việc phối hợp, trao đổi giữa các viện nghiên cứu lại rất kém, chủ yếu là việc ai người đó làm. Sau nhiều năm hoạt động bươn chải một số viện nghiên cứu bước đầu cũng đã xây dựng cho mình một hướng phát triển. Viện Máy và Dụng cụ Công nghiệp là một trong số cơ sở nghiên cứu điển hình đã thực hiện đa dạng hoá
hoạt động nghiên cứu bằng cách thành lập một số các doanh nghiệp trong Viện theo cơ chế mới, được Thủ tướng Chính Phủ cho phép là Viện và các công ty thành viên, theo mô hình Công ty Mẹ-Con. Tuy chưa có nhiều thời gian xong có thể thấy rằng với cơ chế này, các viện nghiên cứu sẽ có điều kiện hơn trong mở Tộng mọi hoạt động.
Cho đến thời điểm hiện nay IMI đã có được 04 Công ty thành viên sử dụng các kết quả nghiên cứu của Viện trong việc phát triển sản xuất và có doanh thu hàng trăm tỷ đồng /năm. Từ thực tế trên trước hết, theo chúng tôi cần có sự rà soát xem xét một cách nghiêm túc chức năng, tính chất của các viện nghiên cứu cơ khí hiện tại trong cả nước, để có thể sắp xếp lại cho hợp lý, để từ đó có những đầu tư thật xứng đáng nhằm tăng cường năng lực nghiên cứu của các Viện. Các viện nghiên cứu cơ khí hiện nay phải đảm bảo sự đồng bộ bao gồm cả các chuyên ngành như cơ khí, điện tử, vật liệu...mới có khả năng đáp ứng được nhu câu đòi hỏi của nên kinh tế. Cần tiếp tục mạnh đạn giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các viện nghiên cứu. Tình trạng chồng chéo nhiệm vụ của các cơ sở nghiên cứu trong ngành vẫn còn, thiếu sự hợp tác hoá và chuyên môn hoá. Nhiều chuyên ngành mới hiện chưa có viện nghiên cứu nào có khả năng đảm nhiệm. Rõ ràng đã đến lúc cần phải có những quy định rõ ràng hơn chức năng nhiệm vụ cho từng viện chuyên ngành cơ khí theo hướng chuyên môn hoá và hợp tác hoá trong việc nghiên cứu của ngành. Nhanh chóng lấy các Viện nghiên cứu làm cơ sở để hình thành những nhóm hỗ trợ công nghệ cho toàn bộ ngành cơ khí chế tạo máy trong cả nước vừa là tìm hướng giải quyết những công nghệ thực tại và vừa mang tính chất tư vấn quyết định đầu tư công nghệ mới cho các doanh nghiệp cơ khí trong cả nước kể cả quốc doanh lẫn địa phương. Xu thế phát triển và nhu cầu thị trường yêu cầu các viện nghiên cứu phải nhanh chóng đổi mới tư duy, ngay cả vấn đề xúc tiến các nhiệm vụ nghiên cứu của mình, phải nghiên cứu những vấn đề mà cấc doanh nghiệp cần chứ không thể chỉ làm ra thứ mà ta có thể làm.
Thứ hai, khuyến khích đầu tư nâng cao năng lực của các viện nghiên cứu để đáp ung nhu cau phat triển ngày một cao của ngành cơ khí. Phần lớn các trang thiết bị, cơ sở nghiên cứu khoa học công nghệ trong ngành cơ khí còn rất lạc hậu, ít có có điều kiện đổi mới. Với tốc độ phát triển nhanh của nên khoa học công nghệ thế giới, vòng đời mỗi công nghệ ngắn đi rất nhiều. Việc đổi mới trang bị sản xuất đã diễn ra nhanh hơn và do đó các cơ sở nghiên cứu phải có những thay đổi sớm hơn một bước trước sản xuất. Làm thế nào để có nguồn đầu tư trang bị công nghệ thí nghiệm, ngoài sự hỗ trợ từ phía ngân sách nhà nước?. Với cơ chế như hiện tại, các viện nghiên cứu không huy động được bất cứ nguồn tài chính nào khác ngoài ngân sách Nhà nước. Cần mạnh dạn có cơ chế thông thoáng hơn, cho phép các viện nghiên cứu có thể vận dụng tối đa những thế mạnh của mình để kêu gọi các doanh nghiệp tham gia cùng đầu tư cùng sở hữu các thành quả nghiên cứu. Các viện nghiên cứu cần được 72